tháng 2 2018

VLCĐ: Sự thành đạt và giàu nghèo không nằm ở việc chúng ta dốc hết sức lực vào công việc nào đó, mà chính là cách thức triển khai để tối ưu hóa nhân lực và tài lực của mình. Trong cuộc sống chúng ta có thể gặp nhiều khó khăn, hãy nghe qua lời dạy của Đức Phật để làm hành trang trong cuộc sống.

Một người nghèo luôn than thở về số phận hẩm hiu của mình, anh ta thường than thân trách phận… và cuối cùng đền hỏi Đức Phật.
Người này đã thỉnh cầu Phật tới giúp để giải đáp nỗi oan khuất của mình. Trước mặt Phật, người nghèo khóc lóc kể về những cơ cực hàng ngày, làm việc mệt tưởng chết nhưng vẫn chỉ đủ ăn từng bữa mà không có của để dành. Sau một hồi kể lể, người nghèo mới bình luận: “Con thấy đời thật bất công, tại sao lại có những kẻ giàu sang ung dung hưởng thụ còn người nghèo như chúng con đây làm việc cật lực quanh năm suốt tháng vẫn không thể được như họ?”.

Phật mỉm cười và hỏi: “Vậy theo con như thế nào mới là công bằng?”. Người nghèo nhanh chóng đáp: “Dạ, con muốn Ngài để người nghèo và người giàu cùng có xuất phát điểm như nhau để xem họ sống ra sao. Nếu sau một thời gian người giàu vẫn giàu thì con sẽ không còn gì để phàn nàn nữa ạ”.
Phật gật đầu rồi nói: “Được rồi!” và Phật biến thành một người cùng xuất phát điểm như người nghèo.

Mỗi người tới một ngọn núi để tìm kế sinh nhai. Núi có mỏ than nên hàng ngày hai người đó có thể khai thác than đem ra chợ bán đổi lấy tiền. Sau một tháng sẽ xem kết quả ra sao. Hai người cùng nhau đào than. Người nghèo rất chăm chỉ làm việc và chẳng mấy chốc đào được đầy một xe than, chở ra chợ bán lấy tiền. Anh lấy số tiền đó mua hết đồ ăn ngon mang về cho vợ và con cùng hưởng. Người còn lại không làm tích cực được như vậy, đào một lát đã thấy mệt và toát hết mồ hôi. Đến chiều muộn mới đào xong được gần đầy xe than, cũng đem ra chợ bán lấy tiền. Tuy nhiên anh chỉ mua một ít bánh mỳ thô, số còn lại để dành.

Sang ngày hôm sau, người nghèo lại cật lực đào xới than, còn người kia ra chợ. Một lát sau anh trở về với hai người đàn ông rất khỏe mạnh và không có việc gì làm để kiếm tiền. Hai người kia tới mỏ than, không ai bảo ai cật lực đào bới, người đàn ông chỉ đứng và chỉ đạo họ làm việc. Chỉ trong buổi sáng, người đàn ông đã có hai xe than đầy. Anh lại mang ra chợ bán đổi lấy tiền và thuê thêm nhân công. Cứ thế số than anh khai thác ngày một nhiều, trừ đi tiền trả cho người làm thuê cũng còn kha khá
.
Một tháng trôi đi nhanh chóng và người nghèo vẫn vậy, hàng ngày mua được đồ ăn ngon, rượu ngọt nhưng không dành dụm được gì. Ngược lại người kia đã trở nên giàu có, sở hữu trong tay một đội quân khỏe mạnh để hàng ngày khai thác rất nhiều than chở ra chợ bán, thu về rất nhiều tiền. Và có lẽ người nghèo không còn phàn nàn gì nữa

Câu chuyện trên cho chúng ta hiểu rõ yếu tố cốt lõi mang đến thành công hay trở nên “giàu có”. Sự thành đạt không nằm ở việc chúng ta dốc hết sức lực vào công việc nào đó, mà chính là cách thức triển khai để tối ưu hóa nhân lực và tài lực của mình. Nếu biết sử dụng tốt nguồn tiền ban đầu cho dù là ít ỏi, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ thành công.
Rất nhiều người nghèo đã từng mơ ước, thậm chí có cơ hội và hành động nhưng họ không kiên trì đến cùng.

