Thế nào là thiện duyên? Mối
duyên phận này đem đến an vui, hạnh phúc cho những người trong cuộc.
Thế nào là ác duyên? Tức là
mối duyên phận này chỉ toàn đem lại khổ đau và buồn phiền cho những người trong
cuộc.
Nói đến Nợ tức là có trả nợ,
có đòi nợ. Trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy được hiện tượng đòi nợ và trả
nợ trong quan hệ vợ chồng rất rõ ràng. Ban đầu khi đến với nhau chẳng phải đều
rất tốt đẹp đó sao, nhưng chỉ trong thời gian ngắn thì liền trở mặt, liền chia
tay. Nguyên nhân do đâu? Đã hết nợ, khi một trong hai người đã đòi nợ xong
xuôi, và người kia cũng trả xong, thì liền chia tay, liền ra đi.
Vậy thế nào là đến với nhau
để đòi nợ? Người này trong gia đình thường rất gia trưởng, không thích làm,
nhưng rất biết hưởng thụ, không thích người chồng hay vợ làm phật ý mình, nhưng
bản thân thì không mấy quan tâm đến cảm nhận của người chồng hay vợ của mình.
Nếu là nợ ít, thì người này chỉ trong thời gian ngắn thì đòi xong nợ, nợ đòi
xong thì liền chia tay, liền ra đi. Nếu nợ nhiều, thì có khi đến hết cuộc đời
mới chịu ra đi.
Vậy thế nào là đến với nhau
để trả nợ? Người này rất mực yêu thương và lo lắng, làm tất cả mọi việc chỉ để
cung phụng và phục vụ cho người chồng hay vợ của mình. Mặc dù là người làm ra
tiền, nhưng người này chẳng dám xài dù chỉ một đồng cho mình, tất cả đều dành
cho người chồng hay vợ của mình.
Duyên-Nợ của vợ chồng là từ
đâu đến? Đó là từ những nhân duyên vay trả từ đời quá khứ mà đến. Đời trước ta
nợ của người, nhưng lại có duyên tình ái với người, nên đời này người đến làm
chồng, làm vợ của ta để viết tiếp đoạn tình ái còn dang dở của đời quá khứ, và
cũng để đòi cho xong số nợ mà ta đã nợ của người. Thế mới biết, giữa người với
người không có chuyện thiếu nợ mà không trả, đời này không trả thì đời sau vẫn
phải trả, đời sau không trả thì đời sau nữa vẫn phải trả.
Trong truyện Hồng Lâu Mộng
nói được rất hay:
_ " Nợ người nước mắt
thì phải trả lại bằng nước mắt".
Từ đây mà biết được, chính
chúng ta tu phước, chính chúng ta thọ dụng, chẳng ai có thể can thiệt vài tiến
trình Nhân-Quả của chúng ta được cả.
Giờ đây đã hiểu được chân
tướng sự thật Duyên-Nợ giữa vợ chồng rồi, thì trong cuộc sống gia đình hằng
ngày, chỗ nợ mình thiếu đó cứ hoan hoan hỷ hỷ mà trả, đừng nên đi so đo, chấp
được, chấp mất nữa. Vì sao? Vì biết được nếu bây giờ mình không trả, thì sau
này vẫn phải trả, đời này không trả thì đời sau vẫn tiếp tục trả, vậy thì hà
tất gì phải kéo dài thời gian làm khổ cho chính mình chứ. Cứ vui vẻ mà trả, nợ
trả xong rồi thì phước, thì an vui liền đến.
Vậy còn người thiếu ta thì
sao? Số nợ này ta không cần nữa, bỏ qua hết cho người. Vậy thì liền được tự
tại, được an vui. Có người nói rằng:
_ " Nợ là do người thiếu
của ta, nay ta bỏ qua hết cho người, vậy thì ta có thiệt thòi quá không?"
Xin thưa rằng, chẳng những
không có thiệt thòi, mà còn được phước. Nếu ta không bỏ qua, quyết định đời này
cùng với người nợ nần phải đòi cho bằng được. thì đến kiếp kế tiếp ta lại là
người phải đi trả nợ.
