tháng 4 2015

VLCĐ: Trên bàn thờ gia tiên của mỗi gia đình thường hay đặt một bài vị có ghi bốn chữ Cửu Huyền Thất Tổ. Vậy bốn chữ Cửu Huyền Thất Tổ này mang ý nghĩa gì trong văn hoá Việt Nam? bài viết sau đây của Hòa thượng Thích Giác Hoàng sẽ thích nghĩa cho chúng ta hiểu rõ được vấn đề này hơn

Ý nghĩa của bốn chữ “Cửu Huyền thất Tổ”

Câu hỏi của cư sĩ làm chúng tôi phải tra khảo lại các từ điển Phật học và Hán học, hơn thế nữa, chúng tôi còn nhờ Đại đức Thích Minh Nghị hiện đang du học tại Trung Hoa tra khảo giúp nơi các bộ từ điển lớn của Trung Hoa, nhưng cũng không thấy từ nguyên của bốn chữ này. Như chúng ta biết, phần lớn các thuật ngữ Hán Việt đều được người Việt tiếp thu thông qua các cuộc giao lưu văn hoá, tôn giáo Hán - Việt qua nhiều thời đại. Nhưng bốn chữ này, chúng tôi nghĩ là do các nhà sư Việt Nam sáng tạo, không hề chịu ảnh hưởng văn hoá của Phật giáo Trung Quốc hoặc Ấn Độ.
 
Không biết bốn chữ này được xuất hiện trong văn bản nào sớm nhất, nhưng theo chỗ chúng tôi biết, bốn chữ này xuất hiện trong tác phẩm Sự Lý Dung Thông viết bằng thể thơ song thất lục bát của Thiền sư Hương Hải (1728 - 1715) được Tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã dày công biên khảo và dịch lại, cho in chung trong Toàn Tập Minh Châu Hương Hải (Nhà xuất bản Tp.HCM, 2000). Phía sau cuốn sách có in toàn bộ tác phẩm và ngữ lục của Thiền sư bằng chữ Hán. Tác phẩm Sự Lý Dung Thông (trang 416) cũng nằm trong phần phụ lục này, có đề cập đến bốn chữ này trong hai câu thơ:

"Thích độ nhân miễn tam đồ khổ
Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương"

(Ðại ý là giáo lý đức Phật Thích Ca hoá độ chúng sinh để thoát khỏi ba đường khổ: địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, và có khả năng cứu thoát cửu huyền và thất tổ được siêu thăng).

Có lẽ vì câu trên quá cô đọng nên bản Việt ngữ của Tiến sĩ Lê Mạnh Thát (trang 392), vẫn giữ nguyên như vậy, và phần dưới có chú thích ngắn gọn về bốn chữ "cửu huyền thất tổ" như sau:

"Cửu huyền: Chín đời: Cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu, chắt, chít. Thất tổ: Bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ"

Mặc dầu trong các từ điển, chúng tôi không thấy có chữ "huyền" nào có nghĩa là "đời" cả, nhưng qua quá trình Việt Hoá, chữ này được hiểu như là "đời", và có lẽ nên dịch là "thế hệ" thì chính xác hơn.

Chín thế hệ trên, nếu phiên âm bằng chữ Hán thì được viết như sau: Cao - Tằng - Tổ - Khảo - Kỷ - Tử - Tôn - Tằng - Huyền. Như vậy, nếu lấy thế hệ mình làm chính thì tính ngược lên bốn đời và tính xuống bốn đời thành ra chín đời.

Một vị Hoà thượng mà người viết có duyên học hỏi đã giải thích rằng, sở dĩ gọi chữ "Huyền" ở đây vì chữ "Huyền" trong "cửu huyền" này vốn có nghĩa là "đen", vô lượng kiếp chúng sanh luân hồi sống chết, khi thân xác này rã rời, phân ly, trả về cho tứ đại, những chất tinh tuỷ xương máu và thịt tan rã, huỷ hoại đều biến thành màu đen nên gọi là "huyền". Bởi chín thế hệ vần xoay, sống chết như vậy nên gọi là "cửu huyền".

Thất Tổ: Là bảy ông tổ. Tổ là ông nội của đời mình; đi ngược lên sáu đời nữa gọi là thất tổ.

