tháng 1 2018

VLCĐ:Cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, không khí ấm no tràn đầy lại bắt đầu lan theo sự nhộn nhịp, rộn ràng, hân hoan trong tấm lòng người con Phật. Ai ai cũng mang trong mình một sự thành tâm, nguyện cầu, đón chào một năm mới thật an lành, hỷ lạc, một mùa xuân Di Lặc an vui với bao nhiêu hoài bão mới, hương sắc mới.


1. Phúc thắm ngàn đời cây trổ lộc
Đức dày muôn thuở nhánh đơm hoa. 
 
2. Mừng xuân kính chúc luôn tu phước
Trọn năm nguyện ước thảy viên thành
 
3. Tiễn năm cũ đi, sống từ bi, thể hiện chân thiện mỹ
Đón năm mới về, tập hỷ xả, tỏa sáng đức tài tâm.
 
4. Lễ Phật làm phước đầu xuân, bốn mùa hưng thịnh
Tụng Kinh phát huệ ngày tết, trọn năm an lành.
 
5. Đón tết đến trăm điều như ý 
Mừng xuân sang vạn sự cát tường. 
 
6. Phúc thắm ngàn đời cây trổ lộc
Đức dày muôn thuở nhánh đơm hoa.
 
7. Xuân an khang đức tài như ý
Tết thịnh vượng phúc thọ vô biên
 
8. Mừng xuân niệm Phật thêm công đức
Đón tết từ bi dứt não phiền
 
9. Năm Dậu đi, vẫy chào lũ lụt tai ương, mừng muôn dân hạnh phúc
Năm Tuất về, đón rước thái bình phước lộc, cầu vận nước thăng hoa.
 
10. Mừng xuân hỷ xả, thêm công đức
Đón tết từ bi, bớt não phiền.
 
11. Tận niên hạnh phúc bình an tiến
Xuân Phật vinh hoa phú quý lai.
 
12. Đến cổng từ bi, học vị tha, cứu ngặt, cứu nghèo, Xuân nghìn phúc;
Vào nơi giác ngộ, tu vô ngã, giúp đời, giúp vật, Tết vạn ân.
 
13. Trời đất vô tư, làm điều thiện tự nhiên được thiện
Thánh hiền có dạy, lo tu thân có thể được vinh

14. Sắc xuân hòa năm mới, cầu muôn nhà hạnh phúc
Hương tết quyện khí lành, chúc trăm họ an vui.
 
(VLCĐ Sưu tầm tổng hợp)

Kẻ xấu ác mà được vãng sinh, đó là nhờ có tâm niệm Phật dũng mãnh gấp trăm lần bình thường, cho nên mới có thể thành tựu trong mười niệm. Nếu không được vậy, chỉ cần một chút buông lơi chậm trễ, ắt phải sẩy chân rơi vào ba đường ác.

Trương Thiện Hòa:
Trương Thiện Hòa sống vào đời Đường, làm nghề mổ trâu để sống. Khi lâm chung nhìn thấy cả đàn trâu biết nói tiếng người, theo đòi mạng. Thiện Hòa kinh sợ quá, gọi vợ bảo: “Mau mau thỉnh tăng đến sám hối cho tôi.” Vị tăng được thỉnh đến dạy Trương Thiện Hòa rằng: “Quán kinh có nói: Người lâm chung nhìn thấy tướng xấu ác, nếu chí tâm niệm Phật liền được vãng sinh.” Thiện Hòa nói: “Địa ngục đến gấp lắm rồi, không có thì giờ lấy lư hương đâu.” Liền dùng tay phải cầm lửa, tay trái niêm hương, quay mặt về phía hướng tây chí thiết niệm Phật. Niệm chưa được mười tiếng, bỗng tự nói: “Phật đến đón tôi.” Nói xong thì qua đời. 

Oánh Kha
Oánh Kha sinh vào đời Tống, tuy đã xuất gia nhưng lại không kiêng rượu thịt. Tự nghĩ lại rằng, mình đã là một vị tăng mà làm việc hư hỏng xấu ác như vậy, tương lai phải chịu đọa lạc, biết làm sao? Nhờ người sống chung mang đến cho quyển Vãng sinh truyện để đọc. Đọc qua mỗi truyện đều thấy xúc động trong lòng, sau đó liền ngồi quay mặt về hướng Tây, chuyên tâm niệm Phật, bỏ cả ăn uống. 
Trải qua ba ngày, trong mộng thấy Phật bảo rằng: “Con vẫn còn sống được mười năm nữa, hãy tự nỗ lực.” Oánh Kha bạch Phật rằng: “Cõi Diêm-phù-đề đầy dẫy sự xấu ác, dễ mất chánh niệm, con nguyện được sinh về Cực Lạc sớm hơn, phụng sự chúng thánh.” Đức Phật dạy: “Nếu vậy thì sau ba ngày ta sẽ đón con.” 
Đến ngày, Oánh Kha thỉnh đại chúng tụng kinh A-di-đà, lát sau nói: “Phật và đại chúng đều đã đến.” Nói rồi an nhiên mà tịch. 

Trọng Minh

Trọng Minh sống vào đời Tống, tu nơi chùa Báo Ân ở Sơn Âm, không nghiêm giữ được giới hạnh. 
Một hôm, Trọng Minh mắc bệnh, nói với người bạn đồng tu là Đạo Ninh rằng: “Tâm thức tôi hết sức tán loạn, biết dùng cách gì đối trị?” Đạo Ninh khuyên chú tâm niệm Phật theo hơi thở. Trọng Minh nghe theo lời, chí tâm niệm Phật. 
Qua được bảy ngày, Trọng Minh kiệt sức. Đạo Ninh lại dạy phép quán tưởng hình tượng Phật ngay trước mắt mình. Trọng Minh quán tưởng được hồi lâu, bỗng nhìn thấy hai vị Bồ Tát, tiếp theo lại thấy Phật, rồi nhắm mắt qua đời. 
Lời bàn

Kẻ xấu ác mà được vãng sinh, đó là nhờ có tâm niệm Phật dũng mãnh gấp trăm lần bình thường, cho nên mới có thể thành tựu trong mười niệm. Nếu không được vậy, chỉ cần một chút buông lơi chậm trễ, ắt phải sẩy chân rơi vào ba đường ác. 

