Articles by "Thư giãn"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thư giãn. Hiển thị tất cả bài đăng

VLCĐ: Lầm tưởng là trạng thái bình thường len lỏi vào bộ não của mình mà không cần biết mức độ điều khiển thái độ, hành động dẫn đến sự suy nghĩ và ứng xử không thật là của mình. Hãy đọc bài thơ "Đừng tưởng" và giai thoại sau đây để bùng lên trong đầu một chút bàng hoàng khi đã vỡ lẽ.

Cùng chuyên mục:
------------------

Đừng tưởng cứ núi là cao.. Cứ sông là chảy, cứ ao là tù

Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong

Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù.

Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan

Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ

Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần

Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

 

Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo

Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường.. Nói lời ngon ngọt mười phương chết người.


Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao

Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.


Đời người lúc thịnh, lúc suy

Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

Bên nhau chua ngọt đã từng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!


Tác giả: Còn đang tranh cãi
--------------------------

Dùng tâm tùy duyên để đối mặt với mọi thứ, mới có thể sống tự tại.

Xưa có một lão hòa thượng sống trong ngôi chùa cổ trên núi cao. Một ngày kia có vị hành giả ghé thăm chùa. Hành giả biết lão hòa thượng đã tu hành đắc Đạo, bèn hỏi ông rằng: “Trước khi đắc Đạo, ngài đã làm những gì?”
Lão hòa thượng trả lời: “Ta chẻ củi, gánh nước, nấu cơm.”
Hành giả hỏi: “Vậy sau khi đắc Đạo thì sao?”
Lão hòa thượng nói: “Ta vẫn chẻ củi, gánh nước, nấu cơm.”
Hành giả lại hỏi: “Vậy cái gì gọi là đắc Đạo?”
Lão hòa thượng ôn tồn trả lời: “Trước khi đắc Đạo, lúc chẻ củi thì nghĩ về gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ về nấu cơm, nấu cơm rồi lại lo ngày mai đi chẻ củi gánh nước.
Sau khi đắc Đạo, chẻ củi thì là chẻ củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì là nấu cơm.”Kỳ thực, đắc Đạo hay chưa chỉ khác nhau ở một chữ “Tâm” này mà thôi. Trước khi đắc Đạo, lão hòa thượng cũng giống như những người phàm phu khác, tâm không thể tĩnh tại, làm chuyện gì cũng nghĩ tưởng về quá khứ và tương lai. Chỉ khi đã khắc chế cái tâm này, thì lòng người mới có thể ung dung tự tại, tinh thần mới có thể thảnh thơi…


Vậy mới nói, hết thảy mọi phiền não trong đời là bởi tâm phàm quá nặng. Chỉ khi buông bỏ mọi dính mắc trong tâm, chúng ta mới có thể giải thoát chính mình. Phật gia giảng “xả”, giảng “buông”, khuyên con người hãy từ bỏ mọi chấp trước và dục vọng, bởi chỉ khi đã xem nhẹ mọi thăng trầm thì nội tâm mới có thể an nhiên tự tại.


Đọc đến đây, có lẽ bạn đã tìm được lời giải cho câu hỏi “Vì sao cuộc sống mệt mỏi?” Đó là bởi những thứ kiểm soát tâm trạng của bạn có quá nhiều! Ví như sự thay đổi của thời tiết, sự nóng lạnh của tình người, những phong cảnh khác nhau, v.v. đều có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của bạn.

Và tất nhiên, đó đều là những thứ mà bạn không thể kiểm soát.


Khi đã xem nhẹ rồi, thì bầu trời dẫu u ám hay trong xanh, con người dẫu chia ly hay tái hợp, vạn vật dẫu xoay vần biến đổi, thì lòng ta an nhiên không sợ hãi, thuận theo tự nhiên mà yên ổn.


Nỗi đau của hôm nay bắt nguồn từ sự phóng túng của hôm qua; nỗi khổ của đời này đều do nghiệp chướng từ kiếp trước. Bởi vậy, biết đối diện với hoàn cảnh, chấp nhận thực tại, sống thuận theo tự nhiên, thì tất cả mọi buồn phiền hay oán trách mới có thể tan hòa vào trong sự cảm ân…


VLCĐ: Một người thầy, người nghệ sĩ lội ngược những bất hạnh của cuộc sống để làm nên những điều phi thường và nhân đạo. Thầy Vinh biểu diễn miệng thì thổi đàn harmonica và tay còn lại đánh guitar đã khiến những người tham dự và khán giả rơi nước mắt liên tục.

Thầy Nguyễn Thế Vinh (sinh 1970) tại làng quê nghèo xứ cát Bắc Bình, Bình Thuận. Khi lên 8 tuổi, Nguyễn Thế Vinh bị ngã gãy tay và phải cưa cụt tay phải. Với một tay còn lại, Vinh có thể hòa tấu guitar và thổi Harmonica một cách nhuần nhuyễn. Để có thể điều chỉnh từng nốt nhạt trên cung đàn, Vinh đã mất hơn ba năm để tìm ra một cách riêng khi mình chỉ có một cánh tay.

Một người thầy, người nghệ sĩ lội ngược những bất hạnh của cuộc sống để làm nên những điều phi thường và nhân đạo. Thầy Vinh biểu diễn miệng thì thổi đàn harmonica và tay còn lại đánh guitar đã khiến những người tham dự và khán giả rơi nước mắt liên tục.

Thầy Thế Vinh, một người khuyết tật nhưng đầy nghị lực cũng như tình thương để giúp đỡ những trẻ em kém may mắn. Xem anh trình diễn nhạc phẩm Biển Nhớ của NS TCS, thấy anh đâu thua gì một nghệ sĩ chuyên nghiệp dù chỉ còn lại có một cánh tay trái, thấy cả một trời say đắm mà anh gởi hồn vào trong bài nhạc.
Chúc thầy luôn có nhiều sức khoẻ.


Xem thêm tại:

https://www.youtube.com/watch?v=0wCI5_WlkfY&list=RD0wCI5_WlkfY#t=83

Lĩnh vực ca nhạc Phật giáo từng có một thời hoàng kim. Đó là khoảng thời gian từ đầu thập niên 1970. Tuy các ca khúc Phật giáo thời điểm ấy ra đời không đáng kể nhưng lại sớm đi vào lòng người. … Và, gần 10 năm trở lại đây, các chương trình biểu diễn văn nghệ Phật giáo đã thực sự lan tỏa vào công chúng. Tuy nhiên, đó là chuyện trước đây, giờ chỉ còn là hoài niệm…

Những năm gần đây, các hoạt động văn hóa - văn nghệ Phật giáo có nhiều khởi sắc. Đặc biệt, các hoạt động văn nghệ Phật giáo diễn ra khá sôi nổi, nhất là vào những dịp Lễ Phật đản, Vu lan và các cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề của Phật giáo.

Thế nhưng, sau những "show diễn" ấy, đến nay phong trào văn nghệ Phật giáo chịu không biết bao lời "bàn ra, tán vào" từ công chúng. Bởi lẽ, các chương trình văn nghệ Phật giáo vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thật sự đi vào lòng công chúng, nếu không muốn nói là "lượng nhiều chất ít".

Tìm lại chút… hương xưa
Cùng với sự đi lên của đất nước, Phật giáo Việt Nam ngày càng phát huy sức mạnh và vai trò của văn hóa Phật giáo trong cộng đồng dân tộc; tính nhập thế của Phật giáo ngày càng được lan tỏa. Một trong những nhân tố tạo nên sự kết nối giữa cộng đồng với Phật giáo đó là các hoạt động biểu diễn nghệ thuật Phật giáo, cụ thể là ca nhạc Phật giáo.

