tháng 5 2020

VLCĐ: Nhạn quá trường không, Ảnh trầm hàn thủy là bài kệ của Thiền Sư Nghĩa Hoài Thiên Y. Cũng có ý kiến cho rằng bài  thơ này là của Thiền Sư Hương Hải khi đàm luận Phật Pháp cùng Vua Lê Dụ Tông, trong khoảng  thời gian 24 năm vua tại vị  (1705-1729). Trong bài này, tác giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải chú giải ý nghĩa của bài thơ trên.
Thiền Sư Hương Hải, thuộc Thiền Phái Trúc Lâm, trong một pháp thoại với vua Lê Dụ Tông. Riêng cũng để trả lời cho câu hỏi của một người bạn cách nay nhiều năm, mà lúc đó chưa thể nói hết ý, vì thứ nhất là khó giải bày những hình ảnh Thiền cho người bạn Thiên Chúa giáo, thứ nhì là câu hỏi đó do trước là một hiếu kỳ văn học, sau là một tò mò về Thiền, chứ không để tâm về chỗ thực tham thực ngộ, dù vậy nay cũng có lời để cảm ơn tri ngộ. Nếu có lời nào trong bài này hợp ý Tổ thì đó là nhờ ơn sâu day dỗ của Thiền Sư Trạm Nhiên Tịch Chiếu, chùa Tây Tạng (Bình Dương, Việt Nam); nếu có lời nào chưa phải, xin trọn lòng sám hối trước ba đời chư Phật.

Thiền Sư Hương Hải (1628 - 1715)- Thời Hậu Lê – Việt Nam.
Không rõ tên thật, tục gọi là Tố Cầu. Tổ quán vốn là người làng Áng Ðộ huyện Chân Phúc (sau đổi là Chân Lộc rồi Nghi Lộc) tỉnh Nghệ An. Sống vào thời Hậu Lê. Năm 18 tuổi đỗ cử nhân. Vào năm 1652 được bổ làm tri phủ Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị). Năm 1655 từ quan, xuất gia với thiền sư Viên Cảnh được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiên Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải. Năm 1682, ông vượt bể ra Đàng Ngoài và ở hẳn lại miền Bắc. Ông nổi danh qua nhiều nơi hành đạo, sau cùng lập chùa Nguyệt Đường ở Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Ông là người đã chấn hưng thiền phái Trúc Lâm,  đã dịch kinh, chú giải và sáng tác hơn 30 tác phẩm.

 

Bấy giờ Thiền Sư Hương Hải đã 78 tuổi, được vua Lê Dụ Tông mời vào nội điện lập đàn cầu tự vì hiếm con. Vua hỏi Sư:
    - Trẫm nghe Lão Sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Lão Sư thuyết pháp cho Trẫm nghe để Trẫm được liễu ngộ.
    Sư đáp:
    - Xin bệ hạ chí tâm nghe cho thật hiểu 4 câu kệ này:
    Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
    Thẩm sát tư duy tử tế khan
    Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
    Tương lai diện thượng đổ sư nhan.


    Thượng Tọa Thanh Từ dịch là:
    Hằng ngày quán lại chính nơi mình
    Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh
    Trong mộng tìm chi người tri thức
    Mặt Thầy sẽ thấy trên mặt mình.

Qua cách đặt câu hỏi của một người nào đó, chúng ta có thể xét định được tầm nhìn, tầm hiểu của người hỏi. Ở đây ta thấy vua
Lê tìm Sư là do ý định cầu tự tìm con trai, chứ khởi tâm không có ý định cầu pháp giải thoát. Người xưa muốn hiểu đạo phải trèo núi vượt sông, tìm đủ thiện tri thức, không tiếc thân mệnh mình, chứ có đâu quan liêu thoải mái như ông vua này. Ta thấy ngay động cơ tìm nhau đã là chưa ổn rồi. Nhưng vì lòng từ bi, Thiền Sư cũng mượn phương tiện thiện xảo, giở trò phù thủy lập đàn cầu tự, để tìm cơ hội hóa đạo.

    Vua nói: "...Lão Sư học rộng nhớ nhiều..." Thế là hỏng, không có câu nào phỉ báng một Thiền Sư hay ho đến như vậy. Nói câu này với một Giảng Sư, Pháp Sư hay Luận Sư thì thật là tuyệt diệu, không lời khen ngợi nào hơn. Nhưng tai hại thay, người trước mặt lại là một Thiền Sư, thật là hỏng bét. Nhắm ngay một người chủ trương bất lập văn tự mà không chịu hỏi chỗ không lời mà nói, không tâm mà nắm, không ý mà truyền, lại khen rằng sao đầu Thầy nhồi nhét lắm chữ thế... Không gì nhảm hơn. Ngay câu đầu mở miệng, vua đã hiện tướng chồn hoang rồi, biết tới kiếp nào mới thành sư tử.