Như vậy, chữ "cửu huyền" bao quát hơn chữ "thất tổ". Vì "thất tổ" chỉ cho các thế hệ đi trước, còn "cửu huyền" không những chỉ cho bốn thế hệ trước mà còn nhắc đến bốn thế hệ sau nữa. Chính vì vậy, nơi thờ phụng những vị quá vãng còn được gọi là "Nhà Thờ Cửu Huyền" (viết bằng tiếng Việt), thỉnh thoảng dùng bốn chữ "Cửu Huyền thất Tổ" (viết bằng chữ Hán). Quý Tăng Ni miền Nam và miền Bắc cũng dùng cụm từ này để chỉ cho nơi thờ ông bà, cha mẹ mình nhiều đời, nhưng không phổ biến rộng rãi, các vị thường dùng từ "hương linh" chỉ người đã khuất, và nơi thờ các hương linh ấy được gọi là "bàn linh". Các tịnh xá thuộc hệ phái Khất Sĩ dùng từ "Cửu Huyền" hoặc cả "Cửu Huyền Thất Tổ" chỉ cho nơi thờ những người đã quá vãng.

“Cửu Huyền thất Tổ” trong nền văn hoá Việt Nam

Theo cách nhìn tổng quát, văn hóa có hai phần đặc trưng, đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Nền văn hóa vật chất bao gồm các lĩnh vực thuộc khoa học kỹ thuật. Văn hóa tinh thần bao gồm các lĩnh vực thuộc học thuật, tư tưởng, tôn giáo và các loại hình giải trí, nghệ thuật

Cách biểu hiện lòng tôn trọng, nhớ ơn và biết ơn ông bà cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp qua việc thờ cúng của người Việt Nam thuộc loại hình văn hoá tinh thần. Cách tôn kính, thờ cúng này không phải ở Việt Nam mới có, mà từ thuở nhà Hạ (2183-1752 trước TL), Thương/ Ân (1751-1112 trước TL), Chu (1111? – 249 trước TL) bên Trung Hoa cũng đã có nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên rồi. Các vua chúa thường đi tế Giao (cúng trời đất) ở một nơi được xem là linh thiêng, hoặc cúng tổ tiên trong Thái Miếu. Nền văn hoá Việt Nam thời cổ và trung đại cũng vậy. Các vua chúa thường đi cúng tế nơi Thái Miếu, nơi đền thờ các vị khai quốc công thần. Còn người dân dã thì thường thờ ông bà cha mẹ tại nhà và làm lễ cúng giỗ hàng năm.

Điều đáng nói ở đây, là nền văn hoá tinh thần nầy đã được duy trì, phát huy và thấm sâu vào lòng dân tộc Việt Nam dù trải bao biến thiên lịch sử. Không phải đất nước nào cũng duy trì được nền văn hoá quý báu này. Trung Hoa, một trong 3 cái nôi văn minh nhân loại thời cổ, đến khi Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 thì nền văn hoá tinh thần bị hạ bệ, nhất là giai đoạn “Cách Mạng Văn Hoá” thì tinh thần “ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ người đào giếng” hoàn toàn bị xoá sổ.

Ðại đức Minh Nghị đang du học bên Trung Hoa kể cho chúng tôi nghe, khắp đại lục Trung Hoa không có được một nhà có bàn thờ ông bà cha mẹ của mình. Vào nhà chỉ thấy hình của bác Mao Trạch Đông thôi! Các chùa chiền thì không thấy có nhà thờ “Cửu Huyền Thất Tổ” hoặc “Vãng Sinh Ðường”, thậm chí một số chùa chiền cũng không thấy có nhà thờ Tổ (Tổ đường). Khái niệm “thờ cúng” ông bà cha mẹ gần như bị lãng quên và họ còn cho đó là một nghi thức “cổ lổ xỉ”. Họ cho rằng “thờ cúng” là một hình thức mê tín dị đoan, nên đã cực lực loại bỏ! Thế là cả một nền văn hoá “Ẩm thuỷ tư nguyên” (uống nước nhớ nguồn) tốt đẹp mấy ngàn năm, một truyền thống hiếu thảo “phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hiệu thiên võng cực” (Kinh Thi)[1] đã từng làm xúc động bao con tim của bao thế hệ, nay không còn duy trì nữa. Thật buồn thay cho một nền văn hoá có bề dày nhất nhì trong lịch sử văn minh nhân loại, và cũng là một nền văn hoá được đánh giá là tôn trọng chữ hiếu bậc nhất trong lịch sử nhân loại, thế mà ngày nay lại thiếu vắng tinh thần tri ân và báo ân!

May mắn thay, văn hoá Việt Nam, dù trải bao thăng trầm lịch sử, nhưng đạo lý: “Sang đò nhớ ơn người chèo chống, nằm võng nhớ ơn người mắc dây” vẫn được khắc sâu trong tâm khảm người Việt, vẫn ấm áp trong tiếng hát hời ru con muôn thuở:

“Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha”.