Lĩnh vực ca nhạc Phật giáo từng có một thời hoàng kim. Đó là khoảng thời gian từ đầu thập niên 1970. Tuy các ca khúc Phật giáo thời điểm ấy ra đời không đáng kể nhưng lại sớm đi vào lòng người. Có thể nêu một vài tác phẩm âm nhạc điển hình: Trầm hương đốt (bài Nguyện hương), sáng tác của Bửu Bác, Ca khúc Phật giáo Việt Nam, sáng tác của Lê Cao Phan hay Nhớ mùa Phật đản, ca sĩ Bảo Yến hay các ca khúc Chắp tay hoa (Phạm Duy - thơ Phạm Thiên Thư), Lạy Phật con về (Lê Mạnh Cương) và Nam mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật (Thẩm Oánh)… Và, gần 10 năm trở lại đây, các chương trình biểu diễn văn nghệ Phật giáo đã thực sự lan tỏa vào công chúng. Tuy nhiên, đó là chuyện trước đây, giờ chỉ còn là hoài niệm…

Trong một lần trò chuyện với chúng tôi, nhạc sĩ Giác An nhớ lại, trước năm 1975 đã từng có nhiều chương trình văn nghệ Phật giáo thu hút khá đông quần chúng nhân dân và Phật tử. Anh vẫn nhớ như in một chương trình làm tắc nghẽn con đường trước tháp Việt Nam Quốc Tự do Phật giáo tổ chức vào rằm tháng 4 năm 1973. Thời kỳ đó, nhà hát Hòa Bình chưa được xây dựng và không gian nơi này chỉ có tháp Việt Nam Quốc Tự. Một sân khấu khá quy mô được dựng lên dưới chân tháp và khoảng sân rộng xung quanh đã không đủ chỗ cho hàng vạn khán giả đến thưởng thức những tiếng hát khá nổi lúc bấy giờ như Thoại Miêu, Đông Phương và cả những tiết mục được anh chị em Gia đình Phật tử dàn dựng. "Lần đầu tiên trong đời, tôi được chứng kiến khung cảnh chen chật để đến với văn nghệ Phật giáo như thế. Phải nói rẳng, sự đầu tư và trau chuốt cho đêm diễn đã kéo khán giả đến với chương trình. Đến nỗi các con đường xung quanh Việt Nam Quốc Tự không còn chỗ bước chân và đến tận khuya mọi thứ mới trở lại bình thường", nhạc sĩ Giác An nhớ lại.

Hẳn trong lòng giới mộ điệu thành phố vẫn còn dư âm, ấn tượng đêm văn nghệ chung kết trao giải Hội thi văn nghệ Phật giáo diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình, TP.HCM vào ngày 5-5-2008, chào mừng Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008. Chương trình do đạo diễn Xuân Phước dàn dựng. Đây là một chương trình ca múa nhạc Phật giáo được tổ chức nghiêm túc và công phu với sự chuẩn bị hơn 2 tháng. Biết được điều khó khăn khi chuyển tải hình ảnh Phật giáo đến công chúng nên toàn bộ êkíp của chương trình đã tận lực để mang đến những điều tốt nhất cho công chúng. Và sau đó, thật sự là tuyệt vời vì chương trình đã thu hút khá đông khán thính giả, nhiều khán giả tỏ ra hối tiếc khi không có được chiếc vé vào xem. "Cũng khó có chương trình nào có thể lặp lại sự ấn tượng ấy", TT. Thích Thiện Bảo, Trưởng ban Văn hóa THPG TP.HCM nhìn nhận.

Một dư âm khá sâu sắc, đã thực sự đi vào tâm trí của mọi người dân Việt Nam cũng như Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước về đêm văn nghệ chào mừng Đại lễ Vesak 2008 tại Việt Nam. Ngay đêm biểu diễn đầu tiên trong số các chương trình phục vụ đại biểu quốc tế trong thời gian Đại lễ Phật đản LHQ tại Hà Nội tổ chức ở Trung tâm Hội nghị quốc gia đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm. Sân khấu văn nghệ được thiết kế chủ yếu bằng các màn hình lớn và mô hình hai đóa hoa sen được họa sĩ Đinh Công Đạt cách điệu từ các họa phẩm Phật giáo. Đặc biệt nhất là đêm nhạc giao hưởng với chủ đề "Khai giác" của nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo, đây là một chương trình văn nghệ Phật giáo được dàn dựng rất công phu với sự tham gia của 500 nhạc công, trong đó có 54 Tăng Ni. Ý nghĩa của "Khai giác" đưa đến cho khán thính giả thông điệp về con đường giác ngộ từ Thái tử Shiddharta trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni...

Để có được các chương trình văn hóa, nghệ thuật như vậy, Ban Tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc và các tổ chức, nhạc sĩ, ca sĩ, nhạc công… đã tích cực chuẩn bị từ nhiều tháng liền. Những người thực hiện chương trình mong muốn được đem tâm sức, trí tuệ, tài năng của mình để gởi gắm thông điệp của Đức Phật về hòa bình, hòa hợp và lòng yêu thương, đồng thời góp phần khắc họa hình ảnh Việt Nam thân thiện và giàu bản sắc văn hóa đến với bạn bè quốc tế.

Cách đây vài năm, chúng tôi từng xem một buổi biểu diễn hòa nhạc Phật giáo đặc biệt tổ chức tại thành phố biển Nha Trang, trong khuôn khổ Tuần văn hóa Phật giáo do Ban Văn hóa Trung ương phối hợp với Ban Trị sự PG Khánh Hòa tổ chức. Chương trình được các giảng viên, nhạc sĩ, nghệ sĩ, ca sĩ thuộc Học viện Âm nhạc Huế dàn dựng và luyện tập khá công phu, với những tác phẩm âm nhạc mang âm hưởng Phật giáo sâu sắc qua các thời kỳ được biểu diễn kéo dài khoảng 120 phút. Ý tưởng chủ đạo của chương trình là con đường dẫn đến âm nhạc tâm linh Phật giáo mà đỉnh cao là bản Đạo ca "Phật giáo Việt Nam". Toàn bộ chương trình biểu diễn gồm các tiết mục đơn ca, song ca, hòa tấu, độc tấu, tam tấu... được dàn dựng theo một ý tưởng chủ đạo trang nghiêm mà thanh thoát, nhẹ nhàng mà sâu lắng bởi các cung bậc của nhạc cụ piano, nhóm đàn dây, saxophone… đã khiến tất cả thính phòng cảm thụ và thăng hoa theo từng giai điệu trầm lắng và trong sáng. Được biết đây là một trong những thể nghiệm mới do các nghệ sĩ Phật tử tại Học viện Âm nhạc Huế, bắt đầu từ sự kiện Tuần Văn hóa Phật giáo lần thứ 1 tại đất cố đô giàu văn hiến.