    Kế tiếp, vua nói "... để Trẫm liễu ngộ." Vậy là cũng có hùng tâm lắm, can đảm lắm, dám đòi ngộ ngay sau một bài pháp. Nhưng căn bản đã sai rồi, nếu bài pháp này do chỗ "học rộng nhớ nhiều" thì không thể nào có một Thiền Sư đứng trước mặt như vậy và cũng không thể nào vua liễu ngộ sau một lời được. Một bài pháp thích đáng phải là do chỗ không có gì để học và cũng không có gì để nhớ.

    Đối với mỗi căn cơ, các Thiền Sư sẽ có những cách dạy khác nhau. Ngay cả đối với hàng căn cơ cực cao, các Sư cũng phải chuẩn bị mọi chuyện thuần thục rồi mới nói chuyện tới. Ở đây, ta thấy Sư Hương Hải đã dùng nhiều lời cho thích hợp với ông vua hỏng kiểu này.

    Ý của Sư qua 4 câu đó là, mỗi giây phút trong đời, vua phải quán sát, nghe ngóng tâm mình. Mình đang ở trong một giấc mộng lớn (ý là cuộc đời như huyễn này) này đâu cần phải tìm chi thiện tri thức (cũng là người mộng trong giấc mộng này thôi). Cứ quán sát tự tâm như vậy hoài tới một lúc sẽ thấy được khuôn mặt của Thầy (ý là mặt Phật) trên khuôn mặt của mình. Rõ ràng ở đây chẳng có gì là bí hiểm cả, cũng chẳng có đánh đập la hét gì cho có Thiền vị cả. Câu chuyện chỉ là cứ việc theo dõi các niệm trong tâm liên tục như vậy, tới một lúc sẽ thấy mặt Thầy (hay mặt Phật, Tánh Phật hay Tâm Phật) trên mặt mình (hay tự tâm).

    Từ phản văn tự kỷ cho tới thẩm sát tư duy vẫn chưa đúng là Thiền Đốn Ngộ. Hay nói đúng hơn, đó mới chỉ là Như Lai Thiền chứ chưa thực là Tổ Sư Thiền. Trước khi phân biệt hai thứ Thiền này, chúng ta nên nói thêm về cách trả lời của các Thiền Sư. Giáo pháp của đức Phật được ví như ngón tay chỉ mặt trăng. Các Thiền Sư thường không ưa nói về ngón tay mà thường chặt phăng ngón tay để nói thẳng tới mặt trăng. Bởi vì cái con đường có giá trị nhất phải là cái con đường không có đường, cánh cửa vào nhà Tổ trực tiếp nhất phải là cửa không cửa. Có gì đâu phải loanh quanh đi tìm đường lên Niết Bàn hay cửa vào nhà Tổ, trong khi chỉ cần chớp mắt cho rụng tí bụi đã thấy ngay ta vẫn hằng ngồi yên trong Thanh Tịnh Pháp Thân. Mà vốn thật có chi gọi là bụi đâu mà phải chớp mắt nhướng mày hay là lau sạch đài gương.
    Hai cách gọi Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền thường ít được dùng vì thật sự cả hai đều từ một gốc mà ra. Nhưng sự phân biệt chỉ là để nhấn mạnh hơn một nghĩa khác biệt. Như Lai Thiền là những pháp môn Thiền do từ lời dạy của đức Phật. Tổ Sư Thiền là pháp môn Thiền không do từ lời dạy mà do từ cử chỉ của Phật khi cầm đóa hoa đưa lên và mỉm cười. Bấy giờ chỉ duy có ngài Ca Diếp hiểu được và nhận truyền thừa. Các Tổ truyền đăng pháp nay qua nhiều đời, tới khi gặp những cơ may của đời sau mới phát triển rộng ở các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản... Tổ Sư Thiền còn nhiều tên gọi khác để chỉ như là Đốn Ngộ Thiền, Trực Chỉ Thiền, Phật Tâm Tông, Tâm Tông... Quan niệm của Như Lai Thiền là phải huân tập từ từ (tiệm) đầy đủ giới, định, huệ mới thành Phật được. Quan niệm của Tổ Sư Thiền là đốn, là ngay tức khắc, là một nhảy liền vào đất Như Lai như cách nói của Thiền Sư Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca:

    Đốn giác liễu Như Lai Thiền.
    (Nếu đốn ngộ được thì là hoàn thành hết cả Như Lai Thiền)
    Bởi vì Trong Tự Tánh đã saün đủ giới, định, huệ. Vả lại, giới, định, huệ do sự tu tập làm sao bằng được giới, định, huệ của Thanh Tịnh Pháp Thân. Vấn đề chỉ còn là làm sao nhảy được vào đất Như Lai. Cách tốt nhất vẫn là tìm cho được một vị thầy có bản sắc của Tông môn.