Trong kinh lời Giáo Huấn, Phật dạy: "Nầy chư Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, thì thường xuyên quán chiếu hai chữ": Tri túc. Hể biết đủ thì sống ở hoàn cảnh cảnh nào cũng an vui, tự tại. Còn người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Trong thế gian người giàu có nhất là người biết đủ. Người không biết đủ thường bị năm thứ dục lạc lôi kéo, dẫn dắt, khiến người biết đủ thương hại và khóc thầm.

 

Một nhà đầu tư nói bí quyết thành công của mình là: “Lúc không có tiền, cho dù khó khăn cũng nên tiết kiệm và đầu tư. Áp lực sẽ khiến bạn tìm được phương pháp kiếm tiền mới, giúp bạn trả hết nợ. Đó là một thói quen tốt.”
Tính cách hình thành thói quen, thói quen quyết định thành công.
Người càng sâu sắc: Càng trầm tĩnh đơn giản.
Người càng nông cạn lạnh nhạt: Càng táo bạo bất an.
Kẻ mạnh: Không phải là không có nước mắt mà là kìm nén nước mắt không rơi
Kẻ yếu: Không phải ở vẻ bề ngoài mà là ở tinh thần suy sụp.
Nếu như mọi việc đều dễ dàng thì giá trị của bạn ở đâu

Có một con thiên lý mã trẻ tuổi, đang đợi Bá Nhạc đến phát hiện ra nó.
Thương gia đến, nói: “Bạn sẵn lòng đi theo tôi không?”
Ngựa lắc đầu nói: :”Tôi là thiên lý mã, sao có thể đi theo thương gia vận chuyển hàng hóa được?”
Binh lính đến, nói: “Bạn có muốn đi theo tôi không?”
Ngựa lắc đầu nói: “Tôi là thiên lý mã, một binh sĩ bình thường sao có thể phát huy hết khả năng của tôi?”
Thợ săn đến, nói: “Bạn sẵn sàng đi theo tôi không?”
Ngựa lắc đầu nói: “Tôi là thiên lý mã, sao có thể đi theo hầu thợ săn?”

Ngày qua ngày, năm qua năm, con ngựa vẫn chưa tìm được cơ hội lý tưởng cho mình.
Rồi một ngày, khâm sai đại thần phụng mệnh đến nhân gian tìm kiếm thiên lỹ mã. Thiên lý mã gặp được khâm sai đại thần, nói:

“Tôi chính là thiên lý mã mà ông muốn tìm.”
Khâm sai hỏi: “Bạn có thông thuộc đường đi trên đất nước chúng ta không?”,
Ngựa lắc đầu.

“Bạn đã từng ra trận, có kinh nghiệm tác chiến chưa?”,
Ngựa lắc đầu

Khâm sai lại hỏi: “Tôi có thể dùng bạn vào việc gì?”
Ngựa trả lời: “Tôi có thể một ngày đi được một nghìn dặm, một đêm đi được 800 dặm”

Khâm sai đại thần cho ngựa chạy thử một đoạn đường. Ngựa cố gắng hết sức chạy tiến lên phía trước, nhưng chỉ được vài bước nó đã thở hồng hộc, mồ hôi chảy đầm đìa
“Bạn già rồi, không dùng được!”, nói xong khâm sai liền bỏ đi.

Hôm nay, những nỗ lực dường như bình thường của bạn đều là tích lũy cho tương lai. Mỗi một lần kinh nghiệm, một lần không vui, bị từ chối đều đặt nền móng cho thành công sau này. Không phải chờ đến lúc già, không chạy nổi nữa mới hối hận.

