Articles by "Câu chuyện đạo"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu chuyện đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

VLCĐ: Sau khi chết sẽ như thế nào, linh hồn của người chết sẽ đi về đâu, tiến trình của cái chết như thế nào? Cái chết đối với nhiều người có thể là chủ đề kiêng kỵ, thậm chí còn rất khó nói vì gợi lên cảm giác sợ hãi đầy bí ẩn. Thật ra, việc tìm hiểu điều gì sẽ xảy ra với cơ thể sau khi chết không hề đáng sợ như bạn vẫn nghĩ. Sau khi chết con người sẽ như thế nào? Theo bạn có tồn tại thế giới sau khi chết không?

Điều Gì Xảy Ra Với Cơ Thể Sau Khi Chết Đi? Sau Khi Chết Sẽ Như Thế Nào?

Tiến Trình Của Sự Chết

Sự chết của con người là một giai đoạn trong chu trình biến thiên bất tận sinh-lão-bệnh-tử. Đầu tiên, tim ngừng đập rồi đến phổi, sau đó đến não; cuối cùng cơ thể phân hủy. Từ lúc tim ngừng đập đến lời thông báo chính thức rằng một người đã chết, các bác sĩ chờ đợi 2,3,5 hoặc 10 phút, nhưng “thời gian chuẩn” mà ngành y gọi là asystolic là bao nhiêu vẫn còn có sự khác biệt giữa hai quan điểm của “y học cổ truyền Tây Tạng” và y học hiện đại. 

– Theo y học hiện đại thì bệnh nhân chỉ thực sự chết sau khi tim ngừng đập nửa giờ. Bốn giờ sau khi tim ngừng đập thì não mới chết hẳn và không còn “hoạt động điện não”… Sau đó, cơ thể người chết trở nên lạnh cứng, lộ rõ âm khí và hoại tướng của một tử thi. 

– Theo “Tạng thư sống chết” và “Tử thư Tây Tạng”: Phải mất 8 giờ sau khi tim ngừng đập và tắt hơi, con người mới chết hẳn và các nghi thức tẩn liệm chỉ được phép thực hiện sau 8 giờ. Tiến trình chết là quá trình tan rã gồm hai giai đoạn: một sự tan rã bên ngoài, khi các căn và tứ đại phân tán; và một sự tan rã bên trong, thuộc về các ý tưởng và cảm xúc thô và tế.

Sự Tan Rã Bên Ngoài:
Lục căn phân tán và ngưng hoạt động. Thân xác mất hết sức mạnh, không còn chút năng lực nào: không thể ngồi thẳng, đứng lên hay cầm bất cứ vật gì. Màu da phai nhạt dần và một màu tái xanh hiện ra. Má hóp lại, thấy khó mở mắt, nhắm mắt. Khi sắc uẩn phân tán, con người bất động, tâm thần dao động, miệng có thể nói nhảm, sau đó đi vào trạng thái hôn trầm.

Thủy đại tan rã: Con người bắt đầu mất khả năng kiểm soát chất lỏng trong thân. Mũi ta bắt đầu chảy nước và miệng rỏ nước miếng. Có thể nước mắt chảy ra và ta có thể mất tự chủ. Lưỡi không còn di động, lỗ mắt khô cạn, môi tái lại và thụt vào.. Tâm thức ta trở nên mờ mịt, bất mãn, bực tức và nóng nảy.

Hỏa đại tan rã: Tất cả hơi ấm trong cơ thể bắt đầu mất dần, từ dưới chân lạnh ngược lên đến tim. Tâm trí bắt đầu lộn xộn: không thể nhớ được tên bà con, bè bạn hay nhận ra họ, càng lúc càng khó nhận ra những gì ở bên ngoài, vì âm thanh và hình ảnh luôn trộn lẫn. 

Phong đại tan rã: Ta càng lúc càng khó thở. Không khí dường như thoát ra ngõ yết hầu chúng ta. Hơi thở vào càng lúc càng ngắn và khó nhọc. Mọi sự trở nên một khối mờ mịt. Cảm giác liên lạc cuối cùng của chúng ta với tình trạng xác thân đang tan mất. Bắt đầu có ảo giác và thấy các cảnh tượng: nếu trong đời, ta đã tạo nhiều nghiệp ác, ta có thể trông thấy những hình thù ghê rợn. Những người sống đời lương thiện, khi chết cảm thấy bình an thay vì sợ hãi.

Vào thời điểm này, máu tụ lại đi vào trong “kinh mạch của sự sống” nằm chính giữa tim ta. Ba khối máu lần lượt tụ lại gây nên ba hơi thở ra cuối cùng. Rồi thình lình hơi thở ta chấm dứt. Chỉ một chút hơi ấm còn lại trong tim. Một dấu hiệu của sự sống không còn, và đây là điểm mà sự xét nghiệm lâm sàng cho là: “chết”. Tuy nhiên, các bậc thầy Tây Tạng cho rằng vẫn còn tiếp diễn một tiến trình bên trong. 