Chuyện vãng sinh của loài vật:
Rồng vãng sinh 
Kinh Bồ Tát xử thai chép rằng: “Có một con rồng nói với chim kim sí rằng: ‘Ta từ khi thọ sinh làm thân rồng, chưa từng giết hại, quấy nhiễu các loài sống trong nước. Sau khi ta mạng chung, sẽ sinh về cõi Cực Lạc của đức Phật A-di-đà.’” 

Chim vẹt vãng sinh 

Vào đời Đường, trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên, nhà họ Bùi ở Hà Đông có nuôi một con chim vẹt, dạy cho biết nói, thường niệm Phật, quá giờ ngọ không chịu ăn. Khi lâm chung, chim niệm Phật đủ mười niệm thì tắt hơi. Lúc hỏa thiêu tìm thấy hơn chục viên xá-lợi, ánh sáng rực rỡ chói mắt. 
Đại sư Tuệ Quán liền xây tháp cho chim, Doãn Vi Cao ở kinh thành viết bài bia ký. 

Chim sáo vãng sinh
Vào đời Tống, Quán Công nơi chùa Chánh Đẳng ở Hoàng Nham nuôi một con chim sáo, dạy nói được tiếng người. Chim thường niệm Phật không thôi. 
Một hôm, chim đứng chết trong lồng. Quán Công đào huyệt mai táng. Không lâu sau, từ đầu lưỡi chim mọc lên một đóa hoa sen màu đỏ tía. 
Đàm Châu cũng có người nuôi một con sáo, biết nói, thường niệm Phật. Sau khi sáo chết, người ấy cũng đóng quan tài mai táng như người. Bỗng thấy nơi mộ phần mọc lên một đóa hoa sen, tìm xuống tận gốc thì thấy hoa sen ấy mọc ra từ miệng chim. 

Đại sư Liên Trì nói rằng: “Chim vẹt, chim sáo, người dạy cho biết niệm Phật cũng là chuyện thường tình. Sao ngày nay không thấy chim vãng sinh nữa? Than ôi, cũng giống như người đời, cùng được nghe lời dạy niệm Phật, nhưng có người niệm với tâm thành tín, có người niệm với tâm dể duôi, xem thường. Vì thế nên người niệm Phật thì nhiều, người vãng sinh rất ít. Đối với chim vẹt, chim sáo, nào có khác gì đâu?”


VLCĐ: Lầm tưởng là trạng thái bình thường len lỏi vào bộ não của mình mà không cần biết mức độ điều khiển thái độ, hành động dẫn đến sự suy nghĩ và ứng xử không thật là của mình. Hãy đọc bài thơ "Đừng tưởng" và giai thoại sau đây để bùng lên trong đầu một chút bàng hoàng khi đã vỡ lẽ.

Cùng chuyên mục:
------------------

Đừng tưởng cứ núi là cao.. Cứ sông là chảy, cứ ao là tù

Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong

Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù.

Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan

Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ

Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần

Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

 

Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo

Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường.. Nói lời ngon ngọt mười phương chết người.


Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao

Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.


Đời người lúc thịnh, lúc suy

Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

Bên nhau chua ngọt đã từng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!


Tác giả: Còn đang tranh cãi
--------------------------

Dùng tâm tùy duyên để đối mặt với mọi thứ, mới có thể sống tự tại.

Xưa có một lão hòa thượng sống trong ngôi chùa cổ trên núi cao. Một ngày kia có vị hành giả ghé thăm chùa. Hành giả biết lão hòa thượng đã tu hành đắc Đạo, bèn hỏi ông rằng: “Trước khi đắc Đạo, ngài đã làm những gì?”
Lão hòa thượng trả lời: “Ta chẻ củi, gánh nước, nấu cơm.”
Hành giả hỏi: “Vậy sau khi đắc Đạo thì sao?”
Lão hòa thượng nói: “Ta vẫn chẻ củi, gánh nước, nấu cơm.”
Hành giả lại hỏi: “Vậy cái gì gọi là đắc Đạo?”
Lão hòa thượng ôn tồn trả lời: “Trước khi đắc Đạo, lúc chẻ củi thì nghĩ về gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ về nấu cơm, nấu cơm rồi lại lo ngày mai đi chẻ củi gánh nước.
Sau khi đắc Đạo, chẻ củi thì là chẻ củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì là nấu cơm.”Kỳ thực, đắc Đạo hay chưa chỉ khác nhau ở một chữ “Tâm” này mà thôi. Trước khi đắc Đạo, lão hòa thượng cũng giống như những người phàm phu khác, tâm không thể tĩnh tại, làm chuyện gì cũng nghĩ tưởng về quá khứ và tương lai. Chỉ khi đã khắc chế cái tâm này, thì lòng người mới có thể ung dung tự tại, tinh thần mới có thể thảnh thơi…


Vậy mới nói, hết thảy mọi phiền não trong đời là bởi tâm phàm quá nặng. Chỉ khi buông bỏ mọi dính mắc trong tâm, chúng ta mới có thể giải thoát chính mình. Phật gia giảng “xả”, giảng “buông”, khuyên con người hãy từ bỏ mọi chấp trước và dục vọng, bởi chỉ khi đã xem nhẹ mọi thăng trầm thì nội tâm mới có thể an nhiên tự tại.


Đọc đến đây, có lẽ bạn đã tìm được lời giải cho câu hỏi “Vì sao cuộc sống mệt mỏi?” Đó là bởi những thứ kiểm soát tâm trạng của bạn có quá nhiều! Ví như sự thay đổi của thời tiết, sự nóng lạnh của tình người, những phong cảnh khác nhau, v.v. đều có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của bạn.