Bằng cấp không có nghĩa là có năng lực, văn bằng không có nghĩa là có văn hóa, quá khứ huy hoàng chỉ là lịch sử để nhớ lại. Vì vậy, ngày hôm qua như thế nào không quan trọng, quan trọng là hôm nay ra sao, ngày mai sẽ thế nào!
Trong cuộc sống chúng ta có thể gặp nhiều khó khăn, gian khổ nhưng chỉ cần cố gắng, kiên trì vượt qua thì nhất định sẽ có một tương lai tốt đẹp!


Khi hồn đã lìa khỏi xác thì dù có trăm, ngàn giáo sĩ cầu nguyện van vái cũng chẳng ăn thua gì. Lúc sống chẳng lo, lúc chết lo sao kip? Vậy làm thế nào để phân biệt được một người chết và một người Vãng sinh Chính vì xót thương chúng sinh mà Đức Phật đã chỉ dạy pháp môn Tịnh Độ để có thể vượt qua ba ác đạo và thẳng tiến lên của Phật A Di Đà hay vãng sinh Tịnh Độ cũng thế.

Vào ngày 08-04-2010 tôi đã có dịp giới thiệu cuốn sách Tu Tại Gia của GS. Lê Thái Ất. Nay do  duyên may, lại được hân hạnh giới thiệu cuốn sách mới vừa xuất bản, có tựa đề rất dài Vãng Sanh Tịnh Độ: Làm Thế Nào Để Phân Biệt Được Một Người Chết và Một Người Vãng Sanh Tịnh Độ của BS. Nguyễn Thanh Giản. Vì tựa đề quá dài làm người đọc khó nhớ cho nên tôi mạo muội rút gọn tên sách thành Chết Hay Vãng Sanh Tịnh Độ? để độc giả dễ nhớ hơn. Sách được ra mắt tại tư gia một thân hữu tại San Jose trong khung cảnh ấm cúng, đạo vị vào ngày 19-12-2010.

Câu hỏi đặt ra ở đây – là một nhà trí thức, suốt đời để tâm nghiên cứu Phật Giáo cũng như các tôn giáo khác, đồng thời bản thân cần mẫn tiến tu, cuối đời sao ông không viết một cuốn sách về Phật Giáo thật “cao viễn” mà lại viết về chuyện rất xưa, “xưa như trái đất” nhưng rất thực tiễn mà ông bà cụ kỵ chúng ta đã làm - đó là phát nguyện và niệm Phật để cầu vãng sinh Tịnh Độ?

Tại cái thế giới hữu hạn và vô thường này, cái chết là chuyện đương nhiên “Nhân sinh tự cổ tùy vô tử”. (Nguyễn Công Trứ) Một ngày, một giờ, một phút trên hành tinh này không biết bao nhiêu người từ giã cõi đời, mà thần thức không biết phiêu bạt về đâu? Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh? Khi hồn đã lìa khỏi xác thì dù có trăm, ngàn giáo sĩ cầu nguyện van vái cũng chẳng ăn thua gì. Lúc sống chẳng lo, lúc chết lo sao kip? Cũng như sĩ tử đi thi, chẳng lo “dùi mài kinh sử” khi vào trường thi, trống đánh thùng thùng thì hồn vía lên mây, bụng dạ, chữ nghĩa đâu mà làm bài thi?

Chính vì xót thương chúng sinh mà Đức Phật đã chỉ dạy pháp môn Tịnh Độ để chúng sinh, với cuộc sống quá bôn ba, bận rộn, đôi khi lười biếng, chỉ cần Niệm Phật cũng có thể vượt qua ba ác đạo và thẳng tiến lên Cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà hay vãng sinh Tịnh Độ cũng thế.  