Sự Tan Rã Bên Trong:
Trong quá trình tan rã nội tâm, ở đấy những tâm trạng và cảm xúc từ thô đến tế tan rã, có bốn tầng lớp tâm thức vi tế được gặp gỡ. Ở đây, tiến trình chết phản ảnh ngược lại với tiến trình đầu thai. Khi tinh huyết cha mẹ gặp gỡ, tâm thức ta do nghiệp thúc đẩy, bị kéo vào. Trong thời kỳ phát triển bào thai, tinh chất của cha, một hạt nhân “trắng và phúc lạc” an trú trong luân xa ở đỉnh đầu, trên cùng của huyệt đạo trung ương.
Tinh chất của người mẹ, một hạt nhân “đỏ và nóng” an trú trong luân xa nằm dưới rốn chừng bốn ngón tay. Chính từ nơi hai tinh chất này mà những giai đoạn kế tiếp của sự tan rã xảy ra.

Với sự biến mất của ngọn gió giữ nó lại đẩy, tinh chất màu trắng đi đến huyệt đạo về phía trái tim. Bên ngoài có tướng màu “trắng” hiện ra như “một bầu trời trong sáng dưới ánh trăng”. Bên trong, ý thức chúng ta trở nên vô cùng sáng suốt, và tất cả những tâm trạng do sân giận, gồm 33 thứ, đều dứt. Giai đoạn này gọi là “xuất hiện”. Rồi tinh chất của mẹ bắt đầu đi lên qua huyệt đạo trung ương, khi ngọn gió giữ nó nguyên chỗ đã biến mất. Tướng bên ngoài là một màu “đỏ” như mặt trời chiếu trên nền trời trong. Bên trong, có một cảm giác phúc lạc phát sinh, và những tâm trạng do tham dục, gồm 40 thứ tất cả, ngưng hoạt động. Giai đoạn này gọi là “tăng trưởng”.

Khi hai tính chất đỏ, trắng gặp gỡ ở tim, tâm thức được kèm theo trong ấy. Tulku Urgyen Rinpoche, một bậc thầy lỗi lạc ở Nepal, nói: “Kinh nghiệm ấy giống như bầu trời và trái đất gặp nhau”. Bên ngoài, chúng ta thấy xuất hiện một màu “đen”, giống như một bầu trời trống rỗng chìm trong màn đêm dày đặc. Tướng bên trong là một trạng thái tâm thức không có tư tưởng. Bảy trạng thái tâm do ngu si và vọng tưởng đi đến chấm dứt. Điều này được gọi là “thành tựu”. Khi chúng ta hơi tỉnh giác trở lại, ánh sáng căn bản lóe lên như một bầu trời vô nhiễm không mây mù. Đôi khi đấy gọi là “tâm với ánh sáng trong của sự chết”. Đức Đạt lai Lạt ma nói: “Tâm thức này là tâm thức sâu xa nhất. Chúng ta gọi nó là Phật tính, suối nguồn thực sự của mọi thức. Dòng tương tục của tâm thức này kéo dài ngay cả đến khi thành Phật quả.

Linh hồn của người chết sẽ đi về đâu ?
Nếu Tồn Lại Thế Giới Sau Khi Chết, Thì Điều Gì Xảy Ra Với Linh Hồn Sau Khi Con Người Chết Đi?

Dựa vào các nền văn hóa của tôn giáo phương Đông (Phật giáo và Đạo giáo), tương truyền rằng sau khi thọ mệnh người ta kết thúc, sẽ có quỷ sai của âm gian là Hắc Bạch Vô Thường đến dẫn hồn phách người ta xuống Quỷ Môn quan. Sau đó Tứ đại Sứ giả của âm gian là Đầu Trâu Mặt Ngựa, dẫn vong linh đến Âm Tào Địa Phủ; tiếp đó được thẩm phán của chư vị Đại Phán quan của Thập Điện Diêm La dưới âm gian tiếp nhận. Cuối cùng mới quyết định vong linh là có thể đi vào cõi nào để tiếp tục luân hồi: hoặc là lên trời hưởng phúc lành, hoặc là tiếp tục đầu thai làm người nữa hoặc loại động vật nào đó, hoặc là bị đánh vào mười tám tầng địa ngục như trong truyền thuyết để chịu khổ hình.

Ải Thứ Nhất: Quỷ Môn Quan

Sau khi con người chết đi, trước hết là do quỷ sai nơi âm gian Hắc Bạch Vô Thường dẫn ba hồn bảy phách đi, rồi giao cho quỷ Đầu Trâu Mặt Ngựa dẫn đến Quỷ Môn quan – một quan ải cần phải đi vào cõi âm gian.