Ta và người nợ nần đền trả
hết kiếp này đến kiếp khác không cùng không tận. Đồng nghĩa với việc ta mãi đi
trong luân hồi sanh tử chỉ để hết vay rồi trả, hết trả rồi vay cùng với người.
Vậy thì cái đòi được trước mắt không đủ để bù vào cái ta sẽ mất trong tương
lai, đây là thiệt thòi quá lớn, quá lớn.
Nguồn: Luật viện Chùa Huệ Nghiêm
Kính mời nghe tiếp:
PHẦN 6: Niệm Phật một tiếng, tay lần một hột. Chỉ nên niệm bốn chữ, đừng lộn sáu chữ, vì bốn chữ rất dễ thành khối . Trong bốn chữ A Di Ðà Phật, hoặc lần chuổi tại chữ A, hoặc lần tại chữ Ðà, hoạch định cho có phép tắc, không được lầm lẫn, đây là pháp mượn chuổi để nhiếp tâm vậy.
PHẦN 7: Nếu lúc thần trí hôn trầm , hay khi vọng tưởng đua khởi, hãy nên trấn tỉnh tinh thần, to tiếng niệm Phật, niệm cho được vài ba trăm tiếng tự nhiên đổi thành cảnh giới an tịnh. Bởi vì nhĩ căn thính lắm, nên ngoại duyên dễ vào, tiếng làm cho tâm động, tạp tướng nổi dậy, nên phải to tướng niệm Phật để giữ gìn nhĩ căn, hầu mở tỏ tâm linh. Bấy giờ tâm chỉ nghe tiếng của chính mình, mỗi tiếng liên tục, đầy đủ, tất cả những gì phải quấy, nên, hư tự nhiên phóng xả.
Kính mời Quý vị nghe những bài
giảng của Hòa Thượng Thích Giác Khang về Tịnh Độ để tự mình khai thị chân tâm
mà cầu phước lành cho hiện tại cùng các kiếp lai sinh. Do vì phần âm thanh của một số bài giảng lượng echo (tiếng vang) quá nhiều nên khó nghe. Vì vậy chúng tôi chưa đăng để chờ sửa chữa.
----------------------------
PHẦN 2: Pháp thoại: Pháp Môn Tịnh Độ (phần 02) do Hòa thượng Giác Khang thuyết giảng tại Chùa Phước Thành tỉnh Trà Vinh - khóa tu Phật thất lần thứ 25 từ ngày 10-17/10/2009 (nhằm ngày 22-29/08/Kỷ Sửu).
PHẦN 3: Ðã đem tâm này niệm Phật, phàm tất cả việc tạp thiện, tạp ác đều không nên nhớ, tức hàng ngày chỉ nên làm mọi việc với ý niệm vạn bất đắc dĩ, xong rồi thì xả, đừng để day dích, sẽ chướng ngại tâm niệm của chúng ta. Vả lại, sở dĩ tâm niệm của chúng ta cứ còn dây dưa mãi với những tạp thiện, tạp ác là vì ý địa chưa thuần; nếu ta niệm Phật đến lúc tâm địa sáng tỏ, thời ý địa tự nhiên chuyên ròng nơi quán sát, không duyên tạp sự. Phải biết, niệm Phật có thể chuyển Phàm thành Thánh, là phương tiện giải thoát thứ nhứt của thế gian và xuất thế gian vậy.
PHẦN 4: Ðã dùng miệng này niệm Phật, phàm tất cả những việc SÁT, ÐẠO, DÂM, VỌNG không nên buông lời nói càng, nói quấy. Một khi nói lỡ, nên tự nghĩ rằng: người niệm Phật không nên nói như thế, rồi cố gắng niệm lớn ít tiếng danh hiệu Phật để trấn áp tâm mình và gột tẩy ngay những lời bất thiện ấy.