Theo sự hiểu biết của tôi và cũng là nội dung của cuốn sách này, đồng thời cũng là sự chỉ dạy của Chư Tổ, cầu vãng sinh không phải là cầu cho chết sớm mà là cầu sống thư thái, nhẹ nhàng, đạo hạnh. Người cầu Vãng Sinh từ từ dứt bỏ hoặc dứt bỏ ngay những ràng buộc, muộn phiền làm khổ ta và khổ người, nhất là lúc lâm chung. Người cầu Vãng Sinh không bao giờ Sợ Chết, không nuối tiếc ảo ảnh quá khứ mà ngay sau khi chết, hoan hỉ tiến lên Thế Giới Cực Lạc của Phật A Di Đà để “đồng cư” với  các bậc hiền thánh khác, tiếp tục cuộc hành trình cao cả là tiến lên Phật quả mà mình không đủ khả năng hoàn tất ở Thế Giới Ta Bà.

Chúng ta hãy nghe tác giả giải thích “Xin nhắc lại là tất cả mọi người đều cũng có cơ hội đó. Nếu ta biết nắm lấy cơ hội đó thay vì chỉ suy nghĩ , mong cầu, tiếc nuối hoặc ước vọng lang bang thì cơ hội đó sẽ mất không tìm thấy một lần thứ hai. Vậy thì cơ hội đó là lúc nào? Đó là lúc ta ngáp ngáp trên giường bệnh. Lúc đó thật đau đớn, thật hoang mang, thật nuối tiếc, thật hối hận nếu đã tạo một lỗi nặng, thật lo ngại nếu những người thân chưa ổn định được cuộc sống. Nhưng dù có những vấn đề được đặt ra, chúng ta cũng không thể làm được bất cứ điều gì cả ngay ở thời điểm đó. Vậy tốt hơn hết là bỏ hết…Đó chính là lúc ta thoát khỏi cái Ngã và tâm ta quyết hướng dẫn ta đi theo Đức Phật A Mi Đà, (*) Đức Đại Thế Chí, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Các ngài sẽ đón ta lúc sắp lâm chung dưới hình thức những hóa thân hoặc những luồng ánh sáng rõ ràng.” (Tr. 12 & 13)

Để làm nòng cốt cho cuốn sách, tác giả đã trình bày bốn Lá Thư Tịnh Độ của chính tác giả gửi cho Cư Sĩ Diệu Âm ở Úc Châu vào năm 2007 để luận bàn về vãng sinh.

- Trong lá thư thứ nhất, tác giả viết “Gần đến ngày đó (vãng sinh) có người tổ chức một đạo tràng niệm Phật, có người mở tiệc chay ăn mừng lúc chia tay những người thân dưới sự chứng kiến của hàng ngàn người.” Rồi “Ánh sánh tiếp dẫn của Đức A-Mi-Đà  và các vị Bồ Tát được nhiều người nhìn thấy, có quay Video. Có thân nhân còn cảm thấy mùi thơm. Thân xác người chết sau bốn giờ trở lên vẫn còn mềm mại, hồng hào thay vì nét mặt kinh hoàng…” (tr. 23) Và về phương diện y khoa, “Người ta dùng cách đo nhiệt độ trên thân thể người sắp chết và người chết rồi để biết được người nào vãng sanh.” (tr. 24)

- Trong lá thư thứ hai, tác giả đề cao pháp môn niệm Phật, pháp môn duy nhất để vãng sinh Tịnh Độ. Nhưng tác giả nhắn nhủ hai điều: Thứ nhất, vãng sinh không có nghĩa là trả hết nghiệp. Thứ hai, “Nếu ta cầu xin vãng sinh mà còn sợ chết thì chữ Tín (trong Tín, Nguyện, Hành) kể như chưa nghiêm túc lắm” (tr. 29),  tức bán tín, bán nghi. Một giải đáp quan trọng khác trong lá thư thứ hai này là “Nếu chúng ta coi Tịnh Độ là 100% sức tu trì của chúng ta thì Thiền, Mật Tông, Sám Hối có cần thiết nữa không? Tôi cho rằng vẫn cần thiết vì nó hỗ trợ cho hạnh nguyện vãng sanh của chúng ta chứ không có sự đối nghịch nào ở đây.” (tr. 30)