Bốn câu kệ trên của Sư Hương Hải vẫn còn dựa vào Như Lai Thiền. Những gì là phản văn với thường quan với thẩm sát tư duy chưa có gì là trực chỉ hết. Đây vẫn còn là ngón tay chứ chưa là mặt trăng, vẫn là con đường có đường và cánh cửa có cửa. Sư có thương vua Lê cũng không thể nói khác hơn được vì ông vua này mới mở miệng đã bốc mùi chồn hoang rồi, chưa được chuẩn bị để húc đầu vào vách bạc tường sắt. Ngay cả câu cuối, nói sẽ thấy mặt Phật trên mặt mình cũng chỉ mới là Như Lai Thiền. Cái chữ tương lai đầu câu bốn đã làm hỏng cả những kiểu nói của Huệ Năng, Huyền Giác... Làm sao nhảy được vào đất Như Lai với cặp nạng của phản văn với thẩm sát nhỉ. Đây là chỗ không một tâm có thể nắm bắt được thì lấy tâm nào là tâm tương lai để thấy được tâm Phật trong tâm mình. Cốt yếu của Tổ Sư Thiền còn ở chỗ này: Còn thấy được tâm Phật trong tâm mình vẫn chưa là thực ngộ.

Vua Lê Dụ Tông vẫn còn ngơ ngơ ngác ngác. Cái này là đương nhiên, có đánh thêm ba mươi gậy vẫn còn là hỏng kiểu. Vua lại hỏi thêm:
    - Thế nào là ý của Phật?
    Sư đáp:
    Nhạn quá trường không,        
    鴈 過 長 空
    Ảnh trầm hàn thủy                     
    影 沉 寒 水
   Nhạn vô di tích chi ý                  
   鴈 無 遺 跡 之 意
   Thủy vô lưu ảnh chi tâm            
   水 無 留 影 之 心


    Thượng Tọa Thanh Từ dịch nghĩa:
    Nhạn bay trên không
    Bóng chìm đáy nước
    Nhạn không có ý để dấu
    Nước không có tâm lưu bóng.

    Một lần nữa, chúng ta phải lắc đầu đến nản vì ông vua này. Lần đầu phải gọi là chồn hoang, lần này không biết gọi là gì cho đáng. Đứng trước mặt một người dạy Tổ Sư Thiền mà hỏi ý của Phật là nhảm nhí không gì bằng. Muốn biết ý Phật cứ việc lật kinh điển ra đọc là đủ. Phật đã nói hết cả, đâu có giấu gì đâu. Duy có điều không nói được là không nói được mới đáng hỏi chứ. Câu đáng lý ra phải hỏi là "Ý của Tổ Sư là gì?" vẫn được các Thiền sinh thắc mắc từ đời này qua đời nọ. Để cho có vẻ chính quy sách vở hơn thì là như hà thị Tổ Sư Tây lai ý, ý của Tổ Sư (Bồ Đề Đạt Ma) từ phương Tây tới là gì. Đầu thai ba mươi kiếp nữa biết Lê Dụ Tông có thấm nỗi trận đòn này chưa, khổ quá, hỏng không gì bằng, chỉ mệt cho người đời sau phải lôi pháp thoại này ra chú giải.

    Sau khi nghe bài thơ của Sư, vua khen ngợi:
    - Lão Sư thông suốt thay.
    Khổ quá, hiểu không nổi, hỏi không xuôi, mà lại khen như thầy người ta ấy, như thể vừa cố tâm bắt bí học trò. Nào có biết đâu Lão Sư vừa mới bắt bí đến cả mấy chục đời sau. Nắm được diệu nghĩa của mấy câu này cũng đủ để đi hiên ngang giữa dòng đời bất tuyệt mà không dính một tí bụi vào thân.
    Chúng ta có thể thấy thứ tự câu chuyện như vầy. Đầu tiên vua khen Sư học rộng nhớ nhiều rồi xin nghe một bài pháp để được liễu ngộ. Sư tặng cho bốn câu chỉ pháp Như Lai Thiền. Bốn câu này dễ hiểu quá, Trời ơi, vua tưởng bở thừa thắng xông lên, hỏi thêm một câu trật chìa nữa. Sư vẫn rất mực từ bi, phơi mở tận cõi lòng, tặng thêm bốn câu chỉ pháp Tổ Sư Thiền. Tới đây vua mới choáng váng mặt mày, biết là khó ăn, mới khen một lời, ý là để xin thôi.