Lời cuối, cầu chúc cư sĩ thân tâm thường lạc, tinh tấn trong mọi thiện sự.

Ánh Quang hỏi; Thích Giác Hoàng trả lời

VLCĐ: Như một lời hẹn, vậy là Hương Sơn Ca vol.4 đã được xuất bản ngay trong những ngày trước thềm năm mới và mùa trẩy hội Chùa Hương xuân Ất Mùi 2015. Hương Sơn Ca vol.4 là một tập hợp gồm có 11 tác phẩm của Diệu Thiện - Cù Lệ Duyên, đa dạng về âm nhạc còn được mở rộng biên độ sang cả màu sắc dân gian và nhạc nhẹ. Nhạc sĩ Diệu Thiện Cù Lệ Duyên đóng góp không nhỏ với những sáng tác của mình, đã mở một lối đi, một con đường riêng dẫn người nghe đến với nơi đất trời linh thiêng đẹp như tiên cảnh: Hương Sơn

NS: Cù Lệ Duyên
Dường như đã thành một nếp quen, liên tục trong những năm gần đây, những ai yêu mến đất trời - cảnh thiêng Hương Tích dẫu đã hoặc chưa có cơ hội được đặt chân tới nơi đây cũng đã quen với một nếp nghe, đó chính là những giai điệu đẹp ca ngợi về Chùa Hương, sự đan xen giữa đạo và đời trong một không gian huyền tích, như thực lại như mơ của nơi “Nam thiên đệ nhất động”. Tất cả những điều ấy đã khiến tôi liên tưởng tới hình ảnh một con đường đang được khai mở: con đường dẫn con người ta đến với đạo nhưng vẫn rất đời bằng âm nhạc. Và để mở ra con đường ấy là cả một chiều dài hơn nửa thế kỷ với sự góp sức tham gia của nhiều gương mặt, trong đó phải ghi nhận những nhạc sĩ đầu tiên viết về Chùa Hương, trong đó có nhạc sĩ Hoàng Qúy, một trong những gương mặt xuất sắc của thời kỳ đầu tân nhạc Việt Nam, và nhiều thế hệ sau này. Nhưng con đường ấy chỉ thực sự hiện ra khi có sự xuất hiện của Diệu Thiện – Cù Lệ Duyên với chùm những sáng tác về Hương Sơn.

Ca khúc của Diệu Thiện - Cù Lệ Duyên có một điểm chung với những tác giả khác là tính trữ tình, phần lớn các ca khúc thể hiện cái tôi (cá nhân) hướng về cái ta (cảnh đẹp và sự linh thiêng của Chùa Hương – điều mọi người cùng hướng đến) từ đó dễ được công chúng tiếp nhận như chính tâm thế của mình. Nhưng cái riêng trong ca khúc viết về đề tài Hương Sơn của Diệu Thiện - Cù Lệ Duyên chính là chất romance luôn hiện hữu trong mỗi tác phẩm. Những ca khúc luôn có khúc thức rõ ràng, ca từ khúc chiết và diễn tiến âm nhạc chặt chẽ. Nhưng dù là cái chung hay cái riêng thì nhìn vào tác phẩm của Diệu Thiện Cù Lệ Duyên luôn thấy có sự chuyển động về màu sắc và tính chất âm nhạc. Điều này cho thấy tác giả luôn đặt hết tâm tư tình cảm cũng như nhiệt huyết của mình vào những tác phẩm viết về đề tài Hương Sơn. Và vì vậy mà dẫu vẫn là Diệu Thiện Cù Lệ Duyên, dẫu vẫn là một đề tài lớn nhưng người ta vẫn nhận ra những nét riêng trong mỗi album, mỗi ca khúc. Nếu như ở Hương Sơn Ca vol.2 người nghe dễ dàng nhận thấy là tính chất trữ tình, sâu lắng, tình cảm thì ở Hương Sơn Ca vol.3 tác giả tăng cường tính thính phòng và tới album Hương Sơn Ca vol.4 này sự đa dạng về âm nhạc còn được mở rộng biên độ sang cả màu sắc dân gian và nhạc nhẹ.