-Trong lá thư thứ ba, vào ngày Chủ Nhật, đi chùa, sau hai tiếng đồng hồ qùy dưới Phật đài đọc Tứ Hoằng Thệ Nguyện (**), tác giả luận bàn với một số bạn đạo và họ thường hỏi nhau “Hiện nay vấn đề quan trọng nhất của đời mình là gì?” (tr. 42) Tất cả đều đồng ý là “Không ai muốn trở lại làm người nữa.” (tr. 42) Điều này hoàn toàn đúng. Những ai đã từng tin Phật, đã từng đọc sách Phật đều sợ hãi cuộc sống nơi cõi Ta Bà này kể cả những người đã tột đỉnh vinh hoa, phú quý. Đến như Cụ Nguyễn Công Trứ, đã làm tới đại tướng rồi mà còn phải thốt lên:

Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

chứ đừng nói chi đến những người bình thường phải chạy vạy tối tăm mặt mũi để vươn lên trong cuộc sống đầy khổ lụy này. Mà muốn không trở lại làm người để xoay vần trong thế giới ngũ trược, ác thế này nữa, với sức lực quá yếu kém của chúng ta, không còn cách gì khác hơn là dựa vào tha lực, tức sự tiếp độ của Phật A-Mi-Đà.

-Trong lá thư thứ tư, tác giả khẳng định niềm tin kiên cố, hành trì niệm Phật, giữ giới rất quan trong cho sự vãng sinh.
Phần kế tiếp tác giả giới thiệu hai bộ kinh A Di Đà, Quán Vô Lượng Thọ và  48 Hạnh Nguyện của Phật A Di Đà - trụ cột của pháp Tịnh Độ. Rồi Kinh Thủ Lăng Nghiêm (phần Niệm Phật Viên Thông), Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát). Bên cạnh đó, tác giả khuyến khích mọi người ăn chay để giảm bớt hoặc chấm dứt nghiệp sát sinh để con đường tiến vào Tịnh Độ giải thoát thênh thang rộng mở.

Có lẽ phần quan trọng nhất của cuốn sách này nằm trong chương Tóm Tắt Phép Tu Của Tôi và chương Hỏi - Đáp từ trang 136 tới trang 151.

Chương Tóm Tắt Phép Tu Của Tôi:
Tác giả tâm tình “ Tôi đã chọn sau khi sau khi nghiên cứu rất kỹ không những Đạo Phật mà cả các tôn giáo khác nữa. Tôi đã chọn và không xem sự lựa chọn của tôi là đúng nhất…Tôi đã chọn pháp môn niệm Phật sau khi đã thử khá nhiều các phương thức khác.” (tr.136) Thế nhưng  bên cạnh việc Niệm Phật, tác giả thầy cần “Làm các việc tốt đẹp có nghĩa là ta phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và mở mang trí tuệ.” (tr. 139). Lời nhắn nhủ sau cùng là “ Nếu ta còn chấp ngã nặng, còn tự ái tối đa là ta còn rất khó vãng sanh.” (tr. 142).

Chương Hỏi-Đáp:
Có những đoạn vấn đáp rất hay. Tôi xin trích ra một vài đoạn.
Hỏi: “Một tín đồ ngoại đạo hỏi rằng, ta xin dựa vào sức gia trì của Phật A-Mi- Đà để được vãng sanh Tịnh Độ thì cũng chẳng khác gì chúng tôi xin Thượng Đế để vãng sanh ở cõi trời. Vậy khác nhau ra sao?”