    Ta thấy bài này để chỉ pháp cho hàng thượng căn, chỉ ngay cảnh giới của chư Phật. Ở đây Sư đã rất mực từ bi, vua hỏi ý của Phật, Sư chỉ ngay cảnh giới chư Phật, nào có khó tính như các Sư khác. Đúng ra nhằm một câu hỏi trật cách Tông môn như vậy, câu trả lời đáng là bảo vua về lật kinh điển mà tìm ý của Phật. Hiểu được ý của Phật chưa chắc đã hiểu được lời của các Thiền Sư. Nhưng hiểu được lời của các Thiền Sư chắc chắn hiểu được ý Phật.

 
  Cánh chim nhạn bay trên không. Ảnh của chim hiện trong nước. Ảnh chỉ hiện đúng được khi sóng (niệm) lặng. Chim nhạn (hay vật, hay cảnh, hay là pháp) không có ý lưu dấu (đây là chỗ mây rồi sẽ bay qua đi, sóng rồi sẽ lặng xuống, bụi vốn không thật là bụi, niệm vốn thật vô tự tánh).
    Nước (hay là Tánh của Tâm, đây là chỗ Thức đã chuyển thành Trí) cũng không có tâm (đây là tâm vô tâm, hay tâm của kẻ giác ngộ, gọi khác là tâm đã không còn một hiện tượng) lưu bóng chim nhạn (đây là chỗ cảnh tự trụ cảnh, niệm cứ việc khởi, bụi cứ việc bay, nhưng gương Trí đã sáng, sự thật là vốn hằng sáng, thì lấy đâu là nơi cho niệm lưu, cho bụi bám). Sư đã rất mực từ bi, bài toán này không thích hợp cho ông vua đa tình hiếm con này.

    Đây là cảnh giới của vô tâm, nhưng Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán (như cách gọi của Sư Lâm Tế).
    Cánh chim nhạn (hay là cảnh, hay pháp) thấy được là không (pháp vốn tự tánh) rồi, và nước (khi bặt sóng, hay tâm vô tâm, hay Tánh của Tâm, hay tánh vô tự tánh của tâm) đương nhiên hiện ảnh (nhạn đến thì hiện nhạn) mà không hề khởi tâm (tâm đã không thì lấy gì để khởi), mà cũng không có tâm lưu ảnh (thấy được tánh của pháp là vô tự tánh, tánh của niệm là vô tự tánh, vào nơi vô niệm mà niệm vẫn hằng sinh, hay ở nơi niệm mà vẫn hằng vô niệm - tâm của kẻ giác ngộ - thì lấy tâm nào để mà lưu ảnh).

    Nhưng lấy đâu làm viên gạch dộng cửa để vào nhà Tổ đây, lấy gì làm trớn để một nhảy liền vào đất Như Lai, đứng thẳng ở cảnh giới này? Đối với hàng thượng căn, mọi chuyện thầy đã chuẩn bị thuần thục, thì bốn câu này là đủ. Ngoài ra thì hoàn toàn không có viên gạch nào dộng cửa trong bốn câu này cả, không một phương tiện thiện xảo nào để vin lấy mà đi cả. Cánh cửa đã mở rộng tới hư không thì biết đâu là cửa để mà vào, quan ải đã quét sạch (trong 4 câu này) tận hư không thì làm sao người Thiền sinh biết chỗ mà một đao qua ải?

    Một khi đã thấy pháp (hay cảnh, hay nhạn) vốn vô tự tánh (không ý lưu bóng) và nước (tâm) vốn vô tự tánh (nên không tâm lưu ảnh) thì đã vượt qua cả cảnh giới tâm cảnh nhất như (cảnh giới thứ ba của Tứ Liệu Giản, pháp không và tâm không). Đây là cảnh giới thứ tư của Tứ Liệu Giản, tâm tự trụ tâm, cảnh tự trụ cảnh; pháp và tâm đã không (vô) tự tánh được rồi lại tới đây (trong 4 câu này) ngay đến cái không (vô) đó cũng không dựng lập lên thì lấy đâu mà không với có nữa. Bấy giờ là cảnh giới niệm khởi mặc niệm mà tâm vẫn hằng vô niệm, lấy gì mà dựng lập Niết Bàn với sinh tử, thiên đường hay địa ngục.