Và tất nhiên, đó đều là những thứ mà bạn không thể kiểm soát.


Khi đã xem nhẹ rồi, thì bầu trời dẫu u ám hay trong xanh, con người dẫu chia ly hay tái hợp, vạn vật dẫu xoay vần biến đổi, thì lòng ta an nhiên không sợ hãi, thuận theo tự nhiên mà yên ổn.


Nỗi đau của hôm nay bắt nguồn từ sự phóng túng của hôm qua; nỗi khổ của đời này đều do nghiệp chướng từ kiếp trước. Bởi vậy, biết đối diện với hoàn cảnh, chấp nhận thực tại, sống thuận theo tự nhiên, thì tất cả mọi buồn phiền hay oán trách mới có thể tan hòa vào trong sự cảm ân…


VLCĐ: Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc, trái lại, người không biết đủ, dù ở cung trời cũng không vừa ý. Đừng vượt quá khả năng của mình. Trên thể giới năm châu hiện nay, muốn có hòa bình để mà hưởng lạc thú hoà bình vĩnh viễn, thì cũng không ngoài cái hạnh "Thiểu dục" và "Tri túc"Người đời phần nhiều thường đua chen, rong ruổi theo vật chất, không biết bao nhiêu cho vừa. Người thiếu thốn tham muốn đã đành, nhưng người dư giả, tiền bạc lấy thước mà đo, thế mà vẫn còn tham muốn.

Đã tham muốn, thì không bao giờ thấy mình đầy đủ cả. Ngạn ngữ có câu: "Bể kia dễ lấp, túi tham khó đầy". Thật đúng như thế, "lòng tham đã không đáy", thì làm sao đầy được?
 
Để đối trị lòng tham, Phật khuyên chúng ta phải "Thiểu Dục và Tri Túc". Trong Khế kinh có nói: "Tri túc chi nhân, tuy ngọa địa thượng du vi an lạc, bất chi túc chi nhân, tuy xứ thiên đường diệt bất xưng ý". Nghĩa là: Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc, trái lại, người không biết đủ, dù ở cung trời cũng không vừa ý.
 
Vậy muốn được sung sướng an vui, chúng ta cần phải Thiểu Dục và Tri Túc. 
 
I. Định Nghĩa 
Thiểu Dục là muốn ít; Tri túc là biết đủ. Muốn ít là đối với cái chưa có, mà vì nhu cầu, mong cho có. Như muốn có cái nhà ở vừa sạch, vừa che kín nắng mưa; cần đi cho mau, muốn có một phương tiện giao thông gì cho tiện lợi, chỉ cốt đỡ mỏi chân, đỡ tốn thì giờ là được, chứ không muốn một chiếc xe hơi lộng lẫy, mấy trăn nghìn, quá sức tài chánh của mình. 
Biết đủ, gặp hoàn cảnh nào cũng đều an phận tùy duyên. Đối với việc ăn, mặc và ở, tự thấy mình có đủ dùng rồi, không tham cầu nhiều hơn nữa, mà phải khổ sở về tinh thần.
 
Người Đời Thường Tham Muốn Những Gì? 

Người đời thường bị năm thứ tham muốn sau đây sai khiến: 
a) Tham muốn tiền của 
b) Tham muốn sắc đẹp 
c) Tham muốn danh vọng 
d)Tham muốn ăn ngon 
đ) Tham muốn ngủ kỹ

Người tham muồn tiền của, thì tiền kho bạc đống, nhà ngang dãy dọc, đất ruộng cò bay thẳng cánh, cũng chưa cho là vừa, mà vẫn còn mong muốn được làm giàu thêm nữa.
 
Người tham muốn sắc đẹp, thì suốt đời rong ruổi đi tìm hoa; thấy ai có nhan sắc là mê mết, tìm cách này cách khác để gần gũi cho kỳ được. Một khi đã thỏa mãn, thì lại ruồng bỏ người đẹp này để chạy theo người đẹp khác; luôn luôn bị vật dục sai khiến, mất hết cả nhân cách.
 
Người tham muốn danh vọng, thì suốt đời rong ruổi theo chức cả, quyền cao, tiếng danh hay tốt. Họ còn cúi hết chỗ này đến chỗ khác, để mong được cái địa vị cao sang. Họ lao tâm, khổ trí, tìm mọi cách để nắm giữ cho được cái hư danh.
 
Người tham muốn ăn ngon, thì suốt đời lân la bên cạnh những cao lương mỹ vị, quanh quẩn bên những tiệc bàn, tìm khoái khẩu trong những rượu ngon, vị lạ. Thế giới của họ thu hẹp lại trong những món ăn và những người bạn rượu.
 
Người tham muốn ngủ nghỉ, thì quá nửa đời mình lẩn quẩn trên chiếc giường; ăn xong lại nghỉ chuyện đi nằm, nằm là ngủ, ngủ xong lại muốn ngủ nữa, mất cả tự chủ của mình. 
 
Tóm lại, khi đã tham muốn những thứ ấy, thì cuộc đời của những kẻ ham muốn kia, chỉ còn thu hẹp lại trong sự ham muốn của mình và làm tôi mọi cho vật dục mỗi ngày mỗi thêm chặt chẽ. Xét cho cùng thì những sự tham muốn trên, ngoài sự tham muốn danh vọng là do kiêu căng ngã mạn, còn các thứ tham vọng khác, đều do ngũ dục là động lực chính cả. Ngũ dục là: Sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục và xúc dục. 
 
Sắc dục là gì? Là nhãn căn đối với sắc trần, sanh tâm tham muốn. Trong thì "chánh báo" là thân phần của nam nhân hay nữ nhân: Mày tằm mắt phượng, môi đỏ má hồng...Ngoài thì "y báo" là vật dụng của thế gian: ngọc, ngà, châu, báu, vật quý đồ xưa, sắc màu lộng lẫy... Những món ấy, đại đa số người vừa trông thấy liền sanh tâm tham ái.
 