Trước Quỷ Môn quan có mười sáu quỷ lớn.Lúc còn sống bất luận là quan chức quyền quý hay bá tánh bình dân, ai đã đến nơi đây đều cần phải tiếp nhận tra xét, xem xem có mang theo lộ dẫn – giấy thông hành đến quỷ quốc hay không, đây là căn cứ của người sau khi chết đi đến quỷ quốc báo danh.

Ải Thứ Hai: Đường Hoàng Tuyền

Qua khỏi Quỷ Môn quan, tiếp đó phải đi qua một con đường Hoàng Tuyền dài đằng đẵng. Hồn phách của người ta đến âm gian báo danh sẽ phải đi một đoạn đường rất dài, qua rất nhiều quan, vì vậy đường Hoàng Tuyền (Suối Vàng) là tên gọi chung đối với những quan và lộ trình này. Trên đường Hoàng Tuyền có hoa Bỉ Ngạn màu đỏ.

Ngoài ra, trên đường Hoàng Tuyền còn có rất nhiều cô hồn dã quỷ, họ là những người dương thọ chưa hết mà chết bất đắc kỳ tử; họ đã không thể lên trời, cũng không thể đầu thai, càng không thể đến âm gian, chỉ có thể lang thang trên đường Hoàng Tuyền, đợi đến dương thọ kết thúc rồi mới có thể đến âm gian báo danh, nghe Diêm La Vương phán xét.

Ải Thứ Ba: Tam Sinh Thạch

Bên cạnh cầu Nại Hà có tảng đá xanh tên Tam Sinh thạch. Nghe nói rằng, tảng đá này ghi chép lại đời trước, đời này và đời sau của mỗi một người. Nhân của đời trước, quả của kiếp này, duyên khởi duyên diệt, đều chất chồng mà khắc trên tảng đá ba đời.

Trăm nghìn năm nay, nó đã chứng kiến sầu khổ và mừng vui, bi ai và hạnh phúc, nụ cười và nước mắt, cho đến hết thảy những món nợ và những tình cảm phải trả của tầng tầng lớp lớp chúng sinh. Đứng trước tảng đá ba đời này là thấu tỏ hết.

Ải Thứ Tư: Vọng Hương Đài

Vọng Hương đài, cũng chính là Thổ Cao đài, nơi có đình Mạnh Bà. Ở nơi này, có thể lên đài nhìn về ngôi nhà nơi dương thế, vậy nên nơi đây đã trở thành cửa sổ nhìn về Dương gian của quỷ hồn và Thánh địa, là nơi liên lạc tình cảm giữa người sống và người chết, là nơi mà vong hồn nhìn về dương thế tạm biệt người thân một lần cuối cùng. 

Ải Thứ Năm: Vong Xuyên Hà

Vong Xuyên hà chắn ngang giữa đường Hoàng Tuyền và Âm phủ. Nước sông có màu đỏ như máu, bên trong hết thảy đều là cô hồn dã quỷ không được đầu thai, trùng rắn khắp nơi.

Đương nhiên, sau khi con người chết vì để kiếp sau có thể gặp lại người mình yêu thương nhất trong kiếp này, người ta có thể không uống canh Mạnh Bà, vậy cần phải nhảy vào Vong Xuyên hà, đợi trên nghìn năm mới có thể đầu thai.

Trong nghìn năm đó, hoặc có lẽ sẽ nhìn thấy người mà mình yêu thương nhất trong kiếp này đi trên đầu, nhưng không thể nói chuyện với nhau, bạn thấy họ, nhưng họ lại không thấy bạn. Sau nghìn năm, nếu như lòng nhớ nhung của bạn không hề giảm đi, còn có thể nhớ được chuyện của đời trước, vậy thì có thể trở lại nhân gian, tìm kiếm người mà bạn yêu nhất trong đời trước.

Ải Thứ Sáu: Canh Mạnh Bà

Canh Mạnh Bà còn gọi là Vong Tình Thủy hoặc Vong Ưu Tán, hễ uống vào liền quên hết mọi chuyện của đời này lẫn đời trước. Mạnh Bà phân phát canh Mạnh Bà ở đầu cầu Nại Hà, chứ không phải ở trên cầu.

Sau khi con người chết mỗi một người đều phải đi qua cầu Nại Hà, Mạnh Bà đều sẽ hỏi có uống canh Mạnh Bà không, nếu muốn qua cầu Nại Hà, thì cần phải uống canh Mạnh Bà. Còn không uống canh Mạnh Bà, thì không qua được cầu Nại Hà, không qua được cầu Nại Hà, thì không được đầu thai chuyển sinh.

Uống canh Mạnh Bà rồi, có thể quên đi hết thảy sầu khổ, buồn vui nơi trần thế, chỉ uống canh thuốc của bà, mối thù trong đời này kiếp này sẽ quên sạch đi, đến thế gian làm một con người hoàn toàn mới.

