Articles by "Giáo lý"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Nhưng vì Tu khó quá nên được coi là Xuất trần thượng sĩ , Tu càng khó thì càng hấp dẫn cho nên mình đi Tu là tìm việc khó mà làm . Chuyện thế gian làm không được thì mình càng phải làm , còn việc thế gian làm được thì mình không có nên tranh giành ....

Bài giảng của HT: Thích Thái Hòa

Nguồn: facebook.com/ngoigialam


VLCĐ: Trong Kinh điển, Đức Phật đã dạy cho chúng ta biết các quan hệ trong gia đình như chồng vợ, cha mẹ, con cái, anh em trong đời này, đều là quan hệ Duyên-Nợ với nhau. Nếu không có cái quan hệ Duyên-Nợ này thì sao? Thì sẽ không gặp nhau.

 Do đó, chúng ta phải biết sự sống chung giữa người với người, giữa mình với người, đều phải nói đến duyên phận. Trong duyên phận này, có thiện duyên và ác duyên

Thế nào là thiện duyên? Mối duyên phận này đem đến an vui, hạnh phúc cho những người trong cuộc.

Thế nào là ác duyên? Tức là mối duyên phận này chỉ toàn đem lại khổ đau và buồn phiền cho những người trong cuộc.

Nói đến Nợ tức là có trả nợ, có đòi nợ. Trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy được hiện tượng đòi nợ và trả nợ trong quan hệ vợ chồng rất rõ ràng. Ban đầu khi đến với nhau chẳng phải đều rất tốt đẹp đó sao, nhưng chỉ trong thời gian ngắn thì liền trở mặt, liền chia tay. Nguyên nhân do đâu? Đã hết nợ, khi một trong hai người đã đòi nợ xong xuôi, và người kia cũng trả xong, thì liền chia tay, liền ra đi.

Vậy thế nào là đến với nhau để đòi nợ? Người này trong gia đình thường rất gia trưởng, không thích làm, nhưng rất biết hưởng thụ, không thích người chồng hay vợ làm phật ý mình, nhưng bản thân thì không mấy quan tâm đến cảm nhận của người chồng hay vợ của mình. Nếu là nợ ít, thì người này chỉ trong thời gian ngắn thì đòi xong nợ, nợ đòi xong thì liền chia tay, liền ra đi. Nếu nợ nhiều, thì có khi đến hết cuộc đời mới chịu ra đi.

Vậy thế nào là đến với nhau để trả nợ? Người này rất mực yêu thương và lo lắng, làm tất cả mọi việc chỉ để cung phụng và phục vụ cho người chồng hay vợ của mình. Mặc dù là người làm ra tiền, nhưng người này chẳng dám xài dù chỉ một đồng cho mình, tất cả đều dành cho người chồng hay vợ của mình.

Duyên-Nợ của vợ chồng là từ đâu đến? Đó là từ những nhân duyên vay trả từ đời quá khứ mà đến. Đời trước ta nợ của người, nhưng lại có duyên tình ái với người, nên đời này người đến làm chồng, làm vợ của ta để viết tiếp đoạn tình ái còn dang dở của đời quá khứ, và cũng để đòi cho xong số nợ mà ta đã nợ của người. Thế mới biết, giữa người với người không có chuyện thiếu nợ mà không trả, đời này không trả thì đời sau vẫn phải trả, đời sau không trả thì đời sau nữa vẫn phải trả.

Trong truyện Hồng Lâu Mộng nói được rất hay:

_ " Nợ người nước mắt thì phải trả lại bằng nước mắt".

Từ đây mà biết được, chính chúng ta tu phước, chính chúng ta thọ dụng, chẳng ai có thể can thiệt vài tiến trình Nhân-Quả của chúng ta được cả.

Giờ đây đã hiểu được chân tướng sự thật Duyên-Nợ giữa vợ chồng rồi, thì trong cuộc sống gia đình hằng ngày, chỗ nợ mình thiếu đó cứ hoan hoan hỷ hỷ mà trả, đừng nên đi so đo, chấp được, chấp mất nữa. Vì sao? Vì biết được nếu bây giờ mình không trả, thì sau này vẫn phải trả, đời này không trả thì đời sau vẫn tiếp tục trả, vậy thì hà tất gì phải kéo dài thời gian làm khổ cho chính mình chứ. Cứ vui vẻ mà trả, nợ trả xong rồi thì phước, thì an vui liền đến.

Vậy còn người thiếu ta thì sao? Số nợ này ta không cần nữa, bỏ qua hết cho người. Vậy thì liền được tự tại, được an vui. Có người nói rằng:

_ " Nợ là do người thiếu của ta, nay ta bỏ qua hết cho người, vậy thì ta có thiệt thòi quá không?"

Xin thưa rằng, chẳng những không có thiệt thòi, mà còn được phước. Nếu ta không bỏ qua, quyết định đời này cùng với người nợ nần phải đòi cho bằng được. thì đến kiếp kế tiếp ta lại là người phải đi trả nợ.

Ta và người nợ nần đền trả hết kiếp này đến kiếp khác không cùng không tận. Đồng nghĩa với việc ta mãi đi trong luân hồi sanh tử chỉ để hết vay rồi trả, hết trả rồi vay cùng với người. Vậy thì cái đòi được trước mắt không đủ để bù vào cái ta sẽ mất trong tương lai, đây là thiệt thòi quá lớn, quá lớn.

 Pháp ngữ H.T Tịnh Không

 

Dù có là Cha hay Mẹ đi nữa cũng không thể bắt mình đi Xuất Gia được nếu mình không muốn . Còn nếu mình đã muốn rồi thì không ai cản nổi được hết .
Nếu các Thầy các Cô đã muốn Xuất Gia rồi thì cái Nghiệp sanh tử nó tự tháo tung ra khiến cho mình tự bước tới cái chí nguyện Xuất Gia của mình...

Bài giảng của HT: Thích Thái Hòa Nguồn: facebook.com/ngoigialam

VLCĐ: Chúng ta đi tu không là để mong cầu được làm Đại Đức, được làm Thượng tọa, Được làm Trụ trì, Ni trưởng, Ni sư mà chúng ta đi tu là để mong cầu có được đời sống giải thoát, chấm dứt sinh tử, sống một đời sống hữu ích, có lợi cho mình có lời cho người, hiện tại và tương lai. Cho nên chúng ta tu như thế nào để mỗi ngày trong đời đi qua đem lại một ý nghĩa, một giá trị thiết thực. Đi tu không phải để mà có chức danh này chức danh khác ở trong tổ chức Phật giáo hay là ở ngoài xã hội mà để cho những phiền não trong tâm mình mỗi ngày nó lắng xuống, cái hiểu biết sâu sắc đối với bản thân mình qua bốn lãnh vực đối với thân, đối với cảm giác, đối với tâm hành, đối với nội pháp và ngoại pháp nó luôn luôn hiện tiền trong chánh niệm tỉnh giác của chúng ta....

Nguồn: Luật viện Chùa Huệ Nghiêm
Kính mời nghe tiếp:


VLCĐ: Khi đức Phật còn tại thế, Ngài có đặt một câu hỏi cho một vị Sa môn là:”Tuổi thọ của con người dài trong bao lâu?” và vị Sa môn đã trả lời là: “Chỉ dài bằng một hơi thở”. Đức Phật nói: “Đúng vậy. Ông là người hiểu đạo” (trích trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).

Cuộc sống mỗi con người chúng ta chỉ tồn tại trong một hơi thở vậy tại sao chúng ta cứ để tâm mình mãi luẩn quẩn trong “u mê” và “phiền não”?
1. Khi chúng con rơi vào cảnh ngộ trái ngang, nên nhân nhượng cầu toàn hay hăng hái chống trả? Phật dạy: Buông xuống.

2. Những thứ mất đi, có nhất thiết truy đòi không?Phật dạy: Những thứ mất đi, kỳ thực chưa bao giờ thật sự thuộc về con, không cần thương tiếc, càng không cần truy đòi.