Thanh dục là gì? Là tai nghe tiếng hay, tâm sanh say đắm; như tiếng ca, giọng hát, khúc lý câu tình, âm điệu du dương, khêu gợi tâm dục của người, sanh tâm đắm nhim. 
 
Hương dục là gì? Là lỗ mũi khi đối với hương trần sanh tâm tham muốn; như dầu thơm ngào ngạt, phấn sáp nồng nàn v.v...Những món hương trần ấy, khiến cho người ngửi đến thì sanh tâm ưa thích đắm nhim, mơ tưởng vẩn vơ. 
 
Vị dục là gì? Là khi lưỡi đối với mùi vị, sanh tâm tham đắm, như các mùi vị thơm tho, ngọt bùi, chua chát, mặn lạt, mỡ thịt, cá tôm, chả gỏi nem bì, những đồ cao lương mỹ vị...
Vẫn biết nhân loại đối với sự ăn uống phải cần dùng nhiều món để nuôi sống mà làm việc. Thế nên cả nhân loại ăn chẳng công nhận nó là điều cần thiết nhất, nếu ăn uống kém thiếu, thì thân thể phải ốm gầy. Nhưng ta nên xem sự ăn uống như là uống thuốc, để chữa bệnh đói khát mà thôi. Nếu quá tham món cao lương mỹ vị, chỉ biết lo sống để mà ăn, thì con người có cho là cao thượng? Phật nói: "Chúng sanh sở dĩ đi không cách đất, không khỏi cỏ cây, ra vào không rời khỏi không khí, là bởi ăn những món "do đất sanh ra", nên thân thể rất nặng nề". 
 
Xúc dục là gì? Là thân thể khi giao thiệp với xúc trần, sanh tâm tham muốn. Bố vải thô sơ, mặc vào mình biết nhám; lụa là, gấm nhiu suông, vào mình biết trơn láng, gỗ chạm vào mình biết cứng, bông đụng vào mình biết mềm v.v...Những vật gì mềm mại thì sanh tâm ưa thích, những vật gì cứng nhám thì sanh lòng ghét bỏ. 
 
II. Tai Hại Của Lòng Tham Quá Độ 

Những sự tham muốn quá độ, làm cho lòng người xao xuyến, mất hết cả tự chủ và chỉ còn là nô lệ cho những thèm muốn của mình mà thôi. Một khi đã bị lòng tham dục điều khiển, thì con người gây không biết bao nhiêu tội lỗi, dám làm những chuyện hung ác mà chẳng gớm tay. Lại chính vì lòng tham muốn không ngằn mé, mà mình không tự nhận biết, nên đến khi muốn mà không được, thì đổ lỗi cho người, nhân đó sinh ra cạnh tranh, xung đột, làm cho nhân loại chịu lắm điều tàn hại. Lòng tham muốn quá độ, làm cho con người tối mắt trước những sự phải, trái, thúc đẩy người đời vào đường tội lỗi. Chẳng hạn một kẻ không có năng lực, đạo đức mà muốn được giàu có lớn và quyền thế to, thì có thể dùng những mưu mô gian xảo, đen tối, dã man để đạt ý muốn của mình. Hoặc giả, cũng vì muốn được như ý bà vợ yêu quí, mà có lắm ông chồng bị bắt buộc làm những việc trái với lương tâm cho đến tan thân mất mạng. 
 
Tóm lại, ngũ dục làm hại cho loài người không thể kể xiết: Vì ngũ dục mà sanh ra lo buồn, giận dữ; vì ngũ dục mà sanh ra dối trá, gian tham; vì ngũ dục mà sanh ra cạnh tranh, xâu xé, nhân loại đưa nhau vào rừng tên mưu đạn.
 
Trong hiện tại lòng tham muốn quá độ, sự chạy đuổi theo ngũ dục đã làm tổn hại chẳng những cho mình và cho người, mà trong tương lai, chúng lại còn đưa con người vào chốn tam đồ ác đạo, nhất là vào vòng ngạ quỷ, để phải chịu thiếu thốn cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần. 
Đó là kết quả thảm khốc của người quá tham, không biết "Thiểu dục" và "Tri túc". 
 
III. Phương Pháp Đối Trị Lòng Tham Muốn Quá Độ: Thiểu Dục Và Tri Túc 
Túi tham đã không đáy, thì càng tham lại thấy càng thiếu, càng khổ. Phật dạy: "Càng tham muốn, càng khổ sở". Chúng ta đừng lầm tưởng rằng một khi lòng tham muốn được thỏa mãn, là hết tham muốn. Hễ còn củi thì lửa còn cháy. Tham muốn được toại nguyện thì tham muốn lại càng to lên. Tục ngữ thường nói: "Được voi đòi tiên" là thế. Người mà lửa tham vọng mong cầu nung nấu trong lòng, bao giờ cũng thấy mình còn thiếu thốn. Không thấy thiếu món này, lại thấy thiếu món khác, rồi thèm khát mãi, không lúc nào được toại chí. Mà không toại chí là còn đau khổ. 
 
Để đối trị lòng tham vô độ, đạo Phật cũng như đạo Nho đều dạy chúng ta phải "Tri túc" tức biết đủ. Có bao nhiêu ta hưởng bấy nhiêu, tự cho mình không còn thiếu gì nữa, đừng nhìn lên những kẻ giàu có sang trọng hơn mình, thế là "biết đủ".
Trong kinh Di Giáo, Phật dạy: "Này các Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, nên suy nghiệm hai chữ "Tri túc". Hễ biết đủ thì ở cảnh nào cũng yên vui. Người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Người không biết đủ thường bị năm thứ ham muốn kéo dắt, làm người biết đủ thương hại.
Một người trong tay thâu tóm tất cả của cải trong thế gian, với người nghèo mà không tham muốn, hai người đều giàu như nhau. 
Chúng ta hãy chiêm nghiệm những lời dạy đầy ý nghĩa ấy. Làm chủ đời ta, chính là lòng ta. Giàu nghèo sang hèn chỉ là vấn đề phụ thuộc. Nếu ta kiềm chế được dục vọng, tham muốn là ta giàu sang; nếu ta không kiềm chế được dục vọng tham muốn là ta nghèo hèn. 
 