Ải Thứ Bảy: Cầu Nại Hà

Cây cầu chia thành ba tầng, tầng trên đỏ, tầng giữa màu vàng đen, tầng dưới cùng là màu đen. Khi sống làm việc thiện thì đi tầng trên, người nửa thiện nửa ác thì đi tầng giữa, những người hành ác thì chính là đi tầng dưới cùng.

Bên dưới cầu là con sông có vô số cô hồn dã quỷ không được đầu thai; những quỷ hồn chết đuối kia đều là ở trên dưới nhịp cầu hoặc trái phải đầu cầu, mong tìm thế thân cho mình, để bản thân có thể đầu thai chuyển thế.

Những người đi tầng dưới sẽ bị quỷ hồn chặn lại, lôi vào trong sóng lớn bẩn thỉu, bị rắn đồng chó sắt cắn xé, chịu đủ thống khổ dày vò không được giải thoát.

Đi qua hết cầu Nại Hà bèn có thể thông đến sáu nơi, tức là đi vào cõi lục đạo luân hồi: cõi người trời, cõi A-tu-la, cõi người, cõi súc sinh , cõi quỷ đói, cõi địa ngục.

Trong đó, người trời, A-tu-la là cõi người thuộc về ba đường trên, còn súc sinh, ác quỷ, địa ngục thì thuộc về ba đường dưới.

Còn về đi về cõi nào, là dựa vào nghiệp thiện ác tích được của vong hồn lúc còn sống mà phân loại. Người thiện nghiệp nhiều luôn luôn sẽ được bố trí ba đường trên, những người ác nghiệp nhiều luôn luôn được bố trí ba đường dưới.

Quá trình đi xuống âm gian của người ta sau khi chết vốn không thông dụng với hết thảy mọi người. Những người tu hành làm thiện nếu như công đức đạt đến viên mãn, sau khi hết mệnh sẽ không phải trải qua quá trình âm gian này mà trực tiếp được Phật tiếp dẫn đến thế giới Tây Phương Cực Lạc; những kẻ đại ác làm nhiều việc gian ác cũng có thể sẽ không trải qua quá trình âm gian này, bởi nghiệp lực dẫn dắt mà sẽ bị đánh thẳng vào địa ngục.

Lựa chọn tốt nhất cho mỗi chúng ta là hãy sống thật tốt trong hiện tại và nếu được hãy tu tập tâm tính của bản thân để đến khi nhắm mắt xuôi tay không phải hối hận về những gì mình đã làm lúc còn sống. Hy vọng bài viết đã giúp bạn trả lời được câu hỏi sau khi chết sẽ như thế nào?

VLCĐ: Nói chuyện tử tế với người nhà, là bổn phận của một người. Chúng ta luôn rất lịch sự với người ngoài, nhưng lại hay tức giận với người thân, đó là bởi người nhà quan tâm bạn, luôn bao dung bạn dù bạn có đối xử với họ ra sao. Người tính khí tốt, miệng có đức ắt có phúc, người tính khí xấu, miệng thiếu đức ắt không có phúc.Tính khí của bạn chính là phong thủy cuộc đời bạn.

1./ Tính khí của bạn, tiềm ẩn tài vận của bạn: Khu dân cư vừa mở thêm một siêu thị mới. Thời gian đầu, vì tiện lợi nên mỗi ngày mở cửa ra đều đông kín người. Nhưng lâu dần, tôi phát hiện ra, lượng người tới ngày một ít hơn. Tôi nói chuyện này với mấy người hàng xóm, họ ngay lập tức ca thán.

Trời lạnh, một chị hàng xóm đi siêu thị mua bánh mì và mấy đồ ăn vặt khác để ăn sáng ngày hôm sau, lúc trả tiền tại quày, đồ ăn vặt không may rơi hết xuống đất, chị ấy vội vàng nhặt lên, miệng cũng xin lỗi rối rít. Nhưng, ông chủ lại mặt nặng mày nhẹ: "Bà nhặt nhanh lên đi!."

Câu nói của ông chủ khiến chị ấy dù tâm trạng có muốn tốt cũng không thể tốt lên được. Đây không phải chuyện hiếm. Ông chủ siêu thị rất thường xuyên mặt nặng mày nhẹ với người tới mua hàng, dù đồ của siêu thị có nhiều tới đâu, có gần tới đâu, thì cũng chẳng ai muốn vừa mua hàng vừa phải nhìn cái khuôn mặt khó chịu đó cả.

Có người từng nói: "Điều tồi tệ nhất trên thế gian này, chính là một khuôn mặt tức giận; chuyện đau lòng nhất trên thế gian này là chưng ra khuôn mặt tức giận với người bên cạnh, nó còn khó chịu hơn cả bị đánh mắng gấp ngàn lần."

Sự lạnh lùng, thờ ơ và tính khí khó chịu của bạn sẽ đẩy mọi người ra xa bạn hơn, sẽ đẩy cánh tay định đưa ra giúp đỡ bạn ra xa hơn, đẩy sự may mắn vốn dĩ sẽ thuộc về bạn ra xa hơn.