PHẦN 5: Ðã đem thân này niệm Phật, thời trong mọi lúc cũng như trong mọi cử chỉ: đi, đứng, ngồi, nằm, thân cần phải đoan chánh thì tâm mới được thanh tịnh. Người niệm Phật nên tự nghiệm điều này, thật không bao giờ dối.
Trong kinh lời Giáo Huấn, Phật dạy: "Nầy chư Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, thì thường xuyên quán chiếu hai chữ": Tri túc. Hể biết đủ thì sống ở hoàn cảnh cảnh nào cũng an vui, tự tại. Còn người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Trong thế gian người giàu có nhất là người biết đủ. Người không biết đủ thường bị năm thứ dục lạc lôi kéo, dẫn dắt, khiến người biết đủ thương hại và khóc thầm.
Trong kinh Di Giáo, Phật dạy: "Này các Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, nên suy nghiệm hai chữ "Tri túc". Hễ biết đủ thì ở cảnh nào cũng yên vui. Người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Người không biết đủ thường bị năm thứ ham muốn kéo dắt, làm người biết đủ thương hại.
Hiện
tại, sinh mạng của nhân loại trên toàn thế giới cũng giống như núi
trứng gà xếp chồng, nếu trong đó có một trứng bị đập vỡ, thì toàn bộ núi
trứng sẽ sụp đổ vỡ tan nát ra. Sinh mạng của con người cũng nguy hiểm
đáng sợ như vậy. Chính vì lý do đó, bao trùm trên khắp thế giới này, ở
đâu cũng có đầy dẫy những con ma, cháu ma, vua ma, dân ma... Nếu nói
chân lý thì chẳng ai nghe, nhưng tà thuyết thì không biết bao nhiêu
người sẽ tin. Hoặc như khi có người tuyên giảng về chân lý, đạo đức, tuy
có người đến nghe, nhưng vẫn có phần miễn cưỡng và không thật sự lắng
nghe lắm.
Loại
yêu quái thứ hai đang xuất hiện ở đời chính là phim ảnh. Sản phẩm này
khiến con người mê hoặc đến nổi đen trắng bất phân, thị phi chẳng rõ, sự
lý bất minh. Qua phim ảnh, những thiếu niên đã bị đầu độc một cách điên
đảo mê hoặc. Từ những đầu óc trong trắng, chúng đã biết thế nào là giết
người, phóng hỏa, trộm cắp, hiếp dâm, uống thuốc độc...
Bên
cạnh đó, có một loại ma đến từ những hành tinh bên ngoài vì muốn huỷ
diệt thế giới này. Vì vậy, nó thường xuyên tập trung vào các thủ đoạn để
tiêu diệt loài người. Bọn chúng phun ra một loại khí độc; nếu phun lên
ngũ cốc, con người ăn vào liền trúng độc; nếu phun lên các loại gia súc,
con người ăn trúng thịt đó cũng trúng độc; phun lên các loại cá, ba ba
và thủy hải sản nói chung, con người ăn vào cũng bị trúng độc, sinh ung
thư mà chết.
Nếu
con người biết hạn chế dục vọng, không tham lam, không tranh đoạt,
không mong cầu, không tự tư tự lợi, không dối trá, không ích kỷ… thì họ
sẽ không trúng phải chất độc của tiền bạc. Lại nữa, nếu không ăn thịt,
thì chất độc của các loại thịt không thể xâm nhập cơ thể. Vì chỉ có ăn
chay với các thứ rau, cải... là những thực vật tự nhiên, trong bản thân
nó đã sẵn có những chất có thể giải độc. Do đó, có thể nói, ăn rau cải
thật sự là một bảo chứng tốt nhất cho sự kiện khang trường thọ.