3. Lý giải “vĩnh viễn” như thế nào?
Phật dạy: Người người đều cảm thấy vĩnh viễn rất xa, thật ra nó có thể ngắn ngủi đến nỗi con không hề nhìn thấy.

4. Cuộc sống quá mệt mỏi, làm sao nhẹ nhõm?
Phật dạy: Cuộc sống mệt mỏi, một nửa là do sinh tồn, một nửa là do dục vọng và tị nạnh.

5. Chúng con nên làm thế nào nắm giữ hôm qua và hôm nay?
Phật dạy: Chớ để quá nhiều hôm qua chiếm cứ hôm nay của con.

6. Đối với bản thân, đối với người khác như thế nào?
Phật dạy: Đối với bản thân tốt một chút, vì cuộc đời không dài; đối với người bên cạnh tốt một chút, bởi kiếp sau chưa chắc có thể gặp gỡ.

7. Người giải thích “lễ phép” ra sao?
Phật dạy: Xin lỗi là chân thành, không sao là phong độ. Nếu con trao ra chân thành, nhưng không có được phong độ, thế thì chỉ có thể chứng tỏ sự vô tri và thô tục của đối phương.

8. Chúng con làm thế nào xác định mục tiêu của mình?
Phật dạy: Nếu con biết đi đâu, cả thế giới sẽ nhường đường cho con.

9. Làm sao cân bằng vui vẻ và bi thương?
Phật dạy: Mỗi người chỉ có một trái tim, nhưng có hai tâm nhĩ thất. Một tâm chứa đựng vui vẻ, một tâm chứa đựng bi thương, đừng cười quá to tiếng, nếu không sẽ đánh thức nỗi bi thương ở bên cạnh.

Nếu như con người biết buông xả trong đời sống hiện tại. Buông đi những lợi danh, buông đi những hận thù chấp nhặt. Đồng thời xả đi những mưu cầu tính toán cho bản thân, xả đi những “tham – sân – si” trong cuộc sống thường nhật thì sẽ tự tìm thấy cho mình niềm an vui và thanh thản trong tâm hồn.
Bởi khi biết buông xả thì tâm ta mới trong sáng để vượt qua những cám dỗ của tham, sân, si, của mạn nghi ác kiến để rồi nhìn thấy niềm vui xung quanh ta.

VLCĐ: Lúc niệm Phật thì từ một câu đến mười câu sao cho niệm được phân minh, ghi nhớ phân minh. Niệm mười câu xong lại từ một câu niệm đến mười câu, chẳng được niệm đến câu thứ mười hai hay mười ba. Niệm đến đâu, nhớ đến đấy; chẳng được dùng chuỗi để nhớ mà phải dụng tâm nhớ. Nếu thấy niệm suốt mười câu là khó thì chia thành hai hơi: từ câu một đến câu năm và từ câu thứ sáu đến câu thứ mười. Nếu đã chí thành mà chưa thuần nhất thì nên thường lắng tai nghe, chẳng luận là niệm ra tiếng hay niệm thầm đều phải là niệm phát xuất từ tâm, tiếng phát xuất từ miệng, âm nhập vào tai; tâm và miệng niệm sao cho rành rẽ rõ ràng, tai nghe sao cho rành rẽ, rõ ràng. Nhiếp tâm như thế thì vọng niệm tự dứt.

PHẦN 6: Niệm Phật một tiếng, tay lần một hột. Chỉ nên niệm bốn chữ, đừng lộn sáu chữ, vì bốn chữ rất dễ thành khối . Trong bốn chữ A Di Ðà Phật, hoặc lần chuổi tại chữ A, hoặc lần tại chữ Ðà, hoạch định cho có phép tắc, không được lầm lẫn, đây là pháp mượn chuổi để nhiếp tâm vậy.


PHẦN 7: Nếu lúc thần trí hôn trầm , hay khi vọng tưởng đua khởi, hãy nên trấn tỉnh tinh thần, to tiếng niệm Phật, niệm cho được vài ba trăm tiếng tự nhiên đổi thành cảnh giới an tịnh. Bởi vì nhĩ căn thính lắm, nên ngoại duyên dễ vào, tiếng làm cho tâm động, tạp tướng nổi dậy, nên phải to tướng niệm Phật để giữ gìn nhĩ căn, hầu mở tỏ tâm linh. Bấy giờ tâm chỉ nghe tiếng của chính mình, mỗi tiếng liên tục, đầy đủ, tất cả những gì phải quấy, nên, hư tự nhiên phóng xả.


VLCĐ: Y theo kinh luận nhận xét thì pháp tu Tịnh độ như thả diều theo gió, chèo thuyền xuôi theo dòng nước. Niệm Phật nhờ vào đại nguyện tiếp độ của Phật A Di Đà và mười phương chư Phật hộ niệm được vãng sinh về thế giới Cực lạc, từ đó nương nhờ vào hoàn cảnh tốt, không bị đọa lạc, tu tập cho đến khi nào chứng được quả vị giác ngộ. Cho nên tu tập mà không xa rời hiện thực cuộc đời này. Niệm Phật chính là chánh hạnh, tu tập các việc lành vun bồi phước đức lợi mình lợi người đó trợ hạnh. Trợ hạnh và chánh hạnh là hành trang sanh Tịnh độ. Ý nghĩa: “Không thể lấy chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên sanh về Cực lạc” trong kinh A Di Đà, đó là điều kiện cần thiết hành giả tu tất cả việc lành trong đời, hồi hướng vãng sanh Cực lạc. Chính ngay trong hoàn cảnh sống con người và nhân loại trong thế giới vô thường này là đạo trường, là ruộng phước đức cho người tu học phụng sự để thành tựu lý tưởng giải thoát.

Kính mời Quý vị nghe những bài giảng của Hòa Thượng Thích Giác Khang về Tịnh Độ để tự mình khai thị chân tâm mà cầu phước lành cho hiện tại cùng các kiếp lai sinh. Do vì phần âm thanh của một số bài giảng lượng echo (tiếng vang) quá nhiều nên khó nghe. Vì vậy chúng tôi chưa đăng để chờ sửa chữa.
----------------------------

PHẦN 1: Pháp thoại: Pháp Môn Tịnh Độ (phần 01) do Hòa thượng Giác Khang thuyết giảng tại Chùa Phước Thành tỉnh Trà Vinh - Khóa tu Phật thất lần thứ 24 từ ngày 09-16/08/2009 (nhằm ngày 19-26/06/Kỷ Sửu).

PHẦN 2: Pháp thoại: Pháp Môn Tịnh Độ (phần 02) do Hòa thượng Giác Khang thuyết giảng tại Chùa Phước Thành tỉnh Trà Vinh - khóa tu Phật thất lần thứ 25 từ ngày 10-17/10/2009 (nhằm ngày 22-29/08/Kỷ Sửu).

PHẦN 3: Ðã đem tâm này niệm Phật, phàm tất cả việc tạp thiện, tạp ác đều không nên nhớ, tức hàng ngày chỉ nên làm mọi việc với ý niệm vạn bất đắc dĩ, xong rồi thì xả, đừng để day dích, sẽ chướng ngại tâm niệm của chúng ta. Vả lại, sở dĩ tâm niệm của chúng ta cứ còn dây dưa mãi với những tạp thiện, tạp ác là vì ý địa chưa thuần; nếu ta niệm Phật đến lúc tâm địa sáng tỏ, thời ý địa tự nhiên chuyên ròng nơi quán sát, không duyên tạp sự. Phải biết, niệm Phật có thể chuyển Phàm thành Thánh, là phương tiện giải thoát thứ nhứt của thế gian và xuất thế gian vậy.

PHẦN 4: Ðã dùng miệng này niệm Phật, phàm tất cả những việc SÁT, ÐẠO, DÂM, VỌNG không nên buông lời nói càng, nói quấy. Một khi nói lỡ, nên tự nghĩ rằng: người niệm Phật không nên nói như thế, rồi cố gắng niệm lớn ít tiếng danh hiệu Phật để trấn áp tâm mình và gột tẩy ngay những lời bất thiện ấy.