2./ Tính khí của bạn, tiềm ẩn hạnh phúc và khổ đau của bạn

Tâm lý học có một hiệu ứng nổi tiếng gọi là "Hiệu ứng đá mèo" (kick the cat).

Một người cha ở công ty bị phê bình, về nhà nhìn thấy con trai đang chơi trên ghế sofa, bỗng nhiên "phát hỏa" mắng cậu con trai. Cậu con trai sau khi bị mắng tức giận chạy ra ngoài, vì bỗng dưng bị "giận cá chém thớt", là không có chỗ để trút, vừa hay nhìn thấy con mèo dưới chân, cậu bé liền đá cho con mèo một phát, con mèo rất đau, bỏ chạy ra phố. Lúc này vừa hay có một chiếc xe chạy tới, vì muốn tránh con mèo nên đã đâm vào cậu bé.

Vạn sự đều có nhân quả, cảm xúc cũng sẽ lan truyền. Chú hàng xóm, có một đoạn thời gian luôn mang cục tức ở công ty về nhà trút lên vợ con, người vợ mở cửa cho chồng còn chưa kịp nói gì đã bị chồng tức giận mắng mỏ cho một trận.

Người vợ vừa tan làm về đã tất bật cơm nước, lại vô duyên vô cớ bị mắng nên cũng rất bực mình, việc nhà không muốn làm nữa, tự dưng cũng bực mình lên con cái. Rồi cậu con trai nhìn bố mẹ tâm trạng không tốt, tâm trạng cũng không tốt theo, áp lực, bài tập cũng không muốn làm, không muốn ở trong nhà. Đợt vừa rồi kết quả thi của cậu con trai vô cùng kém, thụt lùi đi rất nhiều.

Tức giận là bản năng, nhưng kiềm chế được cơn tức giận là bản lĩnh. Khi bạn muốn "bùng nổ", hãy nhịn 10 giây. Mỗi một lần bạn tức giận, là một lần bạn găm một cái đinh lên người thân của bạn, lời xin lỗi của bạn sau đó giống như rút đinh ra, nhưng, vẫn để lại đó một cái lỗ, thời gian có thể chữa lành tất cả, nhưng đừng quên, vết sẹo sẽ vẫn còn đó.

Chú hàng xóm sau đó đã tự vấn lại bản thân, mấy hôm nay lúc về nhà đều trông thấy chú ngồi trong xe một lúc, tôi hỏi chú sao không lên nhà, chú nói chú muốn yên tĩnh một lúc, kiềm chế lại cảm xúc của bản thân, về nhà không tùy tiện trút giận lên vợ con nữa. Hôm qua thấy cậu con trai cười rất vui vẻ, một cậu bé đi học với một tâm trạng vui vẻ, thành tích còn có thể không tốt ư?

Nói chuyện tử tế với người nhà, là bổn phận của một người. Chúng ta luôn rất lịch sự với người ngoài, nhưng lại hay tức giận với người thân, đó là bởi người nhà quan tâm bạn, luôn bao dung bạn dù bạn có đối xử với họ ra sao.Nhưng, đợi tới khi sự nóng nảy của bạn khiến người thân cũng không thể chấp nhận nổi nữa, vậy thì tất cả những gì bạn có lúc này sẽ chỉ còn là sự cô độc...

Người tính khí tốt, miệng có đức ắt có phúc; người tính khí xấu, miệng thiếu đức ắt không có phúc.

Tính khí của bạn chính là phong thủy cuộc đời bạn, là sự phù hộ cho cả đời may mắn.

Thiện Tri Thức Namo Buddhaya

Khi hồn đã lìa khỏi xác thì dù có trăm, ngàn giáo sĩ cầu nguyện van vái cũng chẳng ăn thua gì. Lúc sống chẳng lo, lúc chết lo sao kip? Vậy làm thế nào để phân biệt được một người chết và một người Vãng sinh Chính vì xót thương chúng sinh mà Đức Phật đã chỉ dạy pháp môn Tịnh Độ để có thể vượt qua ba ác đạo và thẳng tiến lên của Phật A Di Đà hay vãng sinh Tịnh Độ cũng thế.

Vào ngày 08-04-2010 tôi đã có dịp giới thiệu cuốn sách Tu Tại Gia của GS. Lê Thái Ất. Nay do  duyên may, lại được hân hạnh giới thiệu cuốn sách mới vừa xuất bản, có tựa đề rất dài Vãng Sanh Tịnh Độ: Làm Thế Nào Để Phân Biệt Được Một Người Chết và Một Người Vãng Sanh Tịnh Độ của BS. Nguyễn Thanh Giản. Vì tựa đề quá dài làm người đọc khó nhớ cho nên tôi mạo muội rút gọn tên sách thành Chết Hay Vãng Sanh Tịnh Độ? để độc giả dễ nhớ hơn. Sách được ra mắt tại tư gia một thân hữu tại San Jose trong khung cảnh ấm cúng, đạo vị vào ngày 19-12-2010.