    Nói trở lại, tâm đã không và pháp đã không thì hiện tướng tâm cảnh nhất như, chỉ còn một cái thấy biết mình người không cách nhau tới một sợi tóc, thấy tính bình đẳng của vạn pháp (phạm trù thứ ba nhắc trên). Nhưng trong bốn câu này, cái đa (mình người, tâm pháp, nước và nhạn) đương nhiên đã không dựng lập (vốn không ý không tâm thì lấy gì mà dựng với lập), mà ngay đến cái nhất (mình người, tâm pháp vô phân biệt) cũng không hề có (cái vô phân biệt cũng không hề dựng lập) thì lấy gì mà gọi nhất như với như nhất nữa. Nói trở lại lần nữa cho rõ hơn, không thấy cái đa thù (phân biệt) thì thấy cái nhất như (tính bình đẳng hay tâm vô phân biệt), nhưng ở đây (bốn câu của Sư Hương Hải) trong cảnh giới này ngay đến cái như ấy còn không dựng lập thì còn chỗ đâu mà đa với nhất, mà gọi là phân biệt hay vô phân biệt. Nói cho đúng thuật ngữ nhà chùa là, ở chỗ này, lấy gì để mà đoạt với bất đoạt.

    Trong bốn cảnh giới thấy tánh vô tự tánh của Tứ Liệu Giản, Thiền Sư Hương Hải lại lấy ngay cảnh giới thứ tư chỉ cho vua Lê Dụ Tông thì làm sao ông vua đa tình hiếm con này liễu ngộ được. Khổ quá, ai bảo đòi biết ý Phật làm chi. Cái tướng đa thù đã không còn mà ngay đến cái tướng nhất như cũng không thấy nữa, ngay đến cũng không thấy các đẳng đâu để hiện tướng bình nữa thì lấy đâu cửa mà vào. Còn như nếu vua trở lại bốn câu Như Lai Thiền (Phản văn...) để tìm cửa vào thì tới kiếp nào mới thành sư tử. Như vậy, vấn đề của vua Lê cũng như của chúng ta hôm nay là phải đi tìm chìa khóa (hay viên gạch dộng cửa) để vào nhà Tổ.
Theo quan niệm của chư Tổ là nói nhiều về viên gạch dộng cửa thực sự không có lợi cho người muốn thực tham thực ngộ. Riêng bốn câu thơ Ảnh Trầm Hàn Thủy cũng đã quá đủ rồi, đi lối bặt đường chim không phải là đã à. Còn muốn chi tiết hơn, đó là vấn đề của các dòng Lâm Tế, Tào Động, Tây Tạng...
Nếu bài này có chút gì sai hay ngã mạn với vua Lê, xin trọn lòng sám hối. Nếu có chút gì công đức, xin biến cùng tận pháp giới đưa tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo.

(Trích từ VÀI CHÚ GIẢI VỀ THIỀN ĐỐN NGỘ 
Tác giả: Nguyên Giác Phan Tấn Hải
Nhà xuất bản: Thiện Tri Thức 2001)

VLCĐ: Những ngôi Chùa trong hang đẹp nhất trên thế giới: Sự biệt lập của các ngôi chùa này càng khiến cho du khách cảm thấy thanh thảnh và yên bình hơn khi tới đây. Một số ngôi chùa thu hút bởi chiều cao ấn tượng, một số khác lại nổi bật bởi kho tàng tâm linh ẩn sâu bên trong. Có thể sau khi nhìn những bức ảnh này, bạn sẽ muốn bỏ tất cả những gì mình đang làm và tới thăm một trong những ngôi chùa trong hang động tự nhiên này.

Sự biệt lập của các ngôi chùa này càng khiến cho du khách cảm thấy thanh thản và yên bình hơn khi tới đây. Một số ngôi chùa thu hút bởi chiều cao ấn tượng, một số khác lại nổi bật bởi kho tàng tâm linh ẩn sâu bên trong.


Hang Datdawtaung, Mandalay, Myanmar

Hang Datdawtaung nằm cạnh thị trấn nhỏ Kyauk Sel, gần thành phố Mandalay. Hang có nhiều pho tượng Phật và một ngôi chùa nhỏ.


Chùa hang Khao Luang, Phetburi, Thái Lan


Hang được biến thành chùa với rất nhiều tượng Phật, trong đó có một pho tượng nằm khổng lồ và nhiều di tích Phật giáo khác. Các vị sư luôn mỉn cười với khách du lịch. Bạn nên đến sáng sớm hoặc chiều muộn bởi lúc này chùa không đông khách.


Hang Pindaya, Pindaya, Myanmar

Các hang Pindaya nằm cạnh thị trấn Pindaya, vùng Shan. Đây là những điểm linh thiêng tôn giáo của người Myanamar và cũng là nơi thu hút khách du lịch. Có 3 hang, nằm theo hướng Bắc - Nam, nhưng chỉ có duy nhất hang nằm phía Nam là có thể khám phá.