Tiếng hát đi qua… chẳng gì đọng lại
Trong gần 10 năm trở lại đây, không khí hoạt động văn nghệ Phật giáo khá sôi nổi, các chương trình ca múa nhạc Phật giáo được diễn ra khá đều đặn trong các dịp Lễ Phật đản, Vu lan hay các cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề của Phật giáo. Và, show diễn có tính hoành tráng hay buồn tẻ cũng tùy thuộc tính quy mô của từng chương trình. Chẳng hạn như, các chương trình ca nhạc Phật giáo"Vầng trăng mẹ" do Ban Văn hóa THPG TP.HCM tổ chức vào dịp Lễ Vu lan hàng năm, các đêm diễn văn nghệ chào mừng Hội nghị Nữ giới Phật giáo Thế giới lần thứ 11 tại Việt Nam được tổ chức tại Hội trường Nhà Truyền thống-Văn hóa tại TP. Hồ Chí Minh, đêm văn nghệ Phật giáo chào mừng Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2010 tại Kiên Giang, gần đây nhất là chương trình ca múa nhạc Phật giáo "Mừng ánh Đạo" được cho là hoành tráng nhất, tổ chức tại Sân vận động Gò Đậu, Bình Dương - chương trình chào mừng Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2011... Nhìn chung, các chương trình biểu diễn cũng xuất hiện nhiều tiết mục được dàn dựng khá công phu. Thế nhưng, tất cả chỉ dừng lại ở tính hình thức nếu không muốn nói là kém chất lượng nghệ thuật, thiếu chuyên nghiệp, thiếu sự thống nhất trong nội dung, ý tưởng…

Rất nhiều khán thính giả không còn mặn mà khi xem các chương trình văn nghệ Phật giáo. Nguyên nhân dẫn đến sự "nhàm chán" này là do chương trình không đáp ứng sự mong mỏi của khán thính giả hay nói khác hơn, không có công chúng. Các buổi trình diễn văn nghệ (dù không bán vé) nhưng vẫn ít người đến xem. Các ca sĩ lại không mấy mặn mà với các ca khúc Phật giáo mà chính bản thân mình phải hát đi hát lại. Như ca khúc Đêm tụng kinh Pháp Hoa được thể hiện qua tiếng hát của ngôi sao ca nhạc, ca sĩ Phương Thanh, nghe rất truyền cảm. Nhưng đáng tiếc là hầu hết các chương trình sân khấu ca nhạc Phật giáo diễn ra tại TP.HCM hay các tỉnh lân cận nếu trong chương trình có ca khúc này thì chắc chắn có sự xuất hiện của… ca sĩ Phương Thanh!

Tại các buổi biểu diễn văn nghệ Phật giáo, thành phần khán thính giả ngoài Tăng Ni, Phật tử, có thêm một số doanh nhân, vài sinh viên học sinh và… hết! Nhưng rồi không ít khán giả bỏ về khi chương trình chưa kết thúc. Một nguyên nhân khác dẫn đến sự "đơn độc" của văn nghệ Phật giáo là do thiếu tính truyền thông, chưa thực sự đi vào chuyên nghiệp. Nếu có, cũng chỉ là chuyện… xưa nay hiếm. Hầu hết, những buổi diễn văn nghệ chỉ mang tính "phục vụ cho vui" nên vấn đề "cây nhà lá vườn" đã phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng chương trình. Mặt khác, các đạo diễn hay nhà làm kịch bản các chương trình văn nghệ Phật giáo còn quá nghiệp dư, lại quá "hào phóng" khi đưa nhiều tiết mục và thể loại như: trích đoạn cải lương, hát bội… vào chương trình ca múa nhạc, kể cả những ca khúc không "ăn nhập" gì đến Phật giáo, nhưng vì bài hát ấy có "sao" biểu diễn. Gần đây, khi xem chương trình văn nghệ Phật giáo "Mừng ánh Đạo" chào mừng Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc tại Bình Dương, ngoài các tiết mục ca nhạc, sân khấu hóa, trích đoạn cải lương… vị đạo diễn chương trình còn "cho thêm thực đơn" bằng ca khúc "Và con tim sẽ vui trở lại"do ca sĩ Hiền Thục trình bày!

Không thể nhầm lẫn giữa chương trình biểu diễn văn nghệ Phật giáo mang tính chuyên nghiệp có công chúng với một chương trình "cây nhà lá vườn". Nhiều đạo diễn quan niệm làm cho chương trình văn nghệ Phật giáo là để… cúng dường. Thành phần tham gia chương trình cũng không ngoài quan niệm ấy nên chương trình chỉ mang nặng tính phục vụ cho có chứ không đặt nặng đến tính nghệ thuật.

Ca khúc Phật giáo "lượng nhiều hơn chất"
Hơn bao giờ hết, thời gian gần đây, các ca khúc Phật giáo được "khai sinh" rầm rộ. Người ta còn "gắn" mác "kỷ lục sáng tác" cho một nhạc sĩ sở hữu nhiều ca khúc Phật giáo nhất. Nhưng rồi cơ quan cấp chứng nhận kỷ lục phải cáo lỗi công chúng và rút lại "danh hiệu" vì… trao nhầm! Và, các ca khúc Phật giáo mới ra đời cũng chỉ quanh đi quẩn lại vài tác giả như: Tâm Nguyên, Hằng Vang, Uy Thi Ca, Vũ Ngọc Toản, Giác An, Lâm Nguyễn, Quý Luân… Tuy nhiên, để có ca khúc "để lại đời" thì quả thật hơi… hiếm! Bên cạnh đó, các nhạc sĩ dù có tên tuổi vẫn không còn nhiệt huyết sáng tạo, thường lặp đi lặp lại hoặc của mình hoặc của người khác, rất ít ai phiêu lưu đi tìm cái mới: ý tưởng, phong cách thể hiện… Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận tài năng và chất lượng các ca khúc của một số nhạc sĩ thực sự có tài, có nhiệt huyết nhưng số nhạc sĩ dấn thân ấy lại chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Cơ chế thị trường ngày càng có khuynh hướng ảnh hưởng, tác động đến sức sáng tạo của những người làm nghệ thuật. Một số nhạc sĩ lúc đầu sáng tác có chất lượng, dần dần với áp lực của thị hiếu khách hàng hay chạy theo "kỷ lục" đã "nhân bản tác phẩm" lúc nào không hay, chất lượng nghệ thuật giảm sút nghiêm trọng gây chán nản và mất lòng tin của khán thính giả khi tìm đến ca múa nhạc Phật giáo. Thực trạng khủng hoảng của văn nghệ Phật giáo sẽ không được hóa giải nếu không kịp thời chấn chỉnh. Sẽ chẳng bao giờ có lại thời hoàng kim nếu như nền văn nghệ Phật giáo vẫn "bó tay" trong việc tạo cho mình một công chúng trong nước; vẫn còn quá mập mờ, nhá nhem giữa cái chuyên nghiệp và cái bán chuyên nghiệp, cái sáng tạo với cái rập khuôn…

Phải trả lại "không gian sống" cho văn nghệ Phật giáo về đúng với vị trí của nó bằng con đường tìm tòi, sáng tạo những hình thức nghệ thuật mới, những giá trị thẩm mỹ mới. Các ngành chức năng, cụ thể nhất là ngành văn hóa Phật giáo cần sớm có một tổng kết nghiêm túc về thực trạng của nền văn nghệ Phật giáo hiện nay, cũng như nhanh chóng hoạch định những mục tiêu cho sự phát triển của văn nghệ Phật giáo, bởi sự tiến bộ của nó góp phần không nhỏ vào sự phát triển của Giáo hội cũng như tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam.

Giang Phong – Bảo Thiên
Nguồn: giacngo.vn - Ảnh Internet

VLCĐ: Hình ảnh đẹp của người Việt Nam trong lao động: Dù lấm láp, vất vả, nụ cười vẫn nở trên gương mặt những người lao động giữa khung cảnh thanh bình. Những hình ảnh được thể hiện trong Cuộc thi Ảnh Nghệ thuật VnExpress 2014.