PHẦN 5: Ðã đem thân này niệm Phật, thời trong mọi lúc cũng như trong mọi cử chỉ: đi, đứng, ngồi, nằm, thân cần phải đoan chánh thì tâm mới được thanh tịnh. Người niệm Phật nên tự nghiệm điều này, thật không bao giờ dối.


VLCĐ: Sự thành đạt và giàu nghèo không nằm ở việc chúng ta dốc hết sức lực vào công việc nào đó, mà chính là cách thức triển khai để tối ưu hóa nhân lực và tài lực của mình. Trong cuộc sống chúng ta có thể gặp nhiều khó khăn, hãy nghe qua lời dạy của Đức Phật để làm hành trang trong cuộc sống.

Một người nghèo luôn than thở về số phận hẩm hiu của mình, anh ta thường than thân trách phận… và cuối cùng đền hỏi Đức Phật.
Người này đã thỉnh cầu Phật tới giúp để giải đáp nỗi oan khuất của mình. Trước mặt Phật, người nghèo khóc lóc kể về những cơ cực hàng ngày, làm việc mệt tưởng chết nhưng vẫn chỉ đủ ăn từng bữa mà không có của để dành. Sau một hồi kể lể, người nghèo mới bình luận: “Con thấy đời thật bất công, tại sao lại có những kẻ giàu sang ung dung hưởng thụ còn người nghèo như chúng con đây làm việc cật lực quanh năm suốt tháng vẫn không thể được như họ?”.

Phật mỉm cười và hỏi: “Vậy theo con như thế nào mới là công bằng?”. Người nghèo nhanh chóng đáp: “Dạ, con muốn Ngài để người nghèo và người giàu cùng có xuất phát điểm như nhau để xem họ sống ra sao. Nếu sau một thời gian người giàu vẫn giàu thì con sẽ không còn gì để phàn nàn nữa ạ”.
Phật gật đầu rồi nói: “Được rồi!” và Phật biến thành một người cùng xuất phát điểm như người nghèo.

Mỗi người tới một ngọn núi để tìm kế sinh nhai. Núi có mỏ than nên hàng ngày hai người đó có thể khai thác than đem ra chợ bán đổi lấy tiền. Sau một tháng sẽ xem kết quả ra sao. Hai người cùng nhau đào than. Người nghèo rất chăm chỉ làm việc và chẳng mấy chốc đào được đầy một xe than, chở ra chợ bán lấy tiền. Anh lấy số tiền đó mua hết đồ ăn ngon mang về cho vợ và con cùng hưởng. Người còn lại không làm tích cực được như vậy, đào một lát đã thấy mệt và toát hết mồ hôi. Đến chiều muộn mới đào xong được gần đầy xe than, cũng đem ra chợ bán lấy tiền. Tuy nhiên anh chỉ mua một ít bánh mỳ thô, số còn lại để dành.

Sang ngày hôm sau, người nghèo lại cật lực đào xới than, còn người kia ra chợ. Một lát sau anh trở về với hai người đàn ông rất khỏe mạnh và không có việc gì làm để kiếm tiền. Hai người kia tới mỏ than, không ai bảo ai cật lực đào bới, người đàn ông chỉ đứng và chỉ đạo họ làm việc. Chỉ trong buổi sáng, người đàn ông đã có hai xe than đầy. Anh lại mang ra chợ bán đổi lấy tiền và thuê thêm nhân công. Cứ thế số than anh khai thác ngày một nhiều, trừ đi tiền trả cho người làm thuê cũng còn kha khá
.
Một tháng trôi đi nhanh chóng và người nghèo vẫn vậy, hàng ngày mua được đồ ăn ngon, rượu ngọt nhưng không dành dụm được gì. Ngược lại người kia đã trở nên giàu có, sở hữu trong tay một đội quân khỏe mạnh để hàng ngày khai thác rất nhiều than chở ra chợ bán, thu về rất nhiều tiền. Và có lẽ người nghèo không còn phàn nàn gì nữa

Câu chuyện trên cho chúng ta hiểu rõ yếu tố cốt lõi mang đến thành công hay trở nên “giàu có”. Sự thành đạt không nằm ở việc chúng ta dốc hết sức lực vào công việc nào đó, mà chính là cách thức triển khai để tối ưu hóa nhân lực và tài lực của mình. Nếu biết sử dụng tốt nguồn tiền ban đầu cho dù là ít ỏi, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ thành công.
Rất nhiều người nghèo đã từng mơ ước, thậm chí có cơ hội và hành động nhưng họ không kiên trì đến cùng.

Trong kinh lời Giáo Huấn, Phật dạy: "Nầy chư Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, thì thường xuyên quán chiếu hai chữ": Tri túc. Hể biết đủ thì sống ở hoàn cảnh cảnh nào cũng an vui, tự tại. Còn người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Trong thế gian người giàu có nhất là người biết đủ. Người không biết đủ thường bị năm thứ dục lạc lôi kéo, dẫn dắt, khiến người biết đủ thương hại và khóc thầm.

 

Một nhà đầu tư nói bí quyết thành công của mình là: “Lúc không có tiền, cho dù khó khăn cũng nên tiết kiệm và đầu tư. Áp lực sẽ khiến bạn tìm được phương pháp kiếm tiền mới, giúp bạn trả hết nợ. Đó là một thói quen tốt.”
Tính cách hình thành thói quen, thói quen quyết định thành công.
Người càng sâu sắc: Càng trầm tĩnh đơn giản.
Người càng nông cạn lạnh nhạt: Càng táo bạo bất an.
Kẻ mạnh: Không phải là không có nước mắt mà là kìm nén nước mắt không rơi
Kẻ yếu: Không phải ở vẻ bề ngoài mà là ở tinh thần suy sụp.
Nếu như mọi việc đều dễ dàng thì giá trị của bạn ở đâu

Có một con thiên lý mã trẻ tuổi, đang đợi Bá Nhạc đến phát hiện ra nó.
Thương gia đến, nói: “Bạn sẵn lòng đi theo tôi không?”
Ngựa lắc đầu nói: :”Tôi là thiên lý mã, sao có thể đi theo thương gia vận chuyển hàng hóa được?”
Binh lính đến, nói: “Bạn có muốn đi theo tôi không?”
Ngựa lắc đầu nói: “Tôi là thiên lý mã, một binh sĩ bình thường sao có thể phát huy hết khả năng của tôi?”
Thợ săn đến, nói: “Bạn sẵn sàng đi theo tôi không?”
Ngựa lắc đầu nói: “Tôi là thiên lý mã, sao có thể đi theo hầu thợ săn?”

Ngày qua ngày, năm qua năm, con ngựa vẫn chưa tìm được cơ hội lý tưởng cho mình.
Rồi một ngày, khâm sai đại thần phụng mệnh đến nhân gian tìm kiếm thiên lỹ mã. Thiên lý mã gặp được khâm sai đại thần, nói:

“Tôi chính là thiên lý mã mà ông muốn tìm.”
Khâm sai hỏi: “Bạn có thông thuộc đường đi trên đất nước chúng ta không?”,
Ngựa lắc đầu.

“Bạn đã từng ra trận, có kinh nghiệm tác chiến chưa?”,
Ngựa lắc đầu

Khâm sai lại hỏi: “Tôi có thể dùng bạn vào việc gì?”
Ngựa trả lời: “Tôi có thể một ngày đi được một nghìn dặm, một đêm đi được 800 dặm”

Khâm sai đại thần cho ngựa chạy thử một đoạn đường. Ngựa cố gắng hết sức chạy tiến lên phía trước, nhưng chỉ được vài bước nó đã thở hồng hộc, mồ hôi chảy đầm đìa
“Bạn già rồi, không dùng được!”, nói xong khâm sai liền bỏ đi.

Hôm nay, những nỗ lực dường như bình thường của bạn đều là tích lũy cho tương lai. Mỗi một lần kinh nghiệm, một lần không vui, bị từ chối đều đặt nền móng cho thành công sau này. Không phải chờ đến lúc già, không chạy nổi nữa mới hối hận.