Hang Phraya Nakhon, Vườn Quốc gia Khao Sam Roi Yot, Thái Lan

Một trong những điểm nổi tiếng nhất và được chụp ảnh nhiều nhất Thái Lan là hang Phraya Nakhon tại tỉnh Prachuap Khiri Khan (cách phía Nam Hua Hin khoảng 45 phút lái xe). Hang nằm trong Vườn Quốc gia Khao Sam Roi Yot. Từ trong hang, bạn có thể nhìn thấy phong cảnh núi đồi, rừng cây và biển.


Grottoes Vân Cương, Sơn Tây, Trung Quốc

Hang động Vân Cương có ngôi chùa Phật giáo cổ xưa gần thành phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây. Đây là những ví dụ điển hình tuyệt vời về kiến trúc đá cắt và là một trong ba điểm nổi tiếng về điêu khắc Phật giáo cổ đại của Trung Quốc.


Đền Tham Erawan, tỉnh Nong Bua Lamphu, Thái Lan

Nằm trên một sườn núi đá vôi, Tham Erawan là một hang động lớn với một tượng Phật ngồi khổng lồ. Từ đây, bạn có thể phóng tầm mắt bao quát khung cảnh xung quanh. Quang cảnh thực sự đẹp khi hoàng hôn xuống.


Hang Sadan, tỉnh Kayin, Myanmar


Hang Ellora, Maharashtra, Ấn Độ

Ellora là một điểm khảo cổ học, cách thành phố Aurangabad, tỉnh Maharashtra về phía Tây Bắc 29km. Ellora nổi tiếng về các hang động và là một trong những Di sản Thế giới.


Yathae Pyan Cave, tỉnh Kayin state, Myanmar





VLCĐ: Nho nói: Thấy người hiền thì nghĩ cho bằng, thấy kẻ bất hiền thì xét nét mà sửa mình. Đức Phật dạy: Trước khi nói Pháp phải quán căn cơ chúng sinh. Đó là dạy ta biết người để mà tế nhơn vậy. Như vậy, biết người để tự tĩnh, để độ người, là kẻ trí, không biết người để tu tỉnh là người ngu, chúng ta không lấy đó làm việc cầu cũng là việc đáng thận trọng làm sao? HT. Thích Thiện SiêuTừng lóm nghe sách Nho câu: “Kiến hiền tư tề yên, kiến bất hiền nhi nội tự tĩnh dã”. Như vậy, thì sự biết người đâu phải là việc dư mà chính là một điều có quan hệ lớn lao cho công việc tu dưỡng đức tánh. 

Sanh ra đã dễ mấy ai Thánh hiền, không học mà biết, không tập mà nên, phần nhiều đều phải soi gương kẻ trước để làm một sự kinh nghiệm trước khi đi vào công việc, hay trong lúc học tập, trong thời kỳ thơ ấu...


Song biết người ấy là một việc rất khó lại là một việc rất dễ, dễ là chỉ biết qua mặt ngoài thô thiển của người, còn khó là biết đến bề trong, biết đến chỗ động cơ sâu xa của người thật là khó vậy. Bởi vậy ở đời lắm người coi cả thiên hạ toàn là rơm rác cả, ngoài mình ra không ai là bậc Thánh hiền quân tử, ấy thế nên trong tâm chứa đầy mối kiêu mạn, không dung ai, không chịu ai, của thiên hạ thì không việc gì hay, còn của mình thì không điều gì dỡ, suốt đời không việc gì đáng làm cả, tới lui cũng chỉ có mấy lời ngông cuồng kiêu ngạo, đến chết vẫn còn ôm cái dốt nát vô vị đi theo... Đó là tại biết người không biết cho thấu đáo, chỉ biết qua cái thô sơ thấp thỏi của người thôi vậy.


Trái lại, có người chỉ âm thầm mà sanh, âm thầm mà sống, rồi lại âm thầm mà chết trong những nơi không người đến, đi ra thấy người tưởng hoàn toàn là Tiên là Thánh cả, mà sợ như kẻ đỏ mặt sợ mặt trời nhưng không biết rằng: “Dốt hay nói chữ” là bệnh chung của một số đông người từ lời nói thế cho đến công việc làm cũng thế, phần nhiều là công việc lèo bề ngoài để gạt kẻ khác, nói thật hơn một chút, dẫu có điều chơn thật lớn lao của số người thật biết mà làm ra, song đó không phải chỉ riêng ai làm được mà thôi, chí ư những kẻ thất phu kia nếu muốn làm cũng có thể làm được cả, biết vậy thì đâu còn thấp hèn mình xuống ngang hàng với loài ký sinh, mà tôn người là hoàn toàn Hiền Thánh, cho mọi người đều là Chủ nhân ông của mình.


Quá hèn hạ mình mà tôn trọng người lên một cách quá đáng vô lý nghĩa; đó là cái hại chỉ biết cái hay về mặt ngoài của người mà không biết chỗ sâu xa và không biết chỗ ngang mình của người, bất quá người từ đó mà tấn lên chỗ hoàn toàn, ta cũng từ đó mà thối lui chỗ hèn hạ kém cỏi...