VI. Lợi Ích Của Hạnh Thiểu Dục Và Tri Túc 
Lòng tham muốn làm cho ta khổ bao nhiêu, thì Thiểu dục và Tri túc lại làm cho ta sung sướng bấy nhiêu. Đó là lẽ đương nhiên. Nhờ "ít tham dục" nên con ma dục vọng không làm sao xui khiến được mình; nhờ "biết đủ" nên con quỷ tham lam chẳng có quyền hành sai khiến mình nữa.
 
Một khi con người không còn làm nô lệ cho vật chất đê hèn nữa, thì lòng người bắt đầu tự do giải thoát. Con người lúc ấy mới xứng danh là con người, mới có đủ nhân cách và không hổ thẹn với địa vị làm anh cả muôn loài. Chỉ khi ấy con người mới có thể tự cho là mình có hạnh phúc được; và dù cho thường ngày vẫn ăn cơm hẩm canh rau, quanh năm cứ quần bô, áo vải, cũng vẫn thấy trong lòng thơi thới, an vui, sung sướng. Từ xưa đến nay, không có một vị giáo chủ nào, hiền triết nòa xứng đáng với danh nghĩa ấy mà lại không khinh thường vật chất, mà lại chạy theo danh vọng tiền của, ăn sung, mặc sướng cả.
 
Hơn nữa, nhờ Thiểu dục và Tri túc mà gia đình, xã hội được an vui, hòa bình, không còn ai giành giật của cải, danh vọng, miếng ngon, vật lạ của ai nữa. Lợi ích của Thiểu dục và Tri túc thật không sao kể xiết được.
 
V. Giải Đáp Những Thắc Mắc Về Thiểu Dục Và Tri Túc 
 
Có người hỏi: 
Con người muốn tiến bộ, cần phải nỗ lực phấn đấu, cạnh tranh trong tất cả mọi trường hợp. Đạo Phật lại dạy phải Thiểu dục và Tri túc. Như thế là chủ trương làm cho nhân loại thối hóa chăng?
 
Đáp: Không! Đạo Phật dạy "Thiểu dục" và "Tri túc" cốt yếu ngăn ngừa con đường trụy lạc, chặn đứng lòng tham lam độc ác không bờ bến của chúng sanh, đang sống trong cõi đời vật dục, chứ không phải chủ trương ngăn chặn sự tiến triển của con người trên đường lợi người, lợi vật, ích nước, ích dân. Nhận thấy tai hại lớn lao của bệnh tham lam, nên đức Phật đưa ra phương thuốc rất công hiệu là "muốn ít" và "biết đủ" để điều trị căn bệnh ấy cho tận gốc. Phương thuốc này sẽ làm yếu dần tâm tham lam, nên các mối dục vọng, tội ác dần dần tiêu diệt, chỉ còn lại tấm lòng từ bi rộng rãi bao la mà thôi. Một khi con người hết chạy theo dục vọng, hết đuổi bắt những hạnh phúc vật chất tạm bợ, giả trá cũng không đào bớt thêm đau khổ của người khác, để tìm hạnh phúc cho mình nữa, thì lúc ấy, hạnh phúc chân thật liền đến với họ. 
 
Như thế, nghĩa là hạnh "Thiểu dục" và "Tri túc" bắt đầu hãm bớt tốc lực của lòng dục vọng tham lam, kế đó chặn đứng nó lại, sau hết buộc nó xoay chiều, đổi hướng, tinh tiến mãi trên con đường lành. Vậy thì hạnh "muốn ít" và "biết đủ " chẳng những không đưa con người vào con đường thối hóa, mà lại giúp cho sự tiến hóa của nhân loại.
 
Vả lại, ngày nay nhân loại dang chứng kiến môt sự mất quân bình nguy hiểm giữa sự tiến hóa mau lẹ của vật chất và sự chậm tiến của tinh thần. Sự mất cân bằng ấy có thể đưa nhân loại đến hố diệt vong. Vậy cần phải quân bình sự tiến hóa vật chất và tinh thần. Muốn thế, chẳng có phường pháp nào là tuân theo hạnh "Thiểu dục" và "Tri túc". Con người nếu biết coi thường vật chất một ít, thì mới tiến hóa thêm về tinh thần. 
 
Sỡ dĩ ngày nay tren thế giới, đứng về phương diện vật chất, khoa học, con người có tiến triển rất nhiều, rất nhanh; còn về phương diện tinh thần, đạo đức, con người tiến rất chậm, vì ít ai quan tam lưu ý đến nó, mà chỉ chạy theo vật dục. Hễ vật chất quá tiến, thì tinh thần phải lùi, vật chất càng cao thì lòng tham càng nặng, càng sâu, càng lớn, không biết lúc nào là cùng. Tai họa chiến tranh ngày nay, gieo rắc khắp nơi trên thế giới, cũng do lòng tham không đáy của con người "bất tri túc" vậy. 
 
Vậy Thiểu dục và Tri túc là hai phương thuốc thần diệu cho căn bệnh trầm trọng của thế giới ngày nay, không ai có thể chối cãi được. 
 
Kết Luận: 
Kẻ ngoài đời và người trong đạo, muốn được hạnh phúc chân thật, thì nên tu hạnh “thiểu dục” và “tri túc”. Vì thật sự, những người không quá đòi hỏi về vật chất, thì chẳng hề so sánh với bề trên; do đó, không thấy mình thiếu thốn về vật chất, nên ít khổ. Hơn nữa, họ chỉ so sánh với kẻ dưới, thấy mình khá giả, đầy đủ hơn, nên dễ mãn nguyện. 
Muốn tránh khỏi tai nạn trong gia đình và xã hội, mỗi người trên thế gian này, đều phải giữ phận thủ thường, đừng vượt quá khả năng của mình. Trên thể giới năm châu hiện nay, muốn có hòa bình để mà hưởng lạc thú hoà bình vĩnh viễn, thì cũng không ngoài cái hạnh "Thiểu dục" và "Tri túc" mà được.