Bằng cấp không có nghĩa là có năng lực, văn bằng không có nghĩa là có văn hóa, quá khứ huy hoàng chỉ là lịch sử để nhớ lại. Vì vậy, ngày hôm qua như thế nào không quan trọng, quan trọng là hôm nay ra sao, ngày mai sẽ thế nào!
Trong cuộc sống chúng ta có thể gặp nhiều khó khăn, gian khổ nhưng chỉ cần cố gắng, kiên trì vượt qua thì nhất định sẽ có một tương lai tốt đẹp!


VLCĐ: Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc, trái lại, người không biết đủ, dù ở cung trời cũng không vừa ý. Đừng vượt quá khả năng của mình. Trên thể giới năm châu hiện nay, muốn có hòa bình để mà hưởng lạc thú hoà bình vĩnh viễn, thì cũng không ngoài cái hạnh "Thiểu dục" và "Tri túc"Người đời phần nhiều thường đua chen, rong ruổi theo vật chất, không biết bao nhiêu cho vừa. Người thiếu thốn tham muốn đã đành, nhưng người dư giả, tiền bạc lấy thước mà đo, thế mà vẫn còn tham muốn.

Đã tham muốn, thì không bao giờ thấy mình đầy đủ cả. Ngạn ngữ có câu: "Bể kia dễ lấp, túi tham khó đầy". Thật đúng như thế, "lòng tham đã không đáy", thì làm sao đầy được?
 
Để đối trị lòng tham, Phật khuyên chúng ta phải "Thiểu Dục và Tri Túc". Trong Khế kinh có nói: "Tri túc chi nhân, tuy ngọa địa thượng du vi an lạc, bất chi túc chi nhân, tuy xứ thiên đường diệt bất xưng ý". Nghĩa là: Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc, trái lại, người không biết đủ, dù ở cung trời cũng không vừa ý.
 
Vậy muốn được sung sướng an vui, chúng ta cần phải Thiểu Dục và Tri Túc. 
 
I. Định Nghĩa 
Thiểu Dục là muốn ít; Tri túc là biết đủ. Muốn ít là đối với cái chưa có, mà vì nhu cầu, mong cho có. Như muốn có cái nhà ở vừa sạch, vừa che kín nắng mưa; cần đi cho mau, muốn có một phương tiện giao thông gì cho tiện lợi, chỉ cốt đỡ mỏi chân, đỡ tốn thì giờ là được, chứ không muốn một chiếc xe hơi lộng lẫy, mấy trăn nghìn, quá sức tài chánh của mình. 
Biết đủ, gặp hoàn cảnh nào cũng đều an phận tùy duyên. Đối với việc ăn, mặc và ở, tự thấy mình có đủ dùng rồi, không tham cầu nhiều hơn nữa, mà phải khổ sở về tinh thần.
 
Người Đời Thường Tham Muốn Những Gì? 

Người đời thường bị năm thứ tham muốn sau đây sai khiến: 
a) Tham muốn tiền của 
b) Tham muốn sắc đẹp 
c) Tham muốn danh vọng 
d)Tham muốn ăn ngon 
đ) Tham muốn ngủ kỹ

Người tham muồn tiền của, thì tiền kho bạc đống, nhà ngang dãy dọc, đất ruộng cò bay thẳng cánh, cũng chưa cho là vừa, mà vẫn còn mong muốn được làm giàu thêm nữa.
 
Người tham muốn sắc đẹp, thì suốt đời rong ruổi đi tìm hoa; thấy ai có nhan sắc là mê mết, tìm cách này cách khác để gần gũi cho kỳ được. Một khi đã thỏa mãn, thì lại ruồng bỏ người đẹp này để chạy theo người đẹp khác; luôn luôn bị vật dục sai khiến, mất hết cả nhân cách.
 
Người tham muốn danh vọng, thì suốt đời rong ruổi theo chức cả, quyền cao, tiếng danh hay tốt. Họ còn cúi hết chỗ này đến chỗ khác, để mong được cái địa vị cao sang. Họ lao tâm, khổ trí, tìm mọi cách để nắm giữ cho được cái hư danh.
 
Người tham muốn ăn ngon, thì suốt đời lân la bên cạnh những cao lương mỹ vị, quanh quẩn bên những tiệc bàn, tìm khoái khẩu trong những rượu ngon, vị lạ. Thế giới của họ thu hẹp lại trong những món ăn và những người bạn rượu.
 
Người tham muốn ngủ nghỉ, thì quá nửa đời mình lẩn quẩn trên chiếc giường; ăn xong lại nghỉ chuyện đi nằm, nằm là ngủ, ngủ xong lại muốn ngủ nữa, mất cả tự chủ của mình. 
 
Tóm lại, khi đã tham muốn những thứ ấy, thì cuộc đời của những kẻ ham muốn kia, chỉ còn thu hẹp lại trong sự ham muốn của mình và làm tôi mọi cho vật dục mỗi ngày mỗi thêm chặt chẽ. Xét cho cùng thì những sự tham muốn trên, ngoài sự tham muốn danh vọng là do kiêu căng ngã mạn, còn các thứ tham vọng khác, đều do ngũ dục là động lực chính cả. Ngũ dục là: Sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục và xúc dục. 
 
Sắc dục là gì? Là nhãn căn đối với sắc trần, sanh tâm tham muốn. Trong thì "chánh báo" là thân phần của nam nhân hay nữ nhân: Mày tằm mắt phượng, môi đỏ má hồng...Ngoài thì "y báo" là vật dụng của thế gian: ngọc, ngà, châu, báu, vật quý đồ xưa, sắc màu lộng lẫy... Những món ấy, đại đa số người vừa trông thấy liền sanh tâm tham ái.
 
Thanh dục là gì? Là tai nghe tiếng hay, tâm sanh say đắm; như tiếng ca, giọng hát, khúc lý câu tình, âm điệu du dương, khêu gợi tâm dục của người, sanh tâm đắm nhim. 
 
Hương dục là gì? Là lỗ mũi khi đối với hương trần sanh tâm tham muốn; như dầu thơm ngào ngạt, phấn sáp nồng nàn v.v...Những món hương trần ấy, khiến cho người ngửi đến thì sanh tâm ưa thích đắm nhim, mơ tưởng vẩn vơ. 
 
Vị dục là gì? Là khi lưỡi đối với mùi vị, sanh tâm tham đắm, như các mùi vị thơm tho, ngọt bùi, chua chát, mặn lạt, mỡ thịt, cá tôm, chả gỏi nem bì, những đồ cao lương mỹ vị...
Vẫn biết nhân loại đối với sự ăn uống phải cần dùng nhiều món để nuôi sống mà làm việc. Thế nên cả nhân loại ăn chẳng công nhận nó là điều cần thiết nhất, nếu ăn uống kém thiếu, thì thân thể phải ốm gầy. Nhưng ta nên xem sự ăn uống như là uống thuốc, để chữa bệnh đói khát mà thôi. Nếu quá tham món cao lương mỹ vị, chỉ biết lo sống để mà ăn, thì con người có cho là cao thượng? Phật nói: "Chúng sanh sở dĩ đi không cách đất, không khỏi cỏ cây, ra vào không rời khỏi không khí, là bởi ăn những món "do đất sanh ra", nên thân thể rất nặng nề". 
 
Xúc dục là gì? Là thân thể khi giao thiệp với xúc trần, sanh tâm tham muốn. Bố vải thô sơ, mặc vào mình biết nhám; lụa là, gấm nhiu suông, vào mình biết trơn láng, gỗ chạm vào mình biết cứng, bông đụng vào mình biết mềm v.v...Những vật gì mềm mại thì sanh tâm ưa thích, những vật gì cứng nhám thì sanh lòng ghét bỏ. 
 