Người phụ nữ bán hoa trong bức ảnh "Sen phố" của Vũ Xuân Thao.
"Lúa về làng" - Vũ Đức Phương.
"Thôn nữ làng nghề" - Đỗ Lâm Viên.
"Màu tím mùa xuân" - Trần Minh Trung.
"Được mùa kén" - Nguyễn Văn Thương.
"Quăng chài trên sông Bùi" - Trần Trọng Độ.
Những người đàn ông vạm vỡ trong tác phẩm "Ngư phủ" của Đỗ Hữu Tuấn.
Em bé rạng rỡ khi phụ giúp cha mẹ trong bức ảnh "Niềm vui" của Bùi Quốc Sỹ.
"Sánh bước mưu sinh" - Lê Vấn.
"Hoa xuân" - Hiếu Minh Vũ.
"Chiều Thượng Lâm" - Đinh Văn Cường.
"Hồi ức" - Đàm Văn Đức.
"Mùa cói" - Le Chau Dao.
"Đò chở thời gian" - Nguyễn Hoàng Thanh.
"Chợ trên sông" - Đặng Hồng Long.
"Thợ hầm lò" - Phạm Huy Đằng.
"Niềm vui" - Trần Quỳ.



Song Ngư


VLCĐ: Tu Bụi - Truyện dài của tác giả Trần Kiêm Đoàn, người đọc: Biển Và Em - tu giữa bụi trần là câu chuyện kể về những đổi thay không ngừng trong cuộc đời của một con người với nhiều hạnh phúc lẫn đắng cay song hành. Qua cảm nhận của một người mà phần lớn cuộc sống riêng gắn liền với triết lý Phật giáo, tác giả Trần Kiêm Đòan đã gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình vào nhân vật Trí Hải-hình tượng của một kẻ thích “phiêu bạc giang hồ” giữa thế giới để hành đạo và sẵn sàng từ bỏ địa vị giàu sang, quyền chức của một vị hòang thân nhà Nguyễn để nhập thế của sự tu hành. 


Lấy xuống coi dần: CLIK CHUỘT

Được vua Gia Long tin dùng nhưng bị tân vương Minh Mạng nghi ngờ, thân phận “xuống chó” nhiều hơn “lên vua” của Trí Hải tưởng chừng như đã đi vào sự bế tắc, tuyệt vọng. Nhưnh chính lúc này, tinh thần hóa giải của đạo Phật đã giúp ông tìm ra phương hướng để giải quyết, vừa ít thiệt thòi nhất, vừa không gây đau khổ cho mình và cho người khác. Đó là quá trình chuyển hóa từ tình trạng bị dính mắc, trói buộc tròng vòng đời trần tục đến buông xả, tự do trong tinh thần từ bi và trí tuệ nhân bản đượm mùi triết lý Phật giáo. Cuộc sống tình cảm riêng tư của Trí Hải còn gắn liền với Ba Gấm-một cung nữ hầu cận riêng cho công chúa Ngọc Nữ và xuất thân trong một gia đình nông dân. Từ tình cảm và mối quan hệ anh-em, trên-dưới ban đầu, cả hai đã yêu nhau. Tuy không đến đích cuối cùng, nhưng cuộc tình đầy đam mê, thơ mộng và cũng lắm trái ngang của họ đã thóat qua ngõ cụt của tuyệt vọng, hủy họai để chuyển hóa thành lòng thương quý và sự hy sinh cao thượng cho mình và cho người.

Những diễn biến của câu chuyện, những suy nghĩ, hành động và chuyển biến tâm lý của các nhân vật trong Tu bụi vừa liền mạch, vừa cắt rời nhau qua mỗi chương để nói lên những vấn đề liên quan đến đạo Phật. Tuy nhiên, cái hay nhất là tác giả vẫn giữ được tính thống nhất của nội dung; các tình tiết được diễn đạt khá tinh tế, hấp dẫn, có khi vừa nhẹ nhàng, đôi lúc đầy kịch tính qua sự chuyển biến bất ngờ trong tính cách và cách hành xử của từng nhân vật. Điển hình nhất là trong chương 26, trận đấu sinh tử giữa Trần Minh và Phạm Xảo dẫn đến cái chết của Phạm Xảo mang đầy tính nhân văn và đưa diễn biến của câu truyện dài này đến đỉnh điểm tuyệt xảo. Thêm vào đó, Ba Gấm và thầy Tiêu từ giã cuộc đời trần trong xót xa nhưng cũng đầy lý tưởng “ vì nghĩa quên mình” chính là biểu tượng làm dấu nhấn cho việc Tu Bụi giữa đời, đem cái Tâm Giác Ngộ để xả kỷ, hành thiện…

Cuốn sách vừa lôi cuốn vừa khéo léo vừa đẹp về cả ba phương diện: văn học, triết học và đạo học. Đây là một đạo Phật gần với một triết lý sống thật giữa đời hơn là chìm sâu trong thế giới tâm linh thuần tôn giáo.
Đọc Tu Bụi của tác giả Trần Kiêm Đoàn, tôi có cảm tưởng như nhìn thấy một mảnh bóng dáng của chính mình qua nhận vật chính là Trí Hải.

Đời Trí Hải có nhiều biến cố. Từ vị trí của một vị Hoàng thân, được tiên vương Gia Long tin tưởng, nhưng lại bị tân vương Minh Mạng nghi ngờ, nhân vật Trí Hải từ địa vị cao sang, bước vào cuộc đời đầy gió bụi. Ông ta cũng có khi bị trôi nổi, vùi dập trong từng chặng đời khi lên, khi xuống qua hoàn cảnh sống và suy tư của riêng ông. Gặp những lúc khó khăn và khúc mắc nhất trong cuộc sống, Trí Hải phải dựa vào tinh thần hòa giải của Phật giáo để tìm ra phương hướng giải quyết. Hóa giải theo tinh thần đạo Phật trong Tu Bụi có 3 cấp độ: Biết rõ vấn đề như một khổ nạn tất yếu của cuộc sống; hiểu rõ và dấn thân sống thật với vấn đề; và sử dụng toàn trí toàn tâm để chuyển hóa khổ ách từ tình trạng bị dính mắc và trói buộc đến buông xả, tự do trong tinh thần từ bi và trí tuệ nhân bản đượm mùi Phật giáo.
Đấy là cách giải quyết vấn đề ít thiệt thòi nhất và không gây đau khổ cho mình và cho người, bởi vì cốt tủy của sự thay đổi hay "tu" là chuyển hóa thực tế chứ không tiêu diệt vấn nạn bằng danh từ suông hay bằng sự ỷ lại siêu hình, dễ dãi nào cả. Như lối thoát cho cuộc tình đầy đam mê, thơ mộng nhưng ngang trái giữa Trí Hải và Ba Gấm không phải là một ngõ cụt của tuyệt vọng, hủy hoại mà là sự chuyển hóa từ dục vọng tầm thường vươn lên cao thành ra lòng thương quý và sự hy sinh cao thượng cho mình và cho người.

Từ gốc rễ, Trí Hải không phải là người theo đạo Phật, nhưng ông đã học và đã thực hành theo tinh thần đạo Phật qua hai nhân vật tu sĩ là sư Trúc Lâm và thầy Tiều. Tuy phương pháp tu hành khác nhau, thầy Tiều đi vào đời sống xô bồ đời thường và sư Trúc Lâm đi vào đời sống thanh tịnh, ẩn dật, nhưng cả hai vị tu sĩ này đều thấy rõ được bản chất cá nhân để chọn pháp môn thích hợp cho mình và cho đời. Tôi có cảm tưởng như hai nhà sư xuất hiện giữa đời này khác nhau như sao Hôm, sao Mai; nhưng từ trong cội nguồn, họ là Sâm Thương, là một, là hai lữ hành cùng bước đi trên một con đường Trí Tuệ dẫn về phương giải thoát.