Trích từ: PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
               Hòa Thượng Thích Thiện Hoa

VLCĐ: Nguồn gốc Ngày vía Đức Phật A Di Đà Trong các kinh điển Phật giáo không nói nguồn gốc Ngày vía Đức Phật A Di Đà, vậy vì sao hàng hàng Phật tử lại chọn ngày 17 tháng 11 âm lịch là ngày vía Phật A Di Đà đản sanh. Tuy nhiên, trong các kinh văn có đề cập đến lịch sử Phật A Di Đà như Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Đại Bổn A Di Đà… thì tuyệt nhiên không thấy nói chính xác ngày Đản sanh của Ngài. 


Thực ra, ngày 17 tháng 11 âm lịch là ngày sanh của Đại sư Vĩnh Minh-Diên Thọ, Tổ sư đời thứ sáu của 13 vị Tổ tông Tịnh Độ Phật giáo Trung Quốc.
Theo Tiểu sử 13 vị tổ Tịnh Độ tông của HT.Thích Thiền Tâm, Đại sư Vĩnh Minh-Diên Thọ (904-975), tự Xung Huyền, họ Vương ở Tiền Đường, người đời Tống. Lúc thiếu thời, ngài thích tụng kinh Pháp Hoa.

Lớn lên, Xung Huyền được Văn Mục Vương tuyển dụng, cho làm quan trông nom về thuế vụ. Nhiều lần Xung Huyền đem tiền công quỹ đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sanh nên bị pháp ty xử ngài vào tội tử. Lúc sắp đem đi chém, thấy ngài trước sau vẫn an nhiên điềm tĩnh nên lấy làm lạ mới cho diện kiến Văn Mục Vương. Vương hỏi duyên cớ, ngài đáp: "Tôi tự dụng của công, đáng tội chết. Nhưng toàn bộ số tiền đó, tôi dùng cứu được muôn ức sanh mạng, thì dù thân này có chết, cũng được vãng sanh về cõi Lạc bang, vì thế nên tôi không có gì phải lo sợ". Văn Mục Vương nghe qua cảm động, ra lịnh tha bổng. Ngài xin xuất gia, Vương bằng lòng.

Sau đó, ngài đến quy đầu với Thiền sư Thúy Nham ở Tứ Minh. Kế lại tham học với Thiều quốc sư ở Thiên Thai, tỏ ngộ tâm yếu, được quốc sư ấn khả, ngài từng tu Pháp Hoa Sám ở chùa Quốc Thanh. Trong lúc thiền quán thấy Đức Bồ tát Quán Thế Âm rưới nước cam lồ vào miệng, từ đó được biện tài vô ngại và nhất ý chuyên tu Tịnh nghiệp.

Năm Kiến Long thứ hai, đời Tống, Trung Ý Vương thỉnh ngài trụ trì chùa Vĩnh Minh, tôn hiệu là Trí Giác thiền sư. Ngài ở đây khoảng 15 năm, độ được 1.700 vị Tăng. Đại sư lập công khóa, mỗi ngày đêm tụng một bộ kinh Pháp Hoa, niệm 10.000 câu Phật hiệu. Đại sư thường truyền giới Bồ tát, mua chim cá phóng sanh, thí thực cho quỷ thần, tất cả công đức đều hồi hướng về Tịnh độ.

Ngài trước tác Tông Cảnh Lục, Vạn Thiện Đồng Quy Tập…, đặc biệt là soạn Tứ Liệu Giản: 
1-Có Thiền không Tịnh độ/Mười người, chín lạc lộ/Ấm cảnh khi hiện ra/Chớp mắt đi theo nó. 
2-Không Thiền có Tịnh độ/Muôn tu muôn thoát khổ/Vãng sanh thấy Di Đà/Lo gì chẳng khai ngộ? 
3-Có Thiền có Tịnh độ/Như thêm sừng mãnh hổ/Hiện đời làm thầy người/Về sau thành Phật, Tổ. 4-Không Thiền không Tịnh độ/Giường sắt, cột đồng lửa/Muôn kiếp lại ngàn đời/Chẳng có nơi nương tựa" để xiển dương đường lối tu tập cũng như yếu chỉ của tông Tịnh Độ.

Niên hiệu Khai Bảo thứ tám, vào buổi sáng sớm ngày 26 tháng 2 âm lịch, Đại sư lên chánh điện đốt hương lễ Phật xong, ngài họp đại chúng lại dặn dò khuyên bảo, rồi ngồi kiết già trên pháp tòa mà vãng sanh thị tịch, thọ 72 tuổi.
Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề thị tịch vãng sanh của Đại sư Vĩnh Minh-Diên Thọ, có một giai thoại thiền lâm thật thú vị, mà theo đó, người đời truyền tụng Đại sư là một trong những hóa thân của Đức Phật A Di Đà tại Trung Hoa.

Tiểu sử 13 vị tổ Tịnh Độ tông ghi: "Theo truyện ký, vào thời Ngô Việt Vương, tại Hàng Châu có Hòa thượng Hành Tu, trụ trì chùa Pháp Tướng.

Ngài vốn con nhà họ Trần ở Tuyền Nam, sanh ra có tướng lạ, hai tai dài chấm tới vai, đến bảy tuổi vẫn không nói. Một hôm có người đùa hỏi, ngài bỗng ứng tiếng đáp:

- Nếu không gặp bậc tác gia, nói cho lắm chỉ xô phá lầu khói mà thôi!

Sau ngài Hành Tu xuất gia ở chùa Ngõa Quan tại Kim Lăng, tham phỏng với Tuyết Phong thiền sư, ngộ được tâm ấn. Từ đó mãnh thú gặp ngài đều thuần phục, từng nổi tiếng là ông Tăng có nhiều sự phi thường, linh dị.