Được
như vậy, trong thời đại mạt pháp này, có thể nhờ cái ánh sáng của các
vị mà thế giới này được chống đỡ nhiều phần. Thế giới này sớm muộn gì
cũng sẽ bị hủy hoại, nhưng nếu có thêm những con người chân chánh biết
từng ngày sửa đổi chính mình, thì thế giới sẽ có thêm một phần chánh
khí, giảm bớt một phần tà khí; tăng một phần đạo đức, giảm một phần yêu
ma. Các vị đừng nghĩ là tôi nói chơi rồi để lời nói của tôi như gió
thoảng bên tai. Đây là một vấn đề hết sức trọng yếu, nó có quan hệ rất
mật thiết với thực tiễn đời sống hiện nay.VLCĐ: Quán Sổ tức là đếm hơi thở. Quán là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích hay suy nghiệm đến một vấn đề. Sổ tức quán là tập trung tâm trí để theo dõi hơi thở ra vào của mình, mà mục đích là để đình chỉ tâm tán loạn còn được coi là phương pháp để Định Niệm Hơi Thở.
Trong sách PHẬT HỌC PHỔ THÔNG của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa Ấn Hành 1997 đã phân tích ý nghĩa và hướng dẫn cách thực hành phép Quán Sổ tức. Đây là phép quán đứng đàu trong năm phép quán, trước tiên, phải biết quán là gì, quán như thế nào, và phải có một tâm trí định tình không tán loạn. Muốn được thế, trước tiên phải tập quán Sổ tức. Khi quán Sổ tức đã thuần phục rồi, thì các thứ quán sau mới dễ có kết quả, nghĩa là mới có thể trừ diệt dần các tâm bệnh: tham, sân, si mạn.
Phật dạy: "Tâm có định mới phát sinh trí huệ, có trí huệ mới phá trự được vô minh để minh tâm kiến tánh". Sở dĩ, các vị Thánh hiền được biết nhiều quá khứ vị lai và có nhiều điều thần diệu, đều do tâm đã định mà phát minh trí huệ sáng suốt, nên mới được như thế. Nên kinh chép: "Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biến", nghĩa là ngăn vọng tâm lại được một chỗ, thì không việc gì chẳng thành tựu. Hành giả muốn cho tâm mình hết tán loạn, được yên định, thì phải tu phép quán Sổ tức, một phép quán rất dễ thật hành và rất kiến hiệu, ai cũng có thể làm được.

Tóm tắt phần thực hành:
Trước khi quán Sổ tức cần phải theo đúng những điều sau đây:
1. Thức ăn: Phải ăn những thức ăn hợp với cơ thể của mình. Nếu ăn đồ nóng nẩy quá, thì thân thể sẽ bị bức rức, tâm sanh loạn động. Trái lại, nếu ăn những vật sanh lãnh, không tiêu hóa được, thì thân thể sẽ nặng nề, lừ đừ dễ sanh buồn ngủ.
2. Ðồ mặc: Phải ăn mặc cho hợp thời tiết. Khi trời nực, mặc đồ mỏng, khi trời lạnh, mặc đồ ấm. Nếu trái lại thân thể mất sự điều hòa, quán lâu có hiệu quả.
3. Chỗ ở: Phải ở chỗ thanh vắng, thì sự tu quán mới mau được thành công. Nếu ở chỗ ồn ào, đối với người mới tu, không khỏi bị loạn động.
4. Thời giờ tu: Nên lựa những giờ thanh vắng, như 10 giờ đêm, hay 4 giờ khuya. Nếu ở thành thị thì lựa giờ nào gia đình ngủ hết, chung quanh bớt tiếng động.
5. Tắm rửa: Thân thể phải thường tắm rửa sạch sẽ, để khỏi ngứa ngáy bứt rứt trong người.
6. Cách thức ngồi: Phải ngồi kiết già (hai chân tréo xếp lại gọn, thúc vào bắp vế cho sát), hoặc ngồi bán già (chân mặt tréo lên chân trái hay chân trái tréo lên chân mặt, thúc sát vào vế cho gọn gàng). Cách ngồi này đầu tiên chưa quen, không sao khỏi bị tê chân (chỉ tê chân khi đang ngồi thôi); qua thời gian hết tê rồi thì đau mỏi cả hai chân. Khi hết đau mỏi, về sau ngồi bao lâu cũng được.