Đáp: “Khác nhau là người Phật tử cầu xin Đức Phật A-Mi- Đà nhưng thật ra không phó mặc hoàn toàn cho Phật mà niệm Phật là dựa vào Phật A-Mi- Đà để khơi dậy cái phần Phật tính trong mỗi tâm chúng ta. Phần Phật tính này đã có sẵn, sẽ được Phật A-Mi-Đà đưa về cõi Tịnh Độ. “

Hỏi: “ Đạo Phật có phải là một tôn giáo bi quan, yếm thế không? “

Đáp: “Nhất định là không. Đức Phật thấy đời là bể khổ nên chỉ dẫn cho ta vượt ra ngoài. Ngài hướng dẫn cho chúng ta có một Thân Tâm An Lạc, như vậy sao gọi là bi quan, yếm thế được!”

Tôi hoàn toàn đồng ý với lý giải của tác giả. Bi quan yếm thế là thấy đời toàn là một mầu đen và không lối thoát. Bày ra những lối thoát để con người vượt qua những bất hạnh của cuộc sống, rồi làm thăng hoa hay “nở hoa” cuộc sống thì đó là đạo cao thượng chứ không phải đạo yếm thế.

Trong một đoạn hỏi đáp khác, theo kinh điển Phật Giáo, tác giả khẳng định rằng không có một “linh hồn” bất biến và cố định như quan niệm của một vài tôn giáo khác. Mà nó là tập hợp của Thọ, Tưởng, Hành, Thức tùy duyên mà biến hiện. Nó “Biến thành Trí rất kém cỏi ở loài súc sinh. Biến thành Trí rất đói khát ở loài Ngạ Quỷ. Biến thành Trí rất đau khổ ở Địa Ngục. Biến thành trí vất vưởng nơi cuối bãi đầu ghềnh như nhà thần giao cách cảm (ngoại cảm) Phan Thị Bích Hằng nói về thần thức của một cán binh chết chết chôn ở một bãi cát nhưng lại là nhà tắm của một nông dân. Dù hài cốt đã dời về quê nhưng đam mê của anh ta cứ mãi kéo hồn anh lưu luyến nơi này để lén nhìn cô gái tắm truồng. Nhưng cũng thần thức đó nếu do tu hành mà lên được Cõi Tịnh Độ thì tâm linh đó biến thành bốn trí: Sở Tác Trí, Diệu Quan Sát Trí, Bình Đẳng Tánh Trí và Đại Viên Cảnh Trí.” (tr. 148) Hay nói khác hơn đó là trí tuệ của chư Phật.
Ở phần cuối, tác giả giới thiệu một số bài đọc thêm như Ý Nghĩa Tràng Hạt của Tỳ Kheo Thích Phước Thái, Lời Khai Thị của Đại Sư Ấn Quang.

Lời Kết: Sách không dày, chỉ 173 trang, chữ lớn cho các bậc cao niên dễ đọc, lời văn chân tình, mộc mạc, bày tỏ quyết tâm của tác giả lúc lâm chung sẽ không sa vào ba ác đạo Địa Ngục, Ngạ Quỷ,  Súc Sinh, cũng không muốn sinh lên Cõi Trời hưởng dục lạc mà chưa thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngay từ bây giờ chuẩn bị Vãng Sinh Tịnh Độ, “tạm cư” ở Tịnh Độ để tiếp tục tu hành  và có thể 1 triệu 600 năm nữa “Cho đến khi Đức Di Lặc ra đời, chúng ta sẽ cùng xuống thế với Ngài – cũng như nhiều vị cao minh khác đã từng xuống thế với Phật Thích Ca” để thực hiện hạnh nguyện Bồ Tát.
Sách in để biếu tặng tất cả các Phật tử thân kính, không bán. (***) Quý vị muốn có sách xin liên lạc với tác giả theo địa chỉ:

BS. Nguyễn Thanh Giản
2304 Monte Vista Dr.
Pinole, CA 94564
ĐT: (510) 758-0346
Đào Văn Bình
(California 19-12- 2010)
 