Về hình thức văn chương, Tu Bụi không phải là một tác phẩm tiểu thuyết (fiction) đúng nghĩa; mà cũng chẳng phải là một tác phẩm biên khảo hay lịch sử mang tính phi tiểu thuyết (non-fiction) thực sự. Nhiều đoạn văn đẹp và giàu vần điệu trôi chảy như thơ. Nhiều đoạn văn lý luận mang tính triết học và phân tích tâm lý rất sâu và trừu tượng. Cũng có những đoạn văn trình bày sự kiện lịch sử, dữ kiện xã hội và khoa học có thật để làm bối cảnh cho dòng tưởng tượng trôi chảy. Nhưng thật ra, chất liệu "lịch sử" trong Tu Bụi thường chỉ là một cái cớ được dựng lên bằng dữ kiện trộn lẫn với tưởng tượng và sự sáng tạo đầy tính nghệ sĩ và phóng khoáng của tác giả. Bởi thế, nếu đi tìm lịch sử trong Tu Bụi thì phải tìm bằng tiếng hát tuyệt vời của chàng Trương Chi tưởng tượng bên cạnh Mỵ Nương là nàng công chúa yêu kiều đâu đó trong lịch sử.

Theo tôi, đây là một tác phẩm mang đậm nét tinh thần đạo Phật, lý giải được một số tín điều cũng như quan niệm triết học vẫn còn nằm sâu trong góc khuất tư tưởng. Với cảm nhận nghệ thuật riêng, tôi nhận định rằng: Tu Bụi vừa lôi cuốn vừa khéo léo vừa đẹp về cả ba phương diện: văn học, triết học và đạo học. Đây là một đạo Phật gần với một triết lý sống thật giữa đời hơn là chìm sâu trong thế giới tâm linh thuần tôn giáo.

Tuy nhiên, điểm nổi bật hơn cả là cái Tâm của người viết. Đấy là tấm lòng hướng đến điều thiện. Tác giả Trần Kiêm Đoàn đã dùng đến một lối hành văn trôi chảy, uyển chuyển, giàu hình tượng và ví von đầy cảm xúc. Ngay cả trong lý luận thì hình ảnh và cảm tính nghệ thuật cũng đã được vận dụng một cách tài hoa. Lắm lúc, sự lãng mạn tràn trề hay phẫn nộ, bùng vỡ nhưng vẫn giữ được vẻ tròn trịa, quý phái và cổ kính trong ý, trong từ và trong điệu văn.

Nếu chỉ phủi bụi bằng đôi tay và cây chổi của đời thường thì chỉ làm cho những lớp bụi có cơ dày thêm. Bụi đời chỉ có thể rửa sạch bằng đôi mắt thương (từ nhân) và bằng tấm lòng trung chính (chân tâm). Tác phẩm Tu Bụi đã thành công trong việc gợi ý "Quét bụi trần gian" qua nghệ thuật kết cấu mang tính biểu tượng (symbolism) và tâm lý nhân vật được xây dựng mang tính cường điệu sáng tạo (creative exaggeraion) gây ấn tượng sâu và đậm cho người đọc.
Tu bụi để phủi được lớp bụi vong tình.
Trong dòng suối cũ tâm linh,
có một con nước vừa lên,
rất mới.

Trích Lời giới thiệu sách của Bác sĩ Mahinđa Phúc NguyênColombo

VLCĐ: Ước mơ của một chú tiểu: Ngày nay nhớ lại quãng đời làm chú tiểu mà tôi cảm thấy nuối tiếc. Quãng thời gian để chỏm sao mà quá nhiều kỷ niệm dễ thương. Ngày còn cái chỏm xinh xinh trên đầu, tôi cứ ngây ngất nhìn quý thầy đắp y vàng làm lễ mà ao ước. Mỗi khi trông quý thầy đắp y là tôi lại tính nhẩm coi còn bao lâu nữa tôi mới được diễm phúc khoác chiếc y vàng đó. Chỉ đơn giản như thế mà cũng trở thành ước mơ của một chú tiểu.

Những kỷ niệm đầy đạo tình, đạo vị trong chốn thiền môn. Nhiều lúc tôi thầm nguyện đức Phật biến tôi trở lại làm chú tiểu như năm xưa. Tôi thật sự nhớ những năm tháng đó. Tôi yêu những giây phút vui buồn đó.Tôi không muốn làm hòa thượng gì hết, chỉ muốn làm một chú tiểu vô tư hồn nhiên luôn có những ước mơ an lạc giải thoát trong giáo pháp.

Ngôi chùa tôi xuất gia nằm sâu trong một ngôi làng nhiều tre, dọc theo con sông. Trong khuôn viên chùa trồng rất nhiều cây ăn trái, nào xoài, ổi, mận, me và nhiều thứ hoa thơm khác như ngọc lan và hoa sứ. Vào những đêm trăng tròn mà thả bộ kinh hành trước sân chùa thì tuyệt vời. Ánh trăng chiếu xuyên qua kẽ lá rọi xuống đất khiến ta cứ tưởng là những thỏi vàng di động huyền ảo. Cứ mỗi khi các thỏi vàng di động là không gian màu sữa ấy cho ta thưởng thức mùi thơm thoang thoảng của sứ, của ngọc lan. Ánh sáng ấy, mùi hương ấy hòa lẫn với tiếng xào xạt của lá tạo thành một không gian mầu nhiệm nơi cửa Phật.


Nguyên nhân xuất gia của tôi không biết do đâu. Trước khi xuất gia tôi đã là vị “khách không mời” của chùa. Ngày nào tôi cũng đến “chăm sóc” mấy cây xoài, cây ổi mỗi khi mùa trái chín. Hết mùa trái chín thì vị khách đó cũng vắng bóng dần dần. Cứ mỗi lần tôi đi chùa như vậy là được các chú tiểu cùng tuổi với tôi vui mừng tiếp rước, không những thế mà quý thầy còn để dành cho tôi nào trái cây, bánh chuối sau những ngày rằm, mùng một. Như thế tôi quen dần và dĩ nhiên tôi trở thành một thực khách thường xuyên trong chùa.

Nguyên nhân chính của tôi từ một đứa bé nghịch ngợm trở thành một chú tiểu hiền hòa có lẽ là do một số bánh chuối cúng Phật. Bởi vì khi dâng hương, hoa, quả phẩm cúng Phật, thí chủ đã phát Bồ-đề tâm rất rộng lớn. Cúng Phật rồi thì sau đó ai dùng cũng được, không nhất thiết phải là quý thầy, quý chú trong chùa. Ngày đó, tôi hưởng được nhiều bánh chuối cũng có nghĩa là tôi tiếp thu hạt giống Bồ-đề từ nhiều người khác nhau một cách gián tiếp. Nhờ hạt giống Bồ-đề ấy mà tôi trở nên hiền hòa và xuất gia. 


Lúc đó, có vài lần tôi là một thính chúng bất đắc dĩ trong nhiều buổi thuyết pháp của thầy, nhưng tôi chẳng thấm một chút pháp vị, pháp lạc nào cả. Cái mà mang lại cho tôi nhiều pháp vị, pháp lạc nhất là vài trái chuối chín gần đen hay một đĩa xôi đã khô cứng trên mặt và một cái vuốt đầu nhẹ của thầy. Theo tôi, đó là bài pháp hay nhất, mang lại an lạc lâu nhất. Có lẽ do Bồ-đề tâm của các thí chủ thành kính quá cho nên đức Phật chứng giám và Ngài đã truyền vào trong nải chuối, đĩa xôi một chất liệu giải thoát. 