II. Tai Hại Của Lòng Tham Quá Độ 

Những sự tham muốn quá độ, làm cho lòng người xao xuyến, mất hết cả tự chủ và chỉ còn là nô lệ cho những thèm muốn của mình mà thôi. Một khi đã bị lòng tham dục điều khiển, thì con người gây không biết bao nhiêu tội lỗi, dám làm những chuyện hung ác mà chẳng gớm tay. Lại chính vì lòng tham muốn không ngằn mé, mà mình không tự nhận biết, nên đến khi muốn mà không được, thì đổ lỗi cho người, nhân đó sinh ra cạnh tranh, xung đột, làm cho nhân loại chịu lắm điều tàn hại. Lòng tham muốn quá độ, làm cho con người tối mắt trước những sự phải, trái, thúc đẩy người đời vào đường tội lỗi. Chẳng hạn một kẻ không có năng lực, đạo đức mà muốn được giàu có lớn và quyền thế to, thì có thể dùng những mưu mô gian xảo, đen tối, dã man để đạt ý muốn của mình. Hoặc giả, cũng vì muốn được như ý bà vợ yêu quí, mà có lắm ông chồng bị bắt buộc làm những việc trái với lương tâm cho đến tan thân mất mạng. 
 
Tóm lại, ngũ dục làm hại cho loài người không thể kể xiết: Vì ngũ dục mà sanh ra lo buồn, giận dữ; vì ngũ dục mà sanh ra dối trá, gian tham; vì ngũ dục mà sanh ra cạnh tranh, xâu xé, nhân loại đưa nhau vào rừng tên mưu đạn.
 
Trong hiện tại lòng tham muốn quá độ, sự chạy đuổi theo ngũ dục đã làm tổn hại chẳng những cho mình và cho người, mà trong tương lai, chúng lại còn đưa con người vào chốn tam đồ ác đạo, nhất là vào vòng ngạ quỷ, để phải chịu thiếu thốn cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần. 
Đó là kết quả thảm khốc của người quá tham, không biết "Thiểu dục" và "Tri túc". 
 
III. Phương Pháp Đối Trị Lòng Tham Muốn Quá Độ: Thiểu Dục Và Tri Túc 
Túi tham đã không đáy, thì càng tham lại thấy càng thiếu, càng khổ. Phật dạy: "Càng tham muốn, càng khổ sở". Chúng ta đừng lầm tưởng rằng một khi lòng tham muốn được thỏa mãn, là hết tham muốn. Hễ còn củi thì lửa còn cháy. Tham muốn được toại nguyện thì tham muốn lại càng to lên. Tục ngữ thường nói: "Được voi đòi tiên" là thế. Người mà lửa tham vọng mong cầu nung nấu trong lòng, bao giờ cũng thấy mình còn thiếu thốn. Không thấy thiếu món này, lại thấy thiếu món khác, rồi thèm khát mãi, không lúc nào được toại chí. Mà không toại chí là còn đau khổ. 
 
Để đối trị lòng tham vô độ, đạo Phật cũng như đạo Nho đều dạy chúng ta phải "Tri túc" tức biết đủ. Có bao nhiêu ta hưởng bấy nhiêu, tự cho mình không còn thiếu gì nữa, đừng nhìn lên những kẻ giàu có sang trọng hơn mình, thế là "biết đủ".
Trong kinh Di Giáo, Phật dạy: "Này các Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, nên suy nghiệm hai chữ "Tri túc". Hễ biết đủ thì ở cảnh nào cũng yên vui. Người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Người không biết đủ thường bị năm thứ ham muốn kéo dắt, làm người biết đủ thương hại.
Một người trong tay thâu tóm tất cả của cải trong thế gian, với người nghèo mà không tham muốn, hai người đều giàu như nhau. 
Chúng ta hãy chiêm nghiệm những lời dạy đầy ý nghĩa ấy. Làm chủ đời ta, chính là lòng ta. Giàu nghèo sang hèn chỉ là vấn đề phụ thuộc. Nếu ta kiềm chế được dục vọng, tham muốn là ta giàu sang; nếu ta không kiềm chế được dục vọng tham muốn là ta nghèo hèn. 
 
VI. Lợi Ích Của Hạnh Thiểu Dục Và Tri Túc 
Lòng tham muốn làm cho ta khổ bao nhiêu, thì Thiểu dục và Tri túc lại làm cho ta sung sướng bấy nhiêu. Đó là lẽ đương nhiên. Nhờ "ít tham dục" nên con ma dục vọng không làm sao xui khiến được mình; nhờ "biết đủ" nên con quỷ tham lam chẳng có quyền hành sai khiến mình nữa.
 
Một khi con người không còn làm nô lệ cho vật chất đê hèn nữa, thì lòng người bắt đầu tự do giải thoát. Con người lúc ấy mới xứng danh là con người, mới có đủ nhân cách và không hổ thẹn với địa vị làm anh cả muôn loài. Chỉ khi ấy con người mới có thể tự cho là mình có hạnh phúc được; và dù cho thường ngày vẫn ăn cơm hẩm canh rau, quanh năm cứ quần bô, áo vải, cũng vẫn thấy trong lòng thơi thới, an vui, sung sướng. Từ xưa đến nay, không có một vị giáo chủ nào, hiền triết nòa xứng đáng với danh nghĩa ấy mà lại không khinh thường vật chất, mà lại chạy theo danh vọng tiền của, ăn sung, mặc sướng cả.
 
Hơn nữa, nhờ Thiểu dục và Tri túc mà gia đình, xã hội được an vui, hòa bình, không còn ai giành giật của cải, danh vọng, miếng ngon, vật lạ của ai nữa. Lợi ích của Thiểu dục và Tri túc thật không sao kể xiết được.
 
V. Giải Đáp Những Thắc Mắc Về Thiểu Dục Và Tri Túc 
 
Có người hỏi: 
Con người muốn tiến bộ, cần phải nỗ lực phấn đấu, cạnh tranh trong tất cả mọi trường hợp. Đạo Phật lại dạy phải Thiểu dục và Tri túc. Như thế là chủ trương làm cho nhân loại thối hóa chăng?
 
Đáp: Không! Đạo Phật dạy "Thiểu dục" và "Tri túc" cốt yếu ngăn ngừa con đường trụy lạc, chặn đứng lòng tham lam độc ác không bờ bến của chúng sanh, đang sống trong cõi đời vật dục, chứ không phải chủ trương ngăn chặn sự tiến triển của con người trên đường lợi người, lợi vật, ích nước, ích dân. Nhận thấy tai hại lớn lao của bệnh tham lam, nên đức Phật đưa ra phương thuốc rất công hiệu là "muốn ít" và "biết đủ" để điều trị căn bệnh ấy cho tận gốc. Phương thuốc này sẽ làm yếu dần tâm tham lam, nên các mối dục vọng, tội ác dần dần tiêu diệt, chỉ còn lại tấm lòng từ bi rộng rãi bao la mà thôi. Một khi con người hết chạy theo dục vọng, hết đuổi bắt những hạnh phúc vật chất tạm bợ, giả trá cũng không đào bớt thêm đau khổ của người khác, để tìm hạnh phúc cho mình nữa, thì lúc ấy, hạnh phúc chân thật liền đến với họ. 
 
Như thế, nghĩa là hạnh "Thiểu dục" và "Tri túc" bắt đầu hãm bớt tốc lực của lòng dục vọng tham lam, kế đó chặn đứng nó lại, sau hết buộc nó xoay chiều, đổi hướng, tinh tiến mãi trên con đường lành. Vậy thì hạnh "muốn ít" và "biết đủ " chẳng những không đưa con người vào con đường thối hóa, mà lại giúp cho sự tiến hóa của nhân loại.
 
Vả lại, ngày nay nhân loại dang chứng kiến môt sự mất quân bình nguy hiểm giữa sự tiến hóa mau lẹ của vật chất và sự chậm tiến của tinh thần. Sự mất cân bằng ấy có thể đưa nhân loại đến hố diệt vong. Vậy cần phải quân bình sự tiến hóa vật chất và tinh thần. Muốn thế, chẳng có phường pháp nào là tuân theo hạnh "Thiểu dục" và "Tri túc". Con người nếu biết coi thường vật chất một ít, thì mới tiến hóa thêm về tinh thần. 
 