7. Lưng: Lưng phải ngồi thẳng như vách tường, để cho các khớp xương sống ăn chịu đều nhau, như thế ngồi mới lâu được. Hành giả nên xem tấm vách tường kia, nhờ nó đứng thẳng, các viên gạch ăn chịu đồng đều, nên mới đứng lâu được , nếu hơi nghiêng, cố nhiên nó phải ngã.
8. Hai tay: Hai cánh tay vòng xuôi xuống, hai Bàn tay để trên hai chân, tay mặc gác lên tay trái, cách thức như Phật ngồi (xem hình đức Trung Tôn ngồi trong mỗi chùa).
9. Cổ và đầu. Cổ phải thẳng, đầu hơi ngã tới, hai mắt chỉ mở một phần tư (nếu mở mắt lớn thì tâm dễ bị loạn động, còn nhắm lại thì sanh hôn trầm).
Phương Pháp Sổ Tức

Khi đã ngồi yên ổn đúng với như cách thức đã nói trên, hành giả bắt đầu đếm hơi thở. Trước khi đếm, phải thở ra hít vào chín mười hơi thật dài, để cho hơi thở điều hòa và những trược khí, uất kiết, nặng nề trong người đều tuông ra cả, và thay thế vào bằng những thanh khí mát mẻ, trong sạch của thiên nhiên.
Khi thở ra, hành giả phải tưởng: "những điều phiền não: tham, sân, si, các chất bẩn trược trong người đều bị hơi thở tống ra sạch hết, không còn một mảy may nào". Khi hít vào, hành giả nên tưởng: "Những chất nhẹ nhàng trong sạch sáng suốt của vũ trụ đều theo hơi thở thấm vào bủa khắp thân tâm".
Khi đủ mười hơi rồi, hành giả bắt đầu thở đều đều, không dài không ngắn, không mau không chậm, phải thở nhẹ nhàng như hơi rùa thở. Nếu thở mau và dài thì tâm sanh loạn động, còn thở chậm và ngắn, thì tâm sanh hôn trầm, hoặc bị uất kiết, có khi lại sanh ra giải đãi, rồi tâm dong ruổi duyên theo ngoại cảnh. Nên phải thở cho nhẹ nhàng và đều đặn, không mau không chậm, thì trong người mới được thư thới khỏe khoắn.
Từ đây mới bắt đầu đếm hơi thở.
Phương pháp đếm hơi thở có bốn cách như sau:


1. Ðếm hơi lẻ. Nghĩa là thở hơi ra đếm một, thở hơi vô đếm hai, thở hơi ra đếm ba, thở hơi vô đếm bốn, đếm cho đến mười, không thêm không bớt, rồi bắt đầu đếm từ một cho đến mười lại. Cứ đếm đi đếm lại từ một đến mười, trong khoảng nửa giờ, một giờ hay hai giờ tùy ý.
2. Ðếm hơi chẵn. Nghĩa là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai, cứ tuần tự như thế cho đến mười lại, mãi cho đến khi đi ngủ.
Phương pháp đếm hơi chẵn này rất thông dụng, xưa nay người ta vẫn thường dùng, và đếm hơi thở ra dễ hơn, khỏi bịnh tồn khí (chứa hơi lại trong phổi).
3. Ðếm thuận: Nghĩa là đếm theo hai cách trên, cách nào cũng được, nhưng tuần tự từ một đến mười.
4. Ðếm nghịch: Nghĩa là cũng dùng hai cách đếm trên, nhưng đếm ngược từ mười đến một.
Bốn phương pháp này, tùy ý hành giả muốn dùng một phương pháp hay cả bốn phương pháp thay đổi cho nhau cũng được. Miễn sao thuận tiện cho mình và khỏi lộn, là thành công; nghĩa là đối trị được tâm tán loạn.