Ngô Việt Vương nhân khi đến chùa lễ Phật, hỏi Đại sư Vĩnh Minh:
- Bạch Tôn đức! Thời nay có bậc chân tăng nào khác chăng?

Đại sư đáp:
- Có Hòa thượng Hành Tu, đôi tai dài, chính là Phật Định Quang ứng thân đấy!
Vương y lời tìm đến ngài Hành Tu ở chùa Pháp Tướng, cung kính đảnh lễ, tôn xưng là Định Quang Như Lai ra đời.
Hòa thượng Hành Tu bảo:
- Đại sư Vĩnh Minh thật khéo nhiều lời. Ông ta cũng chính là Phật A Di Đà ứng thân đó! Nói xong, Hòa thượng Hành Tu ngồi yên mà hóa.
Ngô Việt Vương vội vã trở về chùa Vĩnh Minh định gạn hỏi cho rõ ngọn ngành thì Đại sư Vĩnh Minh-Diên Thọ cũng vừa thị tịch".

Thì ra, chư Phật và Bồ tát thường xuyên thị hiện để chuyển mê khai ngộ cho chúng sanh. Hành trạng của các Ngài vốn thong dong tự tại, không thể nghĩ bàn. Đại sư Vĩnh Minh-Diên Thọ được người đời truyền tụng là hóa thân của Phật A Di Đà nhưng trong 72 năm thị hiện làm Tăng ở Ta bà không ai biết được. Chỉ đến những giờ phút sau cùng, lúc thị hiện nhập Niết-bàn, mới phương tiện cho hàng Tăng kẻ tục biết Ngài là Phật A Di Đà hóa thân để tăng trưởng tín tâm, phát tâm niệm Phật, cầu vãng sanh Tây phương Tịnh độ. Từ đây, ngày sanh của hóa thân Phật A Di Đà (Đại sư Vĩnh Minh-Diên Thọ) được chọn làm ngày vía Khánh đản Phật A Di Đà.

VLCĐ: Hoa nở thì thấy Phật và chứng pháp vô sinh. Sự vui vẻ ở Tây Phương không có gì so sánh được. Niệm Phật cầu vãng sanh chính là phù hợp với tâm Phật. Nguyện sanh thì vãng sanh, không nguyện thì không vãng sanh. Nguyện không chuyên thiết thì cũng như không nguyện. Chẳng phải Phật không độ, chỉ vì không quyết chí.

 Các vị Thiện nhân! Nay đã thật tâm niệm Phật thì phải phát nguyện cầu sanh Tịnh độ, không thể chỉ mong cầu phước báo. Người đời nghe câu nói này chưa khỏi ngạc nhiên kinh lạ. Họ nghĩ tu hành vốn là mong cầu phước, niệm Phật được phước chính là việc vừa lòng thỏa ý, tại sao lại không muốn phước báo? Nếu nói Tịnh độ, lẽ nào bọn phàm phu chúng ta có thể vãng sanh? Huống chi công hạnh cạn mỏng làm gì được vãng sanh?
 
Các vị thiện nhân! Những tư tưởng ấy rất sai lầm, phải biết phước báo có lúc hết.
Thử xem người đời, hoặc ông bà giàu có, con cháu nghèo hèn, hoặc lúc trẻ giàu có, đến già nghèo hèn, đâu không phải là phước báo có khi hết. Không chỉ vậy, đời nay tu hành đời thứ hai hưởng phước, đời thứ hai không tu đời thứ ba lại chịu khổ. Hoặc có súc sanh lúc quả báo hết mới được thân người, vừa được làm người bị phạm lỗi lầm lại rơi xuống loài súc sanh. Lên xuống bất định cho nên gọi là nổi chìm trong biển khổ.
 
Không chỉ như thế, hoặc người có tài sản nhưng không con; hoặc có con mà không có tài sản; hoặc được sống lâu nhưng lại lẻ loi nghèo khổ; hoặc thông minh nhưng chết sớm; hoặc giàu có mà ngu dốt; hoặc sang trọng mà bị tai ương; hoặc tự thân ít bệnh mà quyến thuộc điêu linh; hoặc gia đình tạm an, thân mình bệnh tật. Có cái này lại thiếu cái kia, cho nên gọi cõi này là thế giới không hoàn mỹ. Ông cho rằng phước báo là cái vừa lòng thích ý hay sao?
 
Nếu sanh về Tây Phương thì không như thế. Hoa sen hóa sanh, thân thể thanh khiết, tướng mạo đoan chánh, trong tâm đầy đủ trí tuệ không có phiền não, y phục và thức ăn tự nhiên hóa hiện, không bệnh không già, theo Phật tự tại tiêu diêu an dưỡng. Tuổi thọ của con người ở đó lại vô
lượng, từ đây tiến thẳng đến chỗ thành Phật đạo không còn đọa lạc. Ngoài ra biết bao niềm vui vẻ nói không thể hết. Những điều trên là do chính Đức Phật nói trong kinh Di Đà và các kinh điển Đại thừa.
 
Do đây mà xét, sự giàu sang ở thế gian trong chớp mắt liền trở thành không; niềm vui vẻ nơi Tây Phương vô cùng vô tận. Sao không gấp rút phát nguyện cầu vãng sanh?
 
Nếu nói ta là phàm phu e không thể vãng sanh, nên biết Đức Phật Như Lai chính vì bọn phàm phu chúng ta nghiệp chướng sâu dày, trí tuệ cạn mỏng, nếu tu pháp môn khác đều là ra khỏi ba cõi theo chiều dọc, e trong một đời không thể thoát khỏi sanh tử. Thế nên đặc biệt mở ra một pháp môn niệm Phật, mong người vãng sanh để mãn tâm nguyện độ hết chúng sanh của Ngài. Tại sao ông lại tự vứt bỏ mình, chẳng suy tư để phấn phát, nỡ cô phụ tấm lòng từ bi của Chư Phật như thế?
 