Sỡ dĩ ngày nay tren thế giới, đứng về phương diện vật chất, khoa học, con người có tiến triển rất nhiều, rất nhanh; còn về phương diện tinh thần, đạo đức, con người tiến rất chậm, vì ít ai quan tam lưu ý đến nó, mà chỉ chạy theo vật dục. Hễ vật chất quá tiến, thì tinh thần phải lùi, vật chất càng cao thì lòng tham càng nặng, càng sâu, càng lớn, không biết lúc nào là cùng. Tai họa chiến tranh ngày nay, gieo rắc khắp nơi trên thế giới, cũng do lòng tham không đáy của con người "bất tri túc" vậy. 
 
Vậy Thiểu dục và Tri túc là hai phương thuốc thần diệu cho căn bệnh trầm trọng của thế giới ngày nay, không ai có thể chối cãi được. 
 
Kết Luận: 
Kẻ ngoài đời và người trong đạo, muốn được hạnh phúc chân thật, thì nên tu hạnh “thiểu dục” và “tri túc”. Vì thật sự, những người không quá đòi hỏi về vật chất, thì chẳng hề so sánh với bề trên; do đó, không thấy mình thiếu thốn về vật chất, nên ít khổ. Hơn nữa, họ chỉ so sánh với kẻ dưới, thấy mình khá giả, đầy đủ hơn, nên dễ mãn nguyện. 
Muốn tránh khỏi tai nạn trong gia đình và xã hội, mỗi người trên thế gian này, đều phải giữ phận thủ thường, đừng vượt quá khả năng của mình. Trên thể giới năm châu hiện nay, muốn có hòa bình để mà hưởng lạc thú hoà bình vĩnh viễn, thì cũng không ngoài cái hạnh "Thiểu dục" và "Tri túc" mà được.

Trích từ: PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
               Hòa Thượng Thích Thiện Hoa

VLCĐ Đến thời đại mạt pháp “pháp nhược ma cường", thế lực của Ma vương mỗi ngày một lớn mạnh, trong khi thế lực của chánh đạo thì mỗi ngày một thu nhỏ. Phật giáo xưa nay không nói đến từ “thế lực", mà "thế lực”ở đây ngụ ý chỉ uy đức.

 Hễ khi nào phước báo của chúng sinh lớn thì "pháp cường ma nhược", còn phước báo của chúng sinh nhỏ thì "pháp nhược ma cường" — một sự tương phản cân xứng. 

Trích dịch từ bài giảng của Hòa Thượng Tuyên Hóa trong tạp chí TRÍ TUỆ CHI NGUYÊN

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiGCX1M_HtGyH6A6L0ZpVWYCXRHMgd-PFxlhjyNhhK4mFq1GLtEcKUi0DQ3N_1CtMfEc7mTe6lmiba7bTOnPo1m5tkiTuUzUhoCGeAxWE1g9R58ZxXnGAAL1zpWEQ5VK_9fTxb60XyZ0dE9/s1600/Yeu+quai1.jpgHiện tại, sinh mạng của nhân loại trên toàn thế giới cũng giống như núi trứng gà xếp chồng, nếu trong đó có một trứng bị đập vỡ, thì toàn bộ núi trứng sẽ sụp đổ vỡ tan nát ra. Sinh mạng của con người cũng nguy hiểm đáng sợ như vậy. Chính vì lý do đó, bao trùm trên khắp thế giới này, ở đâu cũng có đầy dẫy những con ma, cháu ma, vua ma, dân ma... Nếu nói chân lý thì chẳng ai nghe, nhưng tà thuyết thì không biết bao nhiêu người sẽ tin. Hoặc như khi có người tuyên giảng về chân lý, đạo đức, tuy có người đến nghe, nhưng vẫn có phần miễn cưỡng và không thật sự lắng nghe lắm. 

Nhưng ngược lại, nếu có đoàn xiếc, ca múa nhạc, hay đi xem phim, khiêu vũ... thì người người đều tranh nhau đến một cách thích thú lạ thường. Từ đó, chúng ta nhận thấy rằng: “Lòng người ngày nay đa số bại hoại, không thuần hậu bằng người xưa”. Đây là một thứ biểu hiện của Ma vương, nó đã dùng thế lực và thần thông để nhiễu loạn thế giới loài người.Yêu quái lớn nhất hiện nay là máy vi tính cũng như mạng lưới Internet. Sau khi vật này được phát minh đến đỉnh cao, con người xem như trở thành "vô dụng" vì không còn vận động gì nữa. Bấy giờ, con người chẳng biết dùng để làm gì nữa, vì việc gì cũng tìm đến nó. 

Dưới hệ thống điện toán của nó, cái “điện” của con người trở nên tê dại không còn cảm giác. Nếu cứ kéo dài như vậy đến một ngày nào đó, con người sẽ trở nên yếu ớt bại hoại, không phấn chấn, sống say chết mộng, việc gì cũng không sáng suốt. Đây không phải quái vật thì là gì? Đây chính là một loại pháp thuật do quỷ trí của ma đã tưởng tượng ra.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg9ofNnKxIhlk7ehmfrAkzvDAWzZMKVZEblhvMdRYKXi1vCyeRtM4JMf_lJCp0whQKOTJl_w0pgw091S5o8IthiCGODbr1Q-mXRiWtB_f2fXgdH2JCCoNnX5-w-Fj386V94iLFBH_afAl9C/s1600/Yeu+quai3.jpgLoại yêu quái thứ hai đang xuất hiện ở đời chính là phim ảnh. Sản phẩm này khiến con người mê hoặc đến nổi đen trắng bất phân, thị phi chẳng rõ, sự lý bất minh. Qua phim ảnh, những thiếu niên đã bị đầu độc một cách điên đảo mê hoặc. Từ những đầu óc trong trắng, chúng đã biết thế nào là giết người, phóng hỏa, trộm cắp, hiếp dâm, uống thuốc độc... 

Những thứ này đều bị ảnh hưởng từ phim ảnh vậy. Do đó, điện toán và phim ảnh là hai loại quái vật khổng lồ. Tuy nhiên, hầu như mọi người đều không nhận thức rõ rằng nó là quái vật, mà ngược lại còn cho nó là bảo bối, đã bỏ ra không biết bao nhiêu là những khoản tiền lớn để mua sắm và đầu tư chúng.

Lại còn có một loại quái vật nữa là tên lửa, vệ tinh. Những thứ này có thể bắn lên trời, rồi thả xuống những thứ vũ khí giết người, như là đạn nguyên tử, đạn khinh khí, tia tử quang... Những cái danh từ như "vũ khí hạt nhân", "ánh sáng chết", "vũ khí hủy diệt"… này, chỉ mới nghe là đã thấy rợn người. Một khi địa cầu đã bị bao trùm bởi ánh sáng chết, thì sớm muộn gì con người trên thế giới này cũng phải chịu sự tác động của ánh sáng chết cả. 

Đây đều là vũ khí hơi độc do Ma vương phát minh ra, với mục đích khiến nhân loại sớm tuyệt diệt. Mặt khác, nó còn dùng các phương pháp để tăng thêm sự hung tợn cho quái vật, như là phóng ra các loại khí độc, làm ô nhiễm các loại động thực vật, khiến con người khi trúng phải những thứ mê hồn này, thì đông tây nam bắc, bốn phương tám hướng không thể phân biệt sáng suốt nữa. Đây đều là lực lượng phá hoại của yêu ma.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg4nOcGmkBTEvTKG-IKW3jbb7A6HhUeLMT_nrFWGcZI6LInRs68XIQvYYNSWU2L5mK2U2iZC9B35ZAlrc9TdDGZdza7ock4yNEeq2kc3_R3xBNichabe2iE6Ix38jEOIu5Jq-PNAkQb980w/s1600/Yeu+quai5.jpgBên cạnh đó, có một loại ma đến từ những hành tinh bên ngoài vì muốn huỷ diệt thế giới này. Vì vậy, nó thường xuyên tập trung vào các thủ đoạn để tiêu diệt loài người. Bọn chúng phun ra một loại khí độc; nếu phun lên ngũ cốc, con người ăn vào liền trúng độc; nếu phun lên các loại gia súc, con người ăn trúng thịt đó cũng trúng độc; phun lên các loại cá, ba ba và thủy hải sản nói chung, con người ăn vào cũng bị trúng độc, sinh ung thư mà chết. 