Câu hỏi đặt ra ở đây – là một nhà trí thức, suốt đời để tâm nghiên cứu Phật Giáo cũng như các tôn giáo khác, đồng thời bản thân cần mẫn tiến tu, cuối đời sao ông không viết một cuốn sách về Phật Giáo thật “cao viễn” mà lại viết về chuyện rất xưa, “xưa như trái đất” nhưng rất thực tiễn mà ông bà cụ kỵ chúng ta đã làm - đó là phát nguyện và niệm Phật để cầu vãng sinh Tịnh Độ?

Tại cái thế giới hữu hạn và vô thường này, cái chết là chuyện đương nhiên “Nhân sinh tự cổ tùy vô tử”. (Nguyễn Công Trứ) Một ngày, một giờ, một phút trên hành tinh này không biết bao nhiêu người từ giã cõi đời, mà thần thức không biết phiêu bạt về đâu? Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh? Khi hồn đã lìa khỏi xác thì dù có trăm, ngàn giáo sĩ cầu nguyện van vái cũng chẳng ăn thua gì. Lúc sống chẳng lo, lúc chết lo sao kip? Cũng như sĩ tử đi thi, chẳng lo “dùi mài kinh sử” khi vào trường thi, trống đánh thùng thùng thì hồn vía lên mây, bụng dạ, chữ nghĩa đâu mà làm bài thi?

Chính vì xót thương chúng sinh mà Đức Phật đã chỉ dạy pháp môn Tịnh Độ để chúng sinh, với cuộc sống quá bôn ba, bận rộn, đôi khi lười biếng, chỉ cần Niệm Phật cũng có thể vượt qua ba ác đạo và thẳng tiến lên Cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà hay vãng sinh Tịnh Độ cũng thế.  

Theo sự hiểu biết của tôi và cũng là nội dung của cuốn sách này, đồng thời cũng là sự chỉ dạy của Chư Tổ, cầu vãng sinh không phải là cầu cho chết sớm mà là cầu sống thư thái, nhẹ nhàng, đạo hạnh. Người cầu Vãng Sinh từ từ dứt bỏ hoặc dứt bỏ ngay những ràng buộc, muộn phiền làm khổ ta và khổ người, nhất là lúc lâm chung. Người cầu Vãng Sinh không bao giờ Sợ Chết, không nuối tiếc ảo ảnh quá khứ mà ngay sau khi chết, hoan hỉ tiến lên Thế Giới Cực Lạc của Phật A Di Đà để “đồng cư” với  các bậc hiền thánh khác, tiếp tục cuộc hành trình cao cả là tiến lên Phật quả mà mình không đủ khả năng hoàn tất ở Thế Giới Ta Bà.

Chúng ta hãy nghe tác giả giải thích “Xin nhắc lại là tất cả mọi người đều cũng có cơ hội đó. Nếu ta biết nắm lấy cơ hội đó thay vì chỉ suy nghĩ , mong cầu, tiếc nuối hoặc ước vọng lang bang thì cơ hội đó sẽ mất không tìm thấy một lần thứ hai. Vậy thì cơ hội đó là lúc nào? Đó là lúc ta ngáp ngáp trên giường bệnh. Lúc đó thật đau đớn, thật hoang mang, thật nuối tiếc, thật hối hận nếu đã tạo một lỗi nặng, thật lo ngại nếu những người thân chưa ổn định được cuộc sống. Nhưng dù có những vấn đề được đặt ra, chúng ta cũng không thể làm được bất cứ điều gì cả ngay ở thời điểm đó. Vậy tốt hơn hết là bỏ hết…Đó chính là lúc ta thoát khỏi cái Ngã và tâm ta quyết hướng dẫn ta đi theo Đức Phật A Mi Đà, (*) Đức Đại Thế Chí, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Các ngài sẽ đón ta lúc sắp lâm chung dưới hình thức những hóa thân hoặc những luồng ánh sáng rõ ràng.” (Tr. 12 & 13)

Để làm nòng cốt cho cuốn sách, tác giả đã trình bày bốn Lá Thư Tịnh Độ của chính tác giả gửi cho Cư Sĩ Diệu Âm ở Úc Châu vào năm 2007 để luận bàn về vãng sinh.