 (*) Trong suốt cuốn sách tác giả dùng danh từ A-Mi-Đà Phật thay vì A Di Đà Phật với lý do giải thích nơi trang 36: “Cả hai cách gọi đều đúng. Cách gọi thứ nhất (A-Mi-Đà) thì giống âm hơn. Người Tàu gọi là Amituofo. Còn cách thứ hai A Di Đà Phật đã có từ ngàn xưa và xem ra vẫn có hiệu quả đưa ta về Cực Lạc”
(**)Tứ Hoằng Thệ Nguyện bao gồm: Chúng sanh vô biên  nguyện độ tận. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn vô thượng thệ nguyện học. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
(***) Dù sách biếu không, cũng xin quý vị gửi theo cước phí để chia xẻ gánh nặng với tác giả nếu phải gửi biếu vài trăm cuốn

VLCĐ: Đi lễ chùa đã là một truyền thống gắn liền với tín ngưỡng tâm linh của người Việt. Tuy nhiên đứng trong chốn linh thiêng đó, người phật tử cầu nguyện đầu năm như thế nào cho đúng chánh pháp, không chỉ là để giao hòa ước nguyện, mà còn để hòa mình vào chốn tâm linh, gạt bỏ đi những lo toan vất vả của cuộc sống.

Tết đến xuân về là thời điểm khởi đầu cho một năm mới, mang theo nhiều hy vọng. Vào thời xa xưa, dịp năm mới chính là dịp “ngũ cốc đại thục” (ngũ cốc chín), cổ nhân sau khi được mùa thì sẽ tiến hành những nghi lễ thờ phụng và cảm tạ Thần linh, đồng thời cầu xin năm sau được mưa thuận gió hòa.

Năm mới truyền thống cổ xưa là bắt đầu từ mùng 8 tháng Chạp, kết thúc vào 15 tháng Giêng. Ngày mùng 8 tháng Chạp chính là ngày Đức Thích Ca Mâu Ni khai ngộ thành Phật. Chính vì thế, trong dân gian và chùa chiền thì ngày này người ta đều ăn cháo, một mặt là cầu nguyện cho năm mới ngũ cốc dồi dào, lục súc hưng vượng, nhưng mặt quan trọng hơn là để tỏ lòng kính ngưỡng, hướng về Đức Phật.

Cũng chính vào thời điểm ấy, cửa chùa rộng mở đón tiếp du khách bốn phương về đi lễ Phật đầu năm. Người Việt đến chùa không đơn giản chỉ là để ước nguyện, mà còn để hòa mình vào chốn tâm linh, gạt bỏ đi những lo toan vất vả của cuộc sống.

Nhưng người ta vẫn thường than rằng, nền văn minh vật chất phát triển quá nhanh trong khi nền văn minh tinh thần lại không thể theo kịp. Người đến chùa mong cầu sức khỏe, bình an, mong cầu Thần Phật phù hộ cho con cái, cho công việc làm ăn, hay cho được công thành danh toại. Cũng có người đến chùa là để tìm lối thoát cho những khúc mắc trong cuộc sống của bản thân, như là cầu duyên, cầu được tai qua nạn khỏi, hay mong muốn vượt qua khủng hoảng, bế tắc. Tất nhiên, mặc dù hiếm hoi, nhưng đôi lúc nhà chùa cũng được đón tiếp những người mộ Đạo, muốn giải quyết những trăn trở trong kiếp nhân sinh, tìm về chân lý.

Vậy thì đầu năm mới người ta nên cầu gì khi đi lễ chùa?


Nếu là cầu tiền tài, may mắn, danh vọng, cả cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dẫn dắt các đệ tử của ngài đi xin ăn, đi hóa duyên, yêu cầu họ vứt bỏ hết những tâm đeo bám vào tiền tài danh vọng. Ngài dạy cho họ biết buông bỏ, biết cách tu hành, để rồi thật sự đạt được trí huệ cao hơn. Vậy thì những lợi ích phàm tục này có phải là những gì Đức Phật sẽ cấp phát để con người ham muốn tới u mê?

Nếu là cầu duyên, theo lý nhà Phật thì duyên cũng thật không phải thứ có thể cưỡng cầu. Chưa nói đến tình duyên, mà thậm chí là duyên cha mẹ, duyên con cái, cũng đều chỉ gói gọn trong một kiếp này. Có ai là mang theo được cái duyên ấy? Đức Phật hướng con người ta đến sự giải thoát khỏi cõi luân hồi, cũng chính là thoát khỏi những duyên nợ ân oán. Vậy thì làm sao Phật có thể ban duyên cho người ta? Điều ấy có lẽ cầu Nguyệt lão se tơ hồng nghe ra còn hợp lý, nhưng không có cái phúc phận ấy thì cũng không thể nào toại nguyện.

Nếu là cầu sức khỏe, bình an, theo lý nhân quả và niềm tin vào sự luân hồi thì con người ta gặp chuyện không may đều là để hoàn trả những oan nợ đã làm từ một hay nhiều kiếp trước, sau khi hoàn trả và chịu khổ rồi thì người ta mới có được phúc phận. Vậy nếu nói một người luôn sống thoải mái cả cuộc đời, thì phải chăng họ sẽ không còn cơ hội tiêu trừ những ác nghiệp? Phải chăng điều chờ đợi họ sẽ là oan nợ chất chồng, là đại nạn khó thoát?
Cũng có người chẳng cần gì cho bản thân, nhưng lại muốn cầu cho người khác, hàm ý rằng cái tâm ấy là “vì người khác”. Nhưng “người khác” ấy thường thì là con cái, cha mẹ, anh chị em, cũng là cái tâm hướng tới người thân, chứ ít có ai thật sự cầu cho “người khác” cả.

Vậy thì người xưa cầu gì?
 Người xưa đến lễ Phật là mang theo cái tâm kính ngưỡng Phật, mong muốn chiểu theo những gì Phật dạy mà làm. Người mộ Đạo đến cầu chân lý, bày tỏ cái tâm không sợ khó, không sợ khổ, chỉ một lòng mong được đắc độ. Người bình thường cũng nhân dịp lễ Phật mà ăn năn trước những tội lỗi của mình, và cầu xin có cơ hội được hoàn trả sai trái, làm việc tốt, hành thiện giúp đời. Ngày nay người đến lễ Phật mấy ai sám hối ăn năn? Lại càng ít người có cái tâm cầu Đạo.

Có người nói rằng, chúng ta đang “hối lộ” Thần Phật – Ngẫm đi ngẫm lại thì lời nói ấy cũng chẳng hề sai. Chính là vì con người đã thay đổi rồi, không còn thật sự biết tôn kính Thần Phật như thế nào nữa. Thậm chí trong những món ăn món uống cũng mang hàm ý xúc phạm thần linh mà không tự biết. Chẳng hạn như “Trà La Hán”“Phật nhảy tường”, với hàm ý thô tục rằng các bậc Đại Giác cũng sẽ không nhịn được mà thèm ăn mấy món đồ đó. Vậy chẳng phải là báng bổ thần linh hay sao?Năm mới đến cùng với những hy vọng mới, những kỳ vọng mới, những khát vọng mới. Nhưng mong rằng trong dịp năm mới này, người đi chùa sẽ không đến chỉ vì tài, vì lộc, vì duyên, cũng đừng chỉ nhấn mạnh vào sức khỏe, bình an, mà quên đi những chân lý mà Thần Phật dạy – Đó là sự ăn năn, là thiện niệm, là lẽ nhân quả, là từ tâm đối với hết thảy mọi điều.

Quang Minh

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.