Nó lại còn xuất hiện trên đồ dùng hằng ngày của con người, ướp tẩm lên đó những thứ thuốc độc ngầm. Nói đơn cử như giấy vệ sinh, tại nơi sản xuất giấy, nó rưới lên một thứ nước hoa, có thể hại con người mang các chứng bệnh nặng, như sinh ung thư đường ruột và trăm thứ bệnh hiểm cùng phát. Trước đây, người ta không dùng giấy vệ sinh có nước hoa, thì cái loại quái bệnh này đâu có nhiều như thế !

Hiện tại, có một chất độc hết sức nghiêm trọng đó chính là "tiền" mà con người không thể nào bỏ đi được. Ma vương đã rưới lên tiền giấy một loại độc khí, mà người ta hễ sờ đến là là mắc ngay chứng bệnh tham. Cái gì cũng muốn cho thật nhiều; bất kể đó là cái ăn, cái mặc, hay sự đi đứng,… nhu cầu tiền bạc đòi hỏi càng lúc càng cao. Nói chung là người ta muốn dùng hết mọi phương pháp để kiếm tiền, đến nỗi đã phát bệnh bên trong não bộ - một cái bệnh ung thư tham tiền. Loại độc này quả thật không có thuốc chữa.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiL70Q4tp-BPcK2YpLSP0fEBU9isns4Eox543uuDgGR5kvm9Q8B64c_O6NHIcS085WMi2dWIiGhX56WKTLgEP0XNqv5RufvZSjOo5rWLpqtvKrM3cySuQbflR8QZpktlyo_4oTf59Kobys4/s1600/Yeu+quai7.jpgNếu con người biết hạn chế dục vọng, không tham lam, không tranh đoạt, không mong cầu, không tự tư tự lợi, không dối trá, không ích kỷ… thì họ sẽ không trúng phải chất độc của tiền bạc. Lại nữa, nếu không ăn thịt, thì chất độc của các loại thịt không thể xâm nhập cơ thể. Vì chỉ có ăn chay với các thứ rau, cải... là những thực vật tự nhiên, trong bản thân nó đã sẵn có những chất có thể giải độc. Do đó, có thể nói, ăn rau cải thật sự là một bảo chứng tốt nhất cho sự kiện khang trường thọ.

Sau khi thảo luận vấn đề này, các vị hãy tự mình thử nghĩ lại xem mình có mấy thứ tâm bệnh này hay không? Nếu có, hãy mau chóng sửa đổi, không nên trở lại tham lam, tranh cầu, tự tư tự lợi và dối trá. Nếu các vị trừ bỏ các loại tâm bệnh này, các vị sẽ không bị trúng độc. Và một điều rất khẩn yếu nữa là hãy quét sạch những rác rưỡi của chính mình, như căm hận, thù oán, phiền muộn, tức giận, buồn chán... Ai còn một tí những thứ này, tức là chưa thu dọn cho sạch sẽ rác rưởi. Tự tánh của các vị nếu đã sạch sẽ, an tịnh, thì không còn căm hận người, không thù oán người, không phiền muộn người, không tức giận người, không buồn chán người.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiNDaBAy1nvr9wIv9H3w0kNC-urLGVycWjsum0lAQH_sGh8tD5MDbZsu8WQnqQwylfkUvd6hDVOgwufpEVC2p5e9EU-e6xTC4SHVUz-KEjEGyIlB58BAO6dscDyUL6l2ZGLJqrCue4FMuB-/s1600/Yeu+quai9.jpgĐược như vậy, trong thời đại mạt pháp này, có thể nhờ cái ánh sáng của các vị mà thế giới này được chống đỡ nhiều phần. Thế giới này sớm muộn gì cũng sẽ bị hủy hoại, nhưng nếu có thêm những con người chân chánh biết từng ngày sửa đổi chính mình, thì thế giới sẽ có thêm một phần chánh khí, giảm bớt một phần tà khí; tăng một phần đạo đức, giảm một phần yêu ma. Các vị đừng nghĩ là tôi nói chơi rồi để lời nói của tôi như gió thoảng bên tai. Đây là một vấn đề hết sức trọng yếu, nó có quan hệ rất mật thiết với thực tiễn đời sống hiện nay.



VLCĐ: Quán Sổ tức là đếm hơi thở. Quán là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích hay suy nghiệm đến một vấn đề. Sổ tức quán là tập trung tâm trí để theo dõi hơi thở ra vào của mình, mà mục đích là để đình chỉ tâm tán loạn còn được coi là phương pháp để Định Niệm Hơi Thở.

Trong sách PHẬT HỌC PHỔ THÔNG của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa Ấn Hành 1997 đã phân tích ý nghĩa và hướng dẫn cách thực hành phép Quán Sổ tức. Đây là phép quán đứng đàu trong năm phép quán, trước tiên, phải biết quán là gì, quán như thế nào, và phải có một tâm trí định tình không tán loạn. Muốn được thế, trước tiên phải tập quán Sổ tức. Khi quán Sổ tức đã thuần phục rồi, thì các thứ quán sau mới dễ có kết quả, nghĩa là mới có thể trừ diệt dần các tâm bệnh: tham, sân, si mạn.


Phật dạy: "Tâm có định mới phát sinh trí huệ, có trí huệ mới phá trự được vô minh để minh tâm kiến tánh". Sở dĩ, các vị Thánh hiền được biết nhiều quá khứ vị lai và có nhiều điều thần diệu, đều do tâm đã định mà phát minh trí huệ sáng suốt, nên mới được như thế. Nên kinh chép: "Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biến", nghĩa là ngăn vọng tâm lại được một chỗ, thì không việc gì chẳng thành tựu. Hành giả muốn cho tâm mình hết tán loạn, được yên định, thì phải tu phép quán Sổ tức, một phép quán rất dễ thật hành và rất kiến hiệu, ai cũng có thể làm được.



Tóm tắt phần thực hành:

Trước khi quán Sổ tức cần phải theo đúng những điều sau đây: 


1. Thức ăn: Phải ăn những thức ăn hợp với cơ thể của mình. Nếu ăn đồ nóng nẩy quá, thì thân thể sẽ bị bức rức, tâm sanh loạn động. Trái lại, nếu ăn những vật sanh lãnh, không tiêu hóa được, thì thân thể sẽ nặng nề, lừ đừ dễ sanh buồn ngủ.


2. Ðồ mặc: Phải ăn mặc cho hợp thời tiết. Khi trời nực, mặc đồ mỏng, khi trời lạnh, mặc đồ ấm. Nếu trái lại thân thể mất sự điều hòa, quán lâu có hiệu quả.


3. Chỗ ở: Phải ở chỗ thanh vắng, thì sự tu quán mới mau được thành công. Nếu ở chỗ ồn ào, đối với người mới tu, không khỏi bị loạn động.


4. Thời giờ tu: Nên lựa những giờ thanh vắng, như 10 giờ đêm, hay 4 giờ khuya. Nếu ở thành thị thì lựa giờ nào gia đình ngủ hết, chung quanh bớt tiếng động.


5. Tắm rửa: Thân thể phải thường tắm rửa sạch sẽ, để khỏi ngứa ngáy bứt rứt trong người.


6. Cách thức ngồi: Phải ngồi kiết già (hai chân tréo xếp lại gọn, thúc vào bắp vế cho sát), hoặc ngồi bán già (chân mặt tréo lên chân trái hay chân trái tréo lên chân mặt, thúc sát vào vế cho gọn gàng). Cách ngồi này đầu tiên chưa quen, không sao khỏi bị tê chân (chỉ tê chân khi đang ngồi thôi); qua thời gian hết tê rồi thì đau mỏi cả hai chân. Khi hết đau mỏi, về sau ngồi bao lâu cũng được.