Ngày đó, tôi thường rủ mấy đứa bạn cùng làng lên chùa lượm trái cây để được quý thầy cho ăn bánh chuối và vuốt đầu, nhưng chẳng mấy đứa chịu đi. Thế mới biết những đứa ấy không đủ phước duyên để hưởng thụ hương vị Bồ-đề giải thoát của Phật. Cho đến khi tôi đã trở thành chú điệu, lúc nào tôi cảm thấy Bồ-đề tâm của tôi có phần yếu kém, tôi thường lẻn lên chánh điện, coi trước ngó sau cẩn thận, bẻ một trái chuối trên cỗ bồng hay xén bớt vài cái bánh in trên bàn Phật để bồi dưỡng Bồ-đề tâm. Mỗi lần bẻ chuối như vậy, tôi thường bẻ hàng dưới của nải chuối nằm giữa, sau đó hất qua hất lại cho lấp đi khoảng trống đó. Xén bánh in cũng vậy, lấy bớt một cái, sửa lại mấy cái kia cho đều để mọi người không nhận ra dấu mất. Tôi “chia xẻ” phần của đức Phật một cách lén lút như thế mà Ngài cũng vẫn mỉm cười tha thứ. Thật là đức Phật từ bi vô hạn. Chỉ có ông Hộ Pháp có ý gây rắc rối mà thôi, chống nạnh, trợn mắt, nghiêm mặt, nhưng tôi không sợ, vì tôi không lấy của ổng.


Một điều nữa cũng khiến cho tôi thích thú và ước mơ là những buổi chấp tác của các chú tiểu. Thì cũng mấy đứa bạn quen cùng lớp với tôi mà thôi, nhưng khi xuất gia, trên đầu chừa lại một lọn tóc cỏn con, mình mặc bộ áo vạc khách nâu sồng dài gần tới đầu gối thì đứa nào trông cũng dễ thương, cũng có dáng vẻ thanh cao giải thoát kỳ lạ. Không biết do lời kinh tiếng kệ hay do hấp thụ nét từ bi và hiền hòa của đức Phật mà đứa nào khi cạo tóc để chỏm gương mặt cũng trở nên sáng láng, nụ cười cũng tươi, toát lên một vẻ rất là thiên thần. 


Chính nét mặt đó, nụ cười đó và chỏm tóc đó đã chinh phục được thằng bé nghịch ngợm như tôi. Cũng mấy chuyện lặt vặt như rửa chén, nấu cơm, lặt rau mà tôi thường làm ở nhà, thế mà khi các chú làm thì trông đẹp lắm, cảm động lắm. Với bộ nâu sồng dài tới gối, các chú vừa lom khom quét nhà vừa đưa bàn tay nhỏ xíu vén lại cái chỏm mà thương. Khi các chú thọ trai, tôi thích nhìn các chú nâng chén cơm ngang trán cúng dường. 


Những bàn tay thiên thần nhỏ cũng bắt ấn. Tay trái thì co hai ngón giữa, ba ngón còn lại thẳng đứng lên để nâng bát cơm. Quý thầy thì dù có để bát cơm lên trên đấy cũng không sao, nhưng tội nghiệp cho các chú, ba ngón tay thẳng đứng đó muốn quỵ xuống. Tay phải thì ngón cái đè trên ngón áp út để ngang hông bát cơm. Trong những lúc quý thầy và các chú thọ trai như vậy, tôi chưa được phép ngồi chung, chỉ khi nào cúng dường xong, đến phần dùng cơm, tôi mới được ngồi cùng các chú ăn cơm. Khi đứng bên ngoài chắp tay trước ngực để hầu quý thầy cúng dường, tôi quan sát rất kỹ từ trên tới dưới. 


Quý thầy thì nghiêm trang, nhất tâm quán tưởng một cách thành kính, còn các chú thì vô tư hồn nhiên, quý thầy làm sao bắt chước làm vậy chứ chẳng hiểu nghĩa lý gì và tại sao làm vậy. Có chú thỉnh thoảng lắc lắc cái đầu một chút để cho cái chỏm khỏi rời vành tai. Chú đó mới làm điệu khoảng một năm, nên cái chỏm chưa đủ dài để an nghỉ trọn vẹn trên vành tai. Có vài chú chỏm rất dài, không những vắt ngang qua vành tai bên này mà còn có thể vắt qua vành tai bên kia nữa. Dễ thương nhất là mấy chú mới làm điệu khoảng vài tháng hay nửa năm, cái chỏm còn ngắn ngủn, thường rớt xuống che nửa vầng trán hay một con mắt.


Ngày ba mẹ tôi dẫn tôi lên chùa để xin thầy cho tôi được xuất gia tu hành, các chú trên chùa vui lắm. Ai cũng đến gần tôi đứng, chỉ đứng mà nhìn chứ không nói gì cả, sợ thầy quở. Ba mẹ tôi thưa với thầy rằng thôi thì cho tôi đi tu cho rồi, chứ một năm tôi đã ở trên chùa hết 300 ngày. Thầy tôi chỉ cười và nhận lời. Đơn giản như vậy mà tôi cũng được xuất gia. Lúc đó, tôi chỉ mới 8 tuổi. Thế là từ ngày ấy, tôi được mặc bộ đồ vạc khách nâu sồng. Mãi 3 tháng sau thì tôi mới được cạo tóc. Trên đầu tôi giờ đây cũng có một miếng chỏm ngắn trông như vết mực tàu khi viết nét thứ nhất của chữ NHƠN (người). 


Đối với mọi sinh hoạt trong chùa, tôi tưởng như quá quen thuộc, nhưng mọi việc hoàn toàn khác. Kể từ khi bộ nâu sồng và cái chỏm xuất hiện trên cơ thể nhỏ bé của tôi thì không khí thiền môn và cách sinh hoạt trong chùa lại chuyển sang một giai đoạn mới. Không phải quy củ thiền môn thay đổi mà giờ đây tôi thực sự nghiêm chỉnh hành trì mọi nguyên tắc, quy luật khắt khe trong chốn thiền môn. Lúc đó, tôi mới hiểu ra một điều rằng tại sao các chú trở nên dễ thương, dễ mến đến thế, là vì mọi nguyên tắc, quy luật trong chùa nhằm đào tạo con người từ thấp hèn trở nên cao thượng, thay đổi nếp sống bình phàm trở nên thánh thiện. 


Hàng ngày, tôi phải thức dậy từ rất sớm khi phía Đông chưa có một tia sáng. Vạn vật vẫn còn im lìm lắm, chỉ nghe từ xa vọng lại một vài tiếng gà gáy trong sương. Tôi được giao phó công việc thỉnh đại hồng chung thay cho chú có cái chỏm ngắn. Chú đó được theo quý thầy lên chánh điện tụng kinh. Vì tôi mới xuất gia chưa thuộc nhiều kinh, cho nên chỉ cầm quyển kinh nhỏ trong đó có bài nguyện chuông. Cứ đọc hết một bài kệ hay một danh hiệu của đức Phật, Bồ tát là thỉnh một tiếng chuông như trong quyển đó chỉ dẫn. Nhưng không phải bất cứ ai cầm quyển kinh nhỏ đó cũng có thể thỉnh chuông được. 