CS: Tân Phương
Hương Sơn Ca vol.4 là một tập hợp gồm có 11 tác phẩm thể hiện ở các hình thức đơn ca gồm có Sen vàng gót ngọc (Tâm Đức - Thanh Qúy), Về đâu (Kim Thoa), Dạ khúc (Nguyên Như - Duyên Huyền) Lặng thầm (Tâm Như – Tân Phương), Tri âm (Phúc Như – Lê Anh Dũng), Ai về Hương Tích (Ngọc Ánh), Hương mộc miên (Diệu Tâm - Tân Nhàn), Ngàn năm sen mãi nở hoa (Tuấn Anh), Trúc biếc hoa vàng (Ngọc Anh); đáng chú ý, hình thức hợp xướng với hai giọng lĩnh xướng được khai thác hiệu quả trong ca khúc Hương từ bi. Nét đặc sắc ở đây là, 11 tác phẩm trong album là sự hòa quyện, đan xen giữa các màu sắc, tính chất âm nhạc khác nhau, ở đó người nghe có thể cảm nhận được màu sắc trữ tình ở hầu hết các tác phẩm, bên cạnh đó tính chất dân gian còn được gợi mở từ những ca khúc như Về đâu, Hương mộc miên; hay chất thính phòng được thể hiện ở các ca khúc như Dạ khúc, Ngàn năm sen mãi nở hoa, Ai về Hương Tích; đặc biệt, trong album này còn có tác phẩm mang hơi hướng nhạc nhẹ đó là ca khúc Trúc biếc hoa vàng do ca sĩ Ngọc Anh thể hiện.

Chùa Hương vừa là chốn tâm linh vừa là một thắng cảnh vốn đã là một địa danh quen thuộc với mỗi con dân nước Việt nhưng không phải ai cũng có cơ hội để một lần được đặt chân tới nơi đây. Có lẽ, một trong những lý do để nơi đây trở nên thân quen, nằm lòng trong tâm thức mỗi người ấy chính là từ những áng thơ văn, và đặc biệt trong là những tác phẩm âm nhạc. Chính những tác phẩm như trong các album Hương Sơn Ca từ vol.1 cho tới vol.2, vol.3 và bây giờ là vol.4 mà Diệu Thiện Cù Lệ Duyên đóng góp không nhỏ với những sáng tác của mình, đã mở một lối đi, một con đường riêng dẫn người dân xa gần đến với nơi đất trời linh thiêng đẹp như tiên cảnh: Hương Sơn.

Nguyễn Quang Long
--------------------

LỜI PHI LỘ
Thượng Tọa Thích Minh Hiền

Năm nay lập xuân sớm, hoa gạo nở rộ, ngồi nghe lại “Hương Mộc Miên” của Hương Sơn Ca Vol.4 mới cảm nhận được hết tấm lòng đồng thanh tương ứng của nhạc sỹ Phật tử Diệu Thiện – Cù Lệ Duyên.

Liên tục trong 3 năm hàng loạt ca khúc Phật giáo được giới thiệu tới công chúng yêu nhạc Phật. Ngoài những nhạc phẩm ca ngợi Đức Phật đản sinh, ca ngợi Phật giáo Thủ đô Hà Nội thì những ca khúc mang đậm chất thính phòng vẫn là tư tưởng xuyên suốt trong các nhạc phẩm của Diệu Thiện. Ảnh hưởng của dòng nhạc Phật giáo đương đại đến nay đã lan tỏa phổ cập không chỉ trong nước mà còn sang tận các nước lân cận. Khởi đầu từ Vol.1 và nay là Vol.4, với gần 50 ca khúc chị đã đóng góp không nhỏ vào nền âm nhạc Phật giáo Việt Nam. Điều này đã gây ngạc nhiên trong giới chuyên môn âm nhạc trong và ngoài nước. Tất cả những ca khúc của chị nằm trọn vẹn trong những vần thơ không bao giờ phai nhạt.

Muôn điệu du dương khúc nhạc lòng
Hòa ca thanh thoát khắp non sông
Truyền qua mạch sống rung rung động
Tràn ngập không gian rực ánh hồng.
Triệu triệu con tim khúc nhịp nhàng
Từng giây từng phút dội âm vang
Tiếng tơ réo rắt thành cung bậc
Chuyển hiện lời thơ nguyện cúng dàng.

Thay mặt Tùng lâm Hương tích – Phật giáo Thủ đô xin trân trọng giới thiệu.

Non Hương mạnh xuân
P.L 2559 – DL 2015


DVD CHƯƠNG TRÌNH CA NHẠC KÍNH MỪNG KHÁNH ĐẢN BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ CA KHÚC TRONG ALBUM "HƯƠNG SƠN CA" VOL.4







Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.