7. Lưng: Lưng phải ngồi thẳng như vách tường, để cho các khớp xương sống ăn chịu đều nhau, như thế ngồi mới lâu được. Hành giả nên xem tấm vách tường kia, nhờ nó đứng thẳng, các viên gạch ăn chịu đồng đều, nên mới đứng lâu được , nếu hơi nghiêng, cố nhiên nó phải ngã.


8. Hai tay: Hai cánh tay vòng xuôi xuống, hai Bàn tay để trên hai chân, tay mặc gác lên tay trái, cách thức như Phật ngồi (xem hình đức Trung Tôn ngồi trong mỗi chùa).

9. Cổ và đầu. Cổ phải thẳng, đầu hơi ngã tới, hai mắt chỉ mở một phần tư (nếu mở mắt lớn thì tâm dễ bị loạn động, còn nhắm lại thì sanh hôn trầm).


Phương Pháp Sổ Tức 

Khi đã ngồi yên ổn đúng với như cách thức đã nói trên, hành giả bắt đầu đếm hơi thở. Trước khi đếm, phải thở ra hít vào chín mười hơi thật dài, để cho hơi thở điều hòa và những trược khí, uất kiết, nặng nề trong người đều tuông ra cả, và thay thế vào bằng những thanh khí mát mẻ, trong sạch của thiên nhiên.


Khi thở ra, hành giả phải tưởng: "những điều phiền não: tham, sân, si, các chất bẩn trược trong người đều bị hơi thở tống ra sạch hết, không còn một mảy may nào". Khi hít vào, hành giả nên tưởng: "Những chất nhẹ nhàng trong sạch sáng suốt của vũ trụ đều theo hơi thở thấm vào bủa khắp thân tâm".


Khi đủ mười hơi rồi, hành giả bắt đầu thở đều đều, không dài không ngắn, không mau không chậm, phải thở nhẹ nhàng như hơi rùa thở. Nếu thở mau và dài thì tâm sanh loạn động, còn thở chậm và ngắn, thì tâm sanh hôn trầm, hoặc bị uất kiết, có khi lại sanh ra giải đãi, rồi tâm dong ruổi duyên theo ngoại cảnh. Nên phải thở cho nhẹ nhàng và đều đặn, không mau không chậm, thì trong người mới được thư thới khỏe khoắn.


Từ đây mới bắt đầu đếm hơi thở.

Phương pháp đếm hơi thở có bốn cách như sau: 


1. Ðếm hơi lẻ. Nghĩa là thở hơi ra đếm một, thở hơi vô đếm hai, thở hơi ra đếm ba, thở hơi vô đếm bốn, đếm cho đến mười, không thêm không bớt, rồi bắt đầu đếm từ một cho đến mười lại. Cứ đếm đi đếm lại từ một đến mười, trong khoảng nửa giờ, một giờ hay hai giờ tùy ý.


2. Ðếm hơi chẵn. Nghĩa là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai, cứ tuần tự như thế cho đến mười lại, mãi cho đến khi đi ngủ.

Phương pháp đếm hơi chẵn này rất thông dụng, xưa nay người ta vẫn thường dùng, và đếm hơi thở ra dễ hơn, khỏi bịnh tồn khí (chứa hơi lại trong phổi).


3. Ðếm thuận: Nghĩa là đếm theo hai cách trên, cách nào cũng được, nhưng tuần tự từ một đến mười.


4. Ðếm nghịch: Nghĩa là cũng dùng hai cách đếm trên, nhưng đếm ngược từ mười đến một.

Bốn phương pháp này, tùy ý hành giả muốn dùng một phương pháp hay cả bốn phương pháp thay đổi cho nhau cũng được. Miễn sao thuận tiện cho mình và khỏi lộn, là thành công; nghĩa là đối trị được tâm tán loạn.


Những Ðiều Lầm Lộn Thường Xảy Ra Trong Khi Ðếm Hơi Thở  

Những điều lầm lộn mà hành giả thường mắc phải trong khi mới bắt đầu tu phép Sổ tức là:


1. Tăng: Nghĩa là thở ít mà đếm nhiều, đếm nhảy vọt, như ba liền đếm đến năm, hoặc mới năm liền nhảy lên đếm tám v.v…

2. Giảm: Nghĩa là thở nhiều mà đếm ít, đếm thụt lùi, như đến bốn rồi lại đếm ba, hay bảy rồi lại đếm sáu v.v…

3. Vô ký: Nghĩa là không nhớ rõ mình đã đếm đến số mấy rồi.

Mỗi khi lầm lộn như thế, phải bắt đầu đếm lại. Phải tập cho đến khi nào không còn mắc phải những lầm lộn nói trên, thì tâm trí mới được yên tịnh.


PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ:

Định Niệm Hơi Thở là một pháp môn tuyệt vời. Trước khi muốn tu tập pháp môn này quý vị nên chọn một nơi thanh vắng và yên tĩnh, ít có người qua lại. Khi chọn được xong chỗ ngồi, quý vị ngồi xuống, ngồi kiết già hoặc bán già đều được cả, phải giữ gìn lưng thẳng, quay mặt vào vách, hay gốc cây, hai mắt nhìn phớt xuống chóp mũi.


Khi tư thế ngồi yên ổn xong thì quý vị bắt đầu hít vào một hơi thở chậm, dài. Khi nào hít vào hết sức thì quý vị lại thở ra cũng chậm, nhẹ và dài. Khi thở ra hết thì quý vị trở lại hơi thở bình thường, kèm theo pháp hướng tâm: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”.


Khi thở đúng 5 hơi thở thì quý vị lại nhắc tâm: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Rồi lại tiếp tục thở bình thường như trên. Khi thấy hơi thở ra vào đều đều, tâm gom tại nhân trung thì quý vị cứ tiếp tục tu tập vừa tác ý vừa hít thở cho đến tu tập như vậy được 30’ mà không có một niệm nào xen vào, thì đó là kết quả thứ nhất của sự nhiếp tâm trong hơi thở.


Khi tu tập được 30’ không có một niệm nào xen vào trong hơi thở thì không cần phải tác ý câu: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra” nữa, mà phải nhắc bằng những câu khác để xả tâm mình trong khi đang thở.


Thí dụ nhắc tâm bằng câu: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”, rồi quý vị thở 5 hơi thở. Sau đó lại nhắc tâm: “Quán ly sân tôi biết tôi hít vô, quán ly sân tôi biết tôi thở ra”, rồi thở tiếp 5 hơi, và nhắc tâm: “Quán ly si tôi biết tôi hít vô, quán ly si tôi biết tôi thở ra”,rồi quý vị cứ tiếp tục 5 hoặc 10 hơi thì một lần hướng tâm như sau:


“Quán đoạn dứt tâm tham tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm tham tôi biết tôi thở ra”.

“Quán đoạn dứt tâm sân tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm sân tôi biết tôi thở ra”.

“Quán đoạn dứt tâm si tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm si tôi biết tôi thở ra”.


Như thế, cứ cách 5 hơi thở thì một lần hướng tâm (Đừng để cho một niệm khác xen vào trong khi ta thở và tác ý).

Khi tu tập Định Niệm Hơi Thở như vậy độ 30 phút thì quý vị xả nghỉ. Nếu quý vị có sức ngồi tu tập bền lâu thì cũng nên tu tập 30 phút rồi xả nghỉ, không nên tăng hơn suốt trong ngày đêm Thọ Bát Quan Trai Giới. Quý vị cứ tu tập từng hành động, trong công việc làm, hay lúc đi kinh hành, luôn luôn tu tập Định Niệm Hơi Thở kèm theo pháp hướng để xả tâm thì tâm hồn quý vị sẽ được thanh thản.

Đây là bài tham khảo thêm về Giới Niệm Hơi Thở, hơi thở ra, hơi thở vô để quý Phật tử nghiên cứu. Pháp môn Giới Niệm Hơi Thở Ra, Hơi Thở Vô là một pháp môn mang lại lợi ích rất lớn cho công cuộc chiến đấu với mặt trận sinh tử luân hồi của nhân quả.


Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.