Phải tạo ra sự cân đối giữa hai tiếng chuông trong thời lượng hợp lý. Tiếng trước vừa hết ngân nga mới được thỉnh tiếng tiếp theo, cho dù mỗi bài kệ độ dài không giống nhau. Khi thỉnh chuông, tâm hồn phải tuyệt đối an tịnh để tạo ra một năng lượng tập trung cao độ. Dùng năng lượng ấy chuyển đi khắp cơ thể, vào từng cơ bắp, từng tế bào. Có như thế ta mới thỉnh được tiếng chuông vừa lớn, vừa ấm, vừa êm ngân vang trong không gian tĩnh lặng. Tiếng chuông như thế mới chuyển tải được năng lượng từ bi, năng lượng an tịnh. Tiếng chuông như thế mới khiến người nghe trút bỏ mọi ưu phiền, sanh đại trí tuệ, buông gánh nặng luân hồi xuống và tiếng chuông như thế mới đủ tầm cỡ xoa dịu những nỗi đau khổ nhất trong các cõi địa ngục. Cũng chuông đó, chày đó, mà mỗi người cho ra một âm thinh khác nhau. Có một vị cao tăng nói với đại chúng rằng “chỉ cần thỉnh ba tiếng chuông, tôi có thể biết được các vị tu bao lâu và công phu tu tập tới đâu”.


Đại hồng chung chùa tôi lớn lắm và cái chày dộng chuông to hơn cái mình tôi lúc đó. Nó được treo ngang với một sợi dây to. Nếu nó đứng lên thì tôi phải kêu nó bằng anh, vì nó cao hơn tôi một chút. Khi đọc xong một bài kệ, tôi phải đưa chày ra xa rồi buông lỏng tay để nó đưa vô. Theo lực đó, tôi chạy theo để đẩy thêm. Làm như thế mới có thể thỉnh được tiếng chuông vừa đủ ngân xa, vừa ấm. Tôi có nghe các chú kể câu chuyện có một chú tiểu ở đâu đó cứ ngủ gật mỗi khi thỉnh chuông. 


Tôi nghĩ chắc chày chuông chùa đó nhỏ. Nếu chú đó ở chùa tôi thì nghiệp chướng ngủ gật không thể xảy ra được. Mỗi lần thỉnh chuông là 30 phút và phải thỉnh đủ 54 tiếng. Ngày đêm thỉnh chuông hai lần, buổi chiều tối và sáng sớm tinh mơ. Mỗi lần như vậy, phải đứng lên ngồi xuống, chạy tới chạy lui liên tục thì làm sao con “buồn ngủ” đậu trên mắt được. Khi thỉnh chuông được một tuần, tôi mới phát hiện ra rằng tôi đói bụng hơn các chú kia. Khổ nỗi là thầy tôi bắt gặp chú nào lảng vảng dưới nhà trù sau giờ tụng kinh là người đó phải quỳ trước bàn tổ một cây hương dài. 


Có một lần tôi rủ một chú nữa đi kiếm thứ gì ăn thêm sau khi đã tụng kinh, vì “bà cô ruột” tôi réo liên tục. Lúc đó thầy tôi đang tiếp khách. Những tưởng chuyến này thuận buồm xuôi gió, nào ngờ ông khách ra về sớm hơn chúng tôi dự đoán. Hai chúng tôi bị bắt quả tang đang chia nhau tô cơm nguội còn lại hồi chiều. Thầy bắt được, nhưng không nói một tiếng nào mà lặng lẽ đi lên phương trượng. Tôi biết chắc là tai họa sẽ ập tới. Tôi nhủ thầm rằng thà quỳ một cây hương còn hơn là cứ quằn quại suốt đêm không ngủ được với cái bụng xẹp lép. Thầy cho gọi hai chúng tôi lên và đưa một cây hương. Chúng tôi cung kính nhận hương. Tôi đo thử, cây hương dài hơn hai gang tay tôi lúc đó. Tôi nói nhỏ với chú kia rằng có lẽ chúng ta sẽ quỳ cho tới khi đại chúng xả thiền. Khi nghe tiếng kiểng báo giờ ngồi thiền, tôi xích lại gần cây hương trốc bớt bột hương phần dưới để cây hương chóng tàn, giảm bớt thời gian quỳ. Chiêu thức này thì thầy tôi chưa phát hiện được.


Mỗi lần có người mới vô xuất gia, công việc thỉnh chuông lại được giao cho người ấy. Tôi thỉnh chuông được một năm mà chẳng thấy ai xuất gia nữa. Tôi, nếu tình hình này mà tiếp tục thì buổi chiều, phải ăn nhiều hơn một chút để khỏi lục cơm nguội mà quỳ một cây hương. Cái đoạn trường này có ai thấu cho tôi. Tôi đành âm thầm chịu đựng để đêm đêm nghe tiếng gọi của bao tử cầu cứu. Tôi cứ cầu nguyện cho đứa nào đó “chóng quay về bờ giác” để thay tôi làm công việc này. Vào buổi sáng sớm sau nửa tiếng đồng hồ thỉnh chuông, tôi còn phải xuống đun nước sôi, rửa bình chén trà, quét nhà, lau bàn ghế. Trước khi đại chúng xong thời công phu sáng thì tôi phải hoàn tất mọi công chuyện đó. Những việc như thế phải làm trong tư thế cẩn thận, nghiêm trang, chánh niệm và tươm tất. 


Có một lần thầy gọi tôi lên phòng, Thầy bắt đầu với một giọng chậm rãi và hiền hòa. Thầy nói rằng thời gian gần đây khi thầy dạy tôi học bộ Tỳ ni nhật dụng thiết yếu thì tôi thường hay bê trễ. Nấu nước pha trà cũng trễ, thậm chí khi nghe hiệu lệnh báo thức của đại chúng, tôi cũng dậy trễ. Thầy nói rằng chắc là tôi không có duyên với Phật pháp, cho nên đi tu chưa đầy một năm mà nghiệp giải đãi hiện ra. Thầy bảo nếu muốn tu thì cố gắng tinh tấn tu học, hầu thầy, phục dịch cho đại chúng, còn nếu không được thì nên trở lại cuộc sống thế tục, chứ đừng giải đãi mà mang nợ áo cơm của đàn na thí chủ mà bị đọa. Nghe đến đó, tôi nghẹn ngào uất ức lắm, chỉ biết nước mắt lưng tròng. Thầy hỏi tại sao tôi khóc và tôi có muốn tiếp tục làm điệu nữa không. Nếu muốn tiếp tục thì phải nghe lời thầy mà cố gắng tinh tấn dũng mãnh lên. Tôi vừa thút thít vừa lau nước mắt thưa với thầy rằng chính vì tôi tinh tấn nghe lời thầy mà mọi chuyện xảy ra như thế. Trước đó, tôi là thằng bé lanh lẹ siêng năng mà nay tự nhiên chững chạc đến nỗi chậm chạp. Thầy tôi nghe như vậy ngạc nhiên hỏi tại sao tôi nói như vậy. 


Tôi chấp tay trước ngực thưa với thầy rằng thầy dạy tôi khi thức dậy phải đọc câu kệ “Tảo giác”, súc miệng phải đọc bài “Sấu khẩu”, rửa tay, rửa mặt v.v… đều có một bài kệ kèm theo. Nói chung, tất cả mọi động tác trong ngày đều phải đọc kệ và chú. Từ khi thức dậy cho đến khi thời kinh bắt đầu chỉ có khoảng 10 phút. Trong khoảng thời gian ngắn ngủn đó, tôi phải thực hiện bao nhiêu động tác, bao nhiêu bài kệ, bao nhiêu câu chú. Thử hỏi ngần ấy kệ tụng thì làm sao tôi có thể thực hiện xong trong vòng 10 phút. Vì lẽ đó, cho nên tôi thường hay trễ. Nghe tôi trình bày, thầy im lặng và bảo tôi xuống. May quá! Nếu lúc đó tôi không thể biện minh một cách logic như thế, chắc là tôi bị cắt giảm cơm chiều ba bữa và rửa chén một tuần. Nguyên tắc trong chùa quy định rằng chú nào nghe hiệu lệnh mà chậm trễ thì sẽ bị phạt như thế. Hồi đó, tôi không trình bày cặn kẽ với thầy lý do bê trễ thì không biết số phận của tôi sẽ ra sao. Chiều đó đã ăn cơm rồi mà thỉnh một hồi chuông còn đói huống chi mà bị phạt không ăn cơm chiều rồi còn rửa chén, tối thỉnh chuông thì chắc tôi phải “về cõi Phật” sớm.