- Trong lá thư thứ nhất, tác giả viết “Gần đến ngày đó (vãng sinh) có người tổ chức một đạo tràng niệm Phật, có người mở tiệc chay ăn mừng lúc chia tay những người thân dưới sự chứng kiến của hàng ngàn người.” Rồi “Ánh sánh tiếp dẫn của Đức A-Mi-Đà  và các vị Bồ Tát được nhiều người nhìn thấy, có quay Video. Có thân nhân còn cảm thấy mùi thơm. Thân xác người chết sau bốn giờ trở lên vẫn còn mềm mại, hồng hào thay vì nét mặt kinh hoàng…” (tr. 23) Và về phương diện y khoa, “Người ta dùng cách đo nhiệt độ trên thân thể người sắp chết và người chết rồi để biết được người nào vãng sanh.” (tr. 24)

- Trong lá thư thứ hai, tác giả đề cao pháp môn niệm Phật, pháp môn duy nhất để vãng sinh Tịnh Độ. Nhưng tác giả nhắn nhủ hai điều: Thứ nhất, vãng sinh không có nghĩa là trả hết nghiệp. Thứ hai, “Nếu ta cầu xin vãng sinh mà còn sợ chết thì chữ Tín (trong Tín, Nguyện, Hành) kể như chưa nghiêm túc lắm” (tr. 29),  tức bán tín, bán nghi. Một giải đáp quan trọng khác trong lá thư thứ hai này là “Nếu chúng ta coi Tịnh Độ là 100% sức tu trì của chúng ta thì Thiền, Mật Tông, Sám Hối có cần thiết nữa không? Tôi cho rằng vẫn cần thiết vì nó hỗ trợ cho hạnh nguyện vãng sanh của chúng ta chứ không có sự đối nghịch nào ở đây.” (tr. 30)

-Trong lá thư thứ ba, vào ngày Chủ Nhật, đi chùa, sau hai tiếng đồng hồ qùy dưới Phật đài đọc Tứ Hoằng Thệ Nguyện (**), tác giả luận bàn với một số bạn đạo và họ thường hỏi nhau “Hiện nay vấn đề quan trọng nhất của đời mình là gì?” (tr. 42) Tất cả đều đồng ý là “Không ai muốn trở lại làm người nữa.” (tr. 42) Điều này hoàn toàn đúng. Những ai đã từng tin Phật, đã từng đọc sách Phật đều sợ hãi cuộc sống nơi cõi Ta Bà này kể cả những người đã tột đỉnh vinh hoa, phú quý. Đến như Cụ Nguyễn Công Trứ, đã làm tới đại tướng rồi mà còn phải thốt lên:

Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

chứ đừng nói chi đến những người bình thường phải chạy vạy tối tăm mặt mũi để vươn lên trong cuộc sống đầy khổ lụy này. Mà muốn không trở lại làm người để xoay vần trong thế giới ngũ trược, ác thế này nữa, với sức lực quá yếu kém của chúng ta, không còn cách gì khác hơn là dựa vào tha lực, tức sự tiếp độ của Phật A-Mi-Đà.

-Trong lá thư thứ tư, tác giả khẳng định niềm tin kiên cố, hành trì niệm Phật, giữ giới rất quan trong cho sự vãng sinh.
Phần kế tiếp tác giả giới thiệu hai bộ kinh A Di Đà, Quán Vô Lượng Thọ và  48 Hạnh Nguyện của Phật A Di Đà - trụ cột của pháp Tịnh Độ. Rồi Kinh Thủ Lăng Nghiêm (phần Niệm Phật Viên Thông), Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát). Bên cạnh đó, tác giả khuyến khích mọi người ăn chay để giảm bớt hoặc chấm dứt nghiệp sát sinh để con đường tiến vào Tịnh Độ giải thoát thênh thang rộng mở.

Có lẽ phần quan trọng nhất của cuốn sách này nằm trong chương Tóm Tắt Phép Tu Của Tôi và chương Hỏi - Đáp từ trang 136 tới trang 151.

Chương Tóm Tắt Phép Tu Của Tôi:
Tác giả tâm tình “ Tôi đã chọn sau khi sau khi nghiên cứu rất kỹ không những Đạo Phật mà cả các tôn giáo khác nữa. Tôi đã chọn và không xem sự lựa chọn của tôi là đúng nhất…Tôi đã chọn pháp môn niệm Phật sau khi đã thử khá nhiều các phương thức khác.” (tr.136) Thế nhưng  bên cạnh việc Niệm Phật, tác giả thầy cần “Làm các việc tốt đẹp có nghĩa là ta phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và mở mang trí tuệ.” (tr. 139). Lời nhắn nhủ sau cùng là “ Nếu ta còn chấp ngã nặng, còn tự ái tối đa là ta còn rất khó vãng sanh.” (tr. 142).

Chương Hỏi-Đáp:
Có những đoạn vấn đáp rất hay. Tôi xin trích ra một vài đoạn.
Hỏi: “Một tín đồ ngoại đạo hỏi rằng, ta xin dựa vào sức gia trì của Phật A-Mi- Đà để được vãng sanh Tịnh Độ thì cũng chẳng khác gì chúng tôi xin Thượng Đế để vãng sanh ở cõi trời. Vậy khác nhau ra sao?”