Như vậy thì nói “Biết người mà làm cho mình có lợi ích” là khó không phải quá đáng. Khó là là vì một việc chúng ta không thể không có, để bo bo giữ xấu xa cũ kỹ của mình mà không chịu canh cãi.


Vậy biết người là biết gì nơi người?

Biết người hiền đức nhân từ, không bao giờ giận hờn thù oán ai, dầu ai có đem điều này đến khen ngợi, tâm không xu phụ, ai đem việc xấu mà trao cho cũng không hờn trách, lại còn vui vẻ giúp đỡ họ...Biết người vậy nghĩ lại thử mình có được chưa?


Người là bậc anh tài xuất chúng, học một biết mười, nghe đâu nhớ đó, trăm pho sách đều tinh thông rành mạch, suy nghĩ lời Thánh hiền mà quên ngủ quên ăn... biết người vậy nghi mình có được như vậy chưa?

Người là đấng đại trương phu, phá bỏ tâm lượng hẹp hòi ích kỹ, phát lòng quảng đại, coi tất cả việc thiên hạ chúng sanh đều là trọng trách của mình, hy sinh cho mọi người mà không cầu danh vọng... Biết người vậy mà nghĩ mình đã được như vậy ư?


Người là kẻ mục hạ vô nhơn, chỉ lấy mình là trung tâm đặt điểm của xã hội mà không tài không đức. tâm lượng thấp kém... Biết người như vậy mà nghĩ đến mình có phải đồng bạn với họ ư?

Người hay nhút nhát hẹp hòi, người tham lam nhũng lạm, người dua dối bề ngoài, người hay khoe khoang tà ngụy.


Biết người vậy nghĩ mình có phải đồng quyến với họ ư?


Biết người để xét lại mình, thấy người hay thì nghĩ sao cho bằng, biết người dở thì để ngăn dè những điều của mình dở, người ta ở đời chỉ khác nơi chỗ ấy, nếu người ta chờ đến khi thực hành để nghiệm điều dở hay của mình thì trọn đời không mấy khi làm nên việc tốt, nếu lấy người làm gương cho mình soi, biết người trước lại biết mình sau, tất sau sẽ thành một người hoàn toàn thiện mỹ. Xưa nay những bậc anh tài, bậc hiền đức làm nên công việc có phải là người biết người đấy ư? Mạnh Thường Quân trọng đãi tiện khách mà sau khỏ nạn, có là người biết người đấy ư? Vua Quang Trung tôn thờ kẻ ẩn sĩ Cô Bận (La Sơn tiên sinh) mà làm nên sự nghiệp một thời, có phải là nhờ biết người đấy ư?


Chẳng những thế thôi còn biết người mà thoát nạn như ông Di ông Tề; và ông Bột biết người để tiếp độ người là các vị Bồ-tát các đức Phật.


Nho nói: Thấy người hiền thì nghĩ cho bằng, thấy kẻ bất hiền thì xét nét mà sửa mình. Đó là dạy ta phải biết người để tu thân vậy.

Còn đức Phật dạy: Trước khi nói Pháp phải quán căn cơ chúng sinh. Đó là dạy ta biết người để mà tế nhơn vậy.


Như vậy, biết người để tự tĩnh, để độ người, là kẻ trí, không biết người để tu tỉnh là người ngu, chúng ta không lấy đó làm việc cầu cũng là việc đáng thận trọng làm sao?


VLCĐ: Bắt đầu từ cái nhìn trên lộ trình giải thoát, chúng ta cần suy nghĩ về dẫn dụ sau: Nước mặn, nước ngọt có chung một bản chất là thể lỏng. Phiền não, An lạc đều xuất hiện từ nội tâm. Giải thoát, Ràng buộc tùy vào cái nhìn của chúng ta, hay nói cách khác, đó là thái độ tâm của chúng ta với hoàn cảnh.

HỎI: 

Kính Thầy, tôi không hiểu câu: "Tự do là ung dung trong ràng buộc'' là thế nào? Hai chữ "ràng buộc" ở đây có phải là Nghiệp duyên hay nói theo cách khác là Định mệnh đã an bày cho mỗi một con người? Nhưng ở trong tư thế " ràng buộc " thì làm sao có được sự " tự do " và bằng cách nào để chúng sinh "thoát" ra khỏi sự "ràng buộc" này?!
Xin cảm niệm Thầy. A Di Đà Phật.