Nếu cho rằng công hạnh cạn mỏng, nên biết Vạn đức Hồng danh không có điều thiện nào mà chẳng thâu nhiếp, không có điều ác nào mà chẳng tiêu diệt. Đây chính là công hạnh lớn cùng cực, sâu cùng cực, rộng cùng cực, viên mãn cùng cực. Cho nên niệm Phật một tiếng có thể diệt rừ vô lượng tội nặng trong tám mươi ức kiếp; không thể xem niệm Phật là việc tầm thường, chẳng có gì đặc biệt.
 
Phải biết người niệm Phật hoàn toàn nương vào sự nhiếp thọ nơi nguyện lực đại bi của Phật A Di Đà. Ban đầu Phật A Di Đà có bốn mươi tám nguyện, mỗi nguyện mỗi nguyện đều là vì cứu độ mọi người. Nguyện thứ 18 nói rằng:
 
" Khi Tôi thành Phật, chư Thiên nhân dân trong vô lượng thế giới khắp mười phương, chí tâm tin tưởng ưa thích, muốn sanh về nước Tôi, niệm danh hiệu Tôi mười lần ắt liền vãng sanh, chỉ trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch, chê bai chánh pháp. Nếu không được như nguyện này, Tôi quyết không thành Phật".
 
Do Đức Phật có đại nguyện này nên khi nhất tâm xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì trong ao thất bảo ở Tây Phương liền mọc một đóa hoa sen, nêu tên người ấy, ngày sau thác sanh trong đó, lúc lâm chung Phật A Di Đà cùng hai vị Bồ Tát Quan Ấm Thế Chí hiện thân tiếp dẫn.
 
Từ xưa đến nay, người được vãng sanh không thể tính hết. Hoặc có người dự biết trước ngày giờ lâm chung và đến lúc ấy tự nói thấy Phật Bồ Tát liền an nhiên mà qua đời. Hoặc có những người bên cạnh đồng thấy ánh sáng lành, cùng nghe mùi hương lạ và tiếng nhạc du dương. Hoàn toàn chẳng phải không có chứng tích, những việc ấy đều có ghi trong các truyện vãng sanh.
 
Hiện nay người niệm Phật chân thật khẩn thiết rất ít, cho nên vãng sanh không nhiều. Mọi người ít thấy điềm lành vãng sanh, do đó không tin sâu rộng, trăm dặm có một người. Người trong cả trăm dặm ngàn dặm được vãng sanh này đâu chỉ là phàm phu? Mười năm có một người, năm năm có một người, những người vãng sanh trong mười năm, năm năm này đâu chỉ là kẻ phàm phu? Những người vãng sanh này lẽ nào đều có công hạnh trong ba A tăng kỳ kiếp hay sao? Chẳng qua chỉ là họ có thể dụng tâm chân thật khẩn thiết mà thôi!
 
Trong kinh A Di Đà nói rõ:
 "Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe nói về Phật A Di Đà liền chấp trì danh hiệu hoặc một ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn động, liền vãng sanh về thế giới Cực Lạc".
 
Đó đều là do đại lực đại nguyện của Phật A Di Đà. Ví như một chiếc thuyền lớn, chẳng luận là vật gì chỉ cần để lên thuyền thì được đến bờ bên kia.Cho nên người xưa nói: "Học đạo các môn
khác như kiến bò lên non cao, niệm Phật cầu vãng sanh tợ đi thuyền thuận nước". Đi thuyền thuận nước lại gặp gió xuôi, đâu chẳng phải đã nhanh chóng còn thêm nhanh chóng, đó chính là đạo lý nhờ vào nguyện lực của Phật.
 
Các vị Thiện nhân! Thuận nước, thuận gió là việc sau khi đã lên thuyền. Nếu ông chẳng chịu lên thuyền thì biết làm thế nào? Cho nên chính mình cần phải có nguyện lực chuyên thiết.
 
Hiện nay người niệm Phật hoặc vì bệnh khổ mà phát tâm; hoặc vì bảo hộ gia đình; hoặc vì hiện tại tiêu trừ tai nạn, kéo dài tuổi thọ; hoặc vì vọng cầu giàu sang ở đời sau, ít có ai vì việc lớn sanh tử mà cầu vãng sanh Tịnh độ.
 
Như người đi sang phương Nam hay qua phía Bắc, phải có phương hướng dự định. Dự định sang phương Nam, khi ra khỏi cửa quyết chẳng đi về phía Bắc. Nay ông không phát nguyện cầu sanh Tịnh độ, đến lúc lâm chung làm sao được vãng sanh?
 
Đó là nói người không phát nguyện cầu vãng sanh. Lại còn có người phát nguyện nhưng không chuyên thiết, nên miệng cũng nói nguyện sanh Tây Phương, trong lòng lại luôn tham đắm vật dục. Tuy ngẫu nhiên phát nguyện cầu sanh nhưng hoàn toàn chẳng thể trọn đời như một ngày, được sanh thì tốt không vãng sanh thì thôi, hoàn toàn chẳng có công phu chi thiết thật, như thế đâu khác gì không phát nguyện.
 
Than ôi! Chúng sanh trong thế giới ác trược tham quyến phồn hoa, cam tâm sa đọa, chẳng cầu giải thoát, thật không biết phải làm sao?
 
Nói chung, pháp môn niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn, sự vui vẻ ở Tây Phương không có gì so sánh được. Niệm Phật cầu vãng sanh chính là phù hợp với tâm Phật. Nguyện sanh thì vãng sanh, không nguyện thì không vãng sanh. Nguyện không chuyên thiết thì cũng như không nguyện. Chẳng phải Phật không độ, chỉ vì ông không quyết chí.
 
Nếu đem pháp môn chẳng thể nghĩ bàn này mà tìm cầu phước báo nhỏ bé ở thế gian, ví như lấy hạt minh châu bắn chim sẽ. Thật là đáng tiếc thay!
 
Lành thay! Lành thay!
Chân thành phát nguyện.                    
Cầu sanh Tịnh độ.

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.