Đáp: “Khác nhau là người Phật tử cầu xin Đức Phật A-Mi- Đà nhưng thật ra không phó mặc hoàn toàn cho Phật mà niệm Phật là dựa vào Phật A-Mi- Đà để khơi dậy cái phần Phật tính trong mỗi tâm chúng ta. Phần Phật tính này đã có sẵn, sẽ được Phật A-Mi-Đà đưa về cõi Tịnh Độ. “

Hỏi: “ Đạo Phật có phải là một tôn giáo bi quan, yếm thế không? “

Đáp: “Nhất định là không. Đức Phật thấy đời là bể khổ nên chỉ dẫn cho ta vượt ra ngoài. Ngài hướng dẫn cho chúng ta có một Thân Tâm An Lạc, như vậy sao gọi là bi quan, yếm thế được!”

Tôi hoàn toàn đồng ý với lý giải của tác giả. Bi quan yếm thế là thấy đời toàn là một mầu đen và không lối thoát. Bày ra những lối thoát để con người vượt qua những bất hạnh của cuộc sống, rồi làm thăng hoa hay “nở hoa” cuộc sống thì đó là đạo cao thượng chứ không phải đạo yếm thế.

Trong một đoạn hỏi đáp khác, theo kinh điển Phật Giáo, tác giả khẳng định rằng không có một “linh hồn” bất biến và cố định như quan niệm của một vài tôn giáo khác. Mà nó là tập hợp của Thọ, Tưởng, Hành, Thức tùy duyên mà biến hiện. Nó “Biến thành Trí rất kém cỏi ở loài súc sinh. Biến thành Trí rất đói khát ở loài Ngạ Quỷ. Biến thành Trí rất đau khổ ở Địa Ngục. Biến thành trí vất vưởng nơi cuối bãi đầu ghềnh như nhà thần giao cách cảm (ngoại cảm) Phan Thị Bích Hằng nói về thần thức của một cán binh chết chết chôn ở một bãi cát nhưng lại là nhà tắm của một nông dân. Dù hài cốt đã dời về quê nhưng đam mê của anh ta cứ mãi kéo hồn anh lưu luyến nơi này để lén nhìn cô gái tắm truồng. Nhưng cũng thần thức đó nếu do tu hành mà lên được Cõi Tịnh Độ thì tâm linh đó biến thành bốn trí: Sở Tác Trí, Diệu Quan Sát Trí, Bình Đẳng Tánh Trí và Đại Viên Cảnh Trí.” (tr. 148) Hay nói khác hơn đó là trí tuệ của chư Phật.
Ở phần cuối, tác giả giới thiệu một số bài đọc thêm như Ý Nghĩa Tràng Hạt của Tỳ Kheo Thích Phước Thái, Lời Khai Thị của Đại Sư Ấn Quang.

Lời Kết: Sách không dày, chỉ 173 trang, chữ lớn cho các bậc cao niên dễ đọc, lời văn chân tình, mộc mạc, bày tỏ quyết tâm của tác giả lúc lâm chung sẽ không sa vào ba ác đạo Địa Ngục, Ngạ Quỷ,  Súc Sinh, cũng không muốn sinh lên Cõi Trời hưởng dục lạc mà chưa thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngay từ bây giờ chuẩn bị Vãng Sinh Tịnh Độ, “tạm cư” ở Tịnh Độ để tiếp tục tu hành  và có thể 1 triệu 600 năm nữa “Cho đến khi Đức Di Lặc ra đời, chúng ta sẽ cùng xuống thế với Ngài – cũng như nhiều vị cao minh khác đã từng xuống thế với Phật Thích Ca” để thực hiện hạnh nguyện Bồ Tát.
Sách in để biếu tặng tất cả các Phật tử thân kính, không bán. (***) Quý vị muốn có sách xin liên lạc với tác giả theo địa chỉ:

BS. Nguyễn Thanh Giản
2304 Monte Vista Dr.
Pinole, CA 94564
ĐT: (510) 758-0346
Đào Văn Bình
(California 19-12- 2010)
 
 (*) Trong suốt cuốn sách tác giả dùng danh từ A-Mi-Đà Phật thay vì A Di Đà Phật với lý do giải thích nơi trang 36: “Cả hai cách gọi đều đúng. Cách gọi thứ nhất (A-Mi-Đà) thì giống âm hơn. Người Tàu gọi là Amituofo. Còn cách thứ hai A Di Đà Phật đã có từ ngàn xưa và xem ra vẫn có hiệu quả đưa ta về Cực Lạc”
(**)Tứ Hoằng Thệ Nguyện bao gồm: Chúng sanh vô biên  nguyện độ tận. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn vô thượng thệ nguyện học. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
(***) Dù sách biếu không, cũng xin quý vị gửi theo cước phí để chia xẻ gánh nặng với tác giả nếu phải gửi biếu vài trăm cuốn

VLCĐ: Đi lễ chùa đã là một truyền thống gắn liền với tín ngưỡng tâm linh của người Việt. Tuy nhiên đứng trong chốn linh thiêng đó, người phật tử