ĐÁP:
Thưa Đạo hữu- Phật giáo không tin vào thuyết Định mệnh hay cái gọi là ''số mệnh an bày" mà chính là Nghiệp Duyên, là sự vô minh, chấp thủ ràng buộc lấy tâm hồn con người chúng ta.
Nếu thực sự có Số Mệnh, nghĩa là có một thế lực ngoại tại an bày, sắp đặt chúng ta, vậy thì sự tu hành giải thoát trở nên vô nghĩa, vì có tu gì chăng nữa thì vĩnh kiếp cũng không thay đổi được gì.
- Nước biển thì mặn, nước sông thì ngọt nhưng có chung một bản chất đó là nước, là thể lỏng.
Phiền não là khổ đau, Bồ Đề là giác ngộ nhưng cũng đều xuất hiện từ nội tâm. Bùn thì hôi hám, sen thì thơm tho, nhưng sen lại vươn lên từ bùn. (No mud, no lotus) Cùng thế ấy, sự giải thoát (tự do) được "mọc lên'' từ trong sự ràng buộc của thế gian, cũng giống như sen được mọc lên từ bùn vậy!

Có hai người bị giam vào tù, một người chỉ thấy bốn bức tường xám ngắt giam hãm đời mình, còn người kia thì nhìn qua song sắt trông thấy những vì sao và vũ trụ bao la... Ai cho họ cái nhìn đó? Giải thoát hay ràng buộc phụ thuộc vào ''cái nhìn'' của chúng ta, hay nói cách khác, đó là thái độ tâm của chúng ta với hoàn cảnh. Ngài Di Lặc vẫn với nụ cười hỷ lạc dù chung quanh Ngài là một đám con nít đeo bám, quấy rầy, hẳn đạo hữu đã trông thấy hình tượng này rồi chứ!

Bodhgaya monk
------------------

Những điều cần suy nghĩ lại về ý tưởng của tác giả:

1/. Sen thì thơm tho, nhưng sen lại vươn lên từ bùn - Giải thoát xuất hiện từ Ràng buộc(?)  Như vậy có liên hệ gì với ý tưởng Giải thoát - Ràng buộc tùy thái độ của tâm?

2/. Nhìn quay lại chính mình là thái độ tâm của chúng ta đối với hoàn cảnh?  Lý do gì mà ta có được thái độ tâm không ràng buộc? Nếu không có lý do hợp lý thì thái độ này chỉ có tính gượng ép, dằn nén mà thôi, sau đó thì đâu cũng vô đó - phiền não trở lại như thường?

HT

VLCĐ: Sống trong đời ai cũng cần có một chữ tình để tồn tại và vươn lên, có những thứ tình thoáng qua nhẹ nhàng và trôi mất, nhưng cũng có một thứ tình mà đến tận cuối đời, người,ta vẫn thường ca tụng và nhắc nhở mãi mãi. Đó là tình cảm của cha mẹ. 

Tình thương ấy chớm nở giữa loài người từ thuở hồng hoang. Ngay từ lúc lọt lòng mẹ và cất tiếng khóc chào đời Trong Đạo học làm người của đức Khổng Tử thì chữ Hiếu luôn được đặt lên hàng đầu. Ngài đã dạy cho hậu thế cẩm nang về lòng hiếu thảo của con cái đối với Cha Mẹ cho dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải phụng thờ cha mẹ của mình bằng bốn câu nói bất hủ: 

 “Cư tắc trí kỳ kính 
Dưỡng tắc trí kỳ lạc 
Bệnh tắc trí kỳ ưu 
Tử tắc trí kỳ ai”. 

 (Nghĩa là khi còn chung sống với cha mẹ thì hết lòng kính cẩn, lúc nuôi dưỡng phải luôn vui tươi(để cha mẹ được vui); gặp khi cha mẹ yếu đau phải hết lòng lo lắng thuốc thang. Chẳng may cha mẹ qua đời, tất nhiên lòng vô cùng thương tiếc, về sau đến ngày cúng dỗ thì phải vô cùng nghiêm trang) 

 Trong nhân gian, ai mà lại không có Cha, có Mẹ. Từ người làm vua cho đến kẻ cùng đinh hà tiện tất thảy đều do Cha Mẹ sinh thành. Cha Mẹ, cho dù khổ đau, lam lũ hay hạnh phúc cao sang thì giá trị tình thương của Cha Mẹ vẫn luôn không thay đổi.

 “Đố ai đếm được lá rừng 
Đố ai đếm được mấy từng trời cao. 
 Đố ai đếm được vì sao 
Đố ai đếm được công lao mẫu từ”.

Xin giới thiệu sưu tầm một số bức Thư Pháp viết đẹp về Cha Mẹ và một số câu khác. Chân thành cảm ơn các tác giả.

Quang Ninh

















MỘT SỐ CÂU THƯ PHÁP VIẾT ĐẸP:
















Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.