Thường mỗi khi lên chánh điện tụng kinh, các chú tiểu lên trước để đốt đèn, dâng hương, trải chiếu và sửa sang lại mọi thứ. Sau đó, thầy và đại chúng mới lên. Một bữa nọ, thầy và đại chúng lên tới nơi rồi mà chúng tôi không hay biết, còn đứng trước bàn Phật Di Lặc cười vì cái bụng bự của Ngài. Bữa sau, thầy gọi chúng tôi lên phòng và nghiêm nghị nói tại sao lên chánh điện rồi mà chúng tôi còn cười giỡn. Thầy nói sẽ phạt 6 chú tiểu chúng tôi quỳ hương. Chúng tôi thưa với thầy rằng chúng tôi chỉ cười một chút thôi, còn đức Phật Di Lặc cười hoài có sao đâu. Thầy bắt tụi tôi quỳ hương là oan lắm. Thế nhưng 6 chúng tôi vẫn bị phạt. Lần đó, tôi không có lý do gì biện hộ được. Thầy nói rằng đức Phật Di Lặc cười hoài mà không gây ra tiếng động nào, còn chúng tôi chỉ cười một lát, nhưng lại gây ồn ào khiến đại chúng tán niệm. Thầy chỉ cho chúng tôi tấm bản ghi “không được nói, cười lớn tiếng nơi tôn nghiêm” và thầy nói rằng nơi đây chỉ cấm cười lớn tiếng chứ không cấm cười bao giờ. 


Từ đó về sau, tôi rất thán phục thầy tôi với lối trị chúng nghiêm minh có tình có lý, khiến người ta tâm phục khẩu phục. Có một lần thầy tôi đành phải gạt lệ mà tươi cười. Bữa nọ tôi mặc áo chỉnh tề quỳ thưa với thầy rằng tôi thật sự chưa hiểu thấu điều thứ nhất trong kinh Bát đại nhân giác. Tôi thỉnh thầy giảng lại lần nữa. Thầy bắt đầu đọc nguyên âm chữ Hán “Đệ nhất giác ngộ: thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã...” và giảng: điều giác ngộ thứ nhất của chư Phật, Bồ-tát là phải hiểu mọi vật trên đời là vô thường, sáng còn tối mất, chế độ thay đổi liên tục, tổ chức này tranh giành với tổ chức kia, quốc gia thay ngôi đổi chủ… Nghe tới đó, tôi cung kính thưa với thầy rằng chiếc bình độc ẩm chế trà của thầy cũng theo nguyên tắc ấy. Chiều hôm qua còn mà sáng nay đã bể do tôi vô ý đánh rơi khi rửa. Đôi mắt thầy hơi sáng lên một chút quay sang nhìn chỗ khác. Thầy nói giọng hơi nhẹ rằng thầy sẽ thay chiếc bình khác. Thật ra chiếc bình độc ẩm kia đã chế trà cho thầy tôi 20 năm qua. Đây là lần đầu tiên thầy tôi im lặng một cách lạnh lùng. Đúng là cái gì mình yêu thích nhất cuối cùng cũng phải chia lìa.


Dần dà năm tháng trôi qua đã xói mòn cái chỏm trên đầu của tôi, cuốn trôi cuộc đời làm điệu của tôi vào dĩ vãng. Thoáng một cái mà tôi đã 25 tuổi, tuổi chuẩn bị thọ giới Tỳ-kheo. Ước mơ từ thuở nhỏ sắp trở thành hiện thực, cái ước mơ khoác chiếc y vàng như quý thầy. Ngày thọ giới trở về, tôi cũng cứ sinh hoạt bình thường như hồi còn điệu. Có một điều khiến tôi khó hiểu là ngày xưa các chú đối với tôi vui vẻ, thoải mái, giờ đây họ e dè, cẩn thận. Đi đâu họ cũng nhường tôi đi trước. Khi ăn gì họ cũng cung kính mời tôi ăn trước. Nói chuyện gì họ cũng thưa thưa dạ dạ luôn miệng. Chuyện gì đã xảy ra khiến cho chúng tôi ngăn cách? Lúc này không có chú nào dám ngồi ngang hàng với tôi hay nắm tay tôi dạo quanh chùa mỗi đêm trăng sáng để dẫm lên các thỏi vàng di động. 


Tôi không ngờ cái ước mơ ngày xưa của tôi lại nghiêm trọng đến như thế. Một khi người nào đã thọ giới Tỳ-kheo rồi thì nghiễm nhiên là một thành viên của tăng đoàn, là đấng Tam bảo trong đời, là người thừa đương, tiếp nối mạng mạch của chư Phật, Tổ mà hoằng dương giáo lý để lợi lạc quần sanh. Ôi! tôi đâu có biết rằng một vị Tỳ-kheo lại quan trọng đến như vậy. Lý do tại sao các chú quý trọng tôi hơn, cung kính tôi hơn. Đó là truyền thống và nề nếp tôn ty trật tự trong chốn thiền môn. Tôi chợt nhớ bài kệ đầu tiên khi thầy cạo tóc cho tôi “Thiện tai! Thiện nam tử, năng liễu thế vô thường, xả tục thú nê hoàn, công đức nan tư nghì”.


Giờ đây nghĩ lại hơn 15 năm làm điệu là khoảng thời gian tu tập và huấn luyện cho Bồ-đề tâm lớn mạnh và cũng là thời gian đào tạo một mẫu người lý tưởng, có oai nghi, có hạnh kiểm đáng là tiêu chuẩn cho truyền thống trong thiền môn. Thời gian đó quý lắm, quan trọng lắm. Trong kinh Hiền Ngu có nêu 4 cái nhỏ rất quan trọng: hoàng đế nhỏ, rắn độc nhỏ, đốm lửa nhỏ và chú tiểu nhỏ. Hoàng đế nhỏ lớn lên có thể tung hoành thiên hạ, tạo nên một lịch sử hào hùng. Rắn độc nhỏ có thể truyền độc chết một sinh mạng lớn hơn nó. 


Đốm lửa nhỏ có thể đốt cả một khu rừng và chú tiểu nhỏ lớn lên hoằng dương chánh pháp, quảng độ chúng sanh, làm rạng rỡ đạo pháp, khai nguồn tuệ giác vô tận, khắp năm châu bốn biển. Những nỗi vui buồn trong thời gian làm điệu của tôi chỉ là một góc rất nhỏ trong truyền thống thiền môn, thế nhưng nó chứa đựng được phần lớn những nếp sống lý tưởng của một thời làm điệu nhằm giáo dục và đào tạo một mẫu người lý tưởng của đạo Phật. Tôi không thể nào quên được những giây phút vui buồn trong thời gian làm điệu. Dường như cho tới bây giờ nó vẫn là chất liệu sống cho nếp sống xuất gia của tôi. Nếu ai đó xuất gia mà không trải qua thời gian làm điệu thì uổng lắm, giống như đã bỏ qua buổi lễ khai mạc của một lễ hội lớn. Bài viết này chỉ là bản tường thuật tóm lược buổi lễ khai mạc của cuộc sống xuất gia.

Theo Pháp Luân


Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.