Những Ðiều Lầm Lộn Thường Xảy Ra Trong Khi Ðếm Hơi Thở
Những điều lầm lộn mà hành giả thường mắc phải trong khi mới bắt đầu tu phép Sổ tức là:
1. Tăng: Nghĩa là thở ít mà đếm nhiều, đếm nhảy vọt, như ba liền đếm đến năm, hoặc mới năm liền nhảy lên đếm tám v.v…
2. Giảm: Nghĩa là thở nhiều mà đếm ít, đếm thụt lùi, như đến bốn rồi lại đếm ba, hay bảy rồi lại đếm sáu v.v…
3. Vô ký: Nghĩa là không nhớ rõ mình đã đếm đến số mấy rồi.
Mỗi khi lầm lộn như thế, phải bắt đầu đếm lại. Phải tập cho đến khi nào không còn mắc phải những lầm lộn nói trên, thì tâm trí mới được yên tịnh.
PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ:
Định Niệm Hơi Thở là một pháp môn tuyệt vời. Trước khi muốn tu tập pháp môn này quý vị nên chọn một nơi thanh vắng và yên tĩnh, ít có người qua lại. Khi chọn được xong chỗ ngồi, quý vị ngồi xuống, ngồi kiết già hoặc bán già đều được cả, phải giữ gìn lưng thẳng, quay mặt vào vách, hay gốc cây, hai mắt nhìn phớt xuống chóp mũi.
Khi tư thế ngồi yên ổn xong thì quý vị bắt đầu hít vào một hơi thở chậm, dài. Khi nào hít vào hết sức thì quý vị lại thở ra cũng chậm, nhẹ và dài. Khi thở ra hết thì quý vị trở lại hơi thở bình thường, kèm theo pháp hướng tâm: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”.
Khi thở đúng 5 hơi thở thì quý vị lại nhắc tâm: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Rồi lại tiếp tục thở bình thường như trên. Khi thấy hơi thở ra vào đều đều, tâm gom tại nhân trung thì quý vị cứ tiếp tục tu tập vừa tác ý vừa hít thở cho đến tu tập như vậy được 30’ mà không có một niệm nào xen vào, thì đó là kết quả thứ nhất của sự nhiếp tâm trong hơi thở.
Khi tu tập được 30’ không có một niệm nào xen vào trong hơi thở thì không cần phải tác ý câu: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra” nữa, mà phải nhắc bằng những câu khác để xả tâm mình trong khi đang thở.
Thí dụ nhắc tâm bằng câu: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”, rồi quý vị thở 5 hơi thở. Sau đó lại nhắc tâm: “Quán ly sân tôi biết tôi hít vô, quán ly sân tôi biết tôi thở ra”, rồi thở tiếp 5 hơi, và nhắc tâm: “Quán ly si tôi biết tôi hít vô, quán ly si tôi biết tôi thở ra”,rồi quý vị cứ tiếp tục 5 hoặc 10 hơi thì một lần hướng tâm như sau:
“Quán đoạn dứt tâm tham tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm tham tôi biết tôi thở ra”.
“Quán đoạn dứt tâm sân tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm sân tôi biết tôi thở ra”.
“Quán đoạn dứt tâm si tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm si tôi biết tôi thở ra”.
Như thế, cứ cách 5 hơi thở thì một lần hướng tâm (Đừng để cho một niệm khác xen vào trong khi ta thở và tác ý).
Khi tu tập Định Niệm Hơi Thở như vậy độ 30 phút thì quý vị xả nghỉ. Nếu quý vị có sức ngồi tu tập bền lâu thì cũng nên tu tập 30 phút rồi xả nghỉ, không nên tăng hơn suốt trong ngày đêm Thọ Bát Quan Trai Giới. Quý vị cứ tu tập từng hành động, trong công việc làm, hay lúc đi kinh hành, luôn luôn tu tập Định Niệm Hơi Thở kèm theo pháp hướng để xả tâm thì tâm hồn quý vị sẽ được thanh thản.
Đây là bài tham khảo thêm về Giới Niệm Hơi Thở, hơi thở ra, hơi thở vô để quý Phật tử nghiên cứu. Pháp môn Giới Niệm Hơi Thở Ra, Hơi Thở Vô là một pháp môn mang lại lợi ích rất lớn cho công cuộc chiến đấu với mặt trận sinh tử luân hồi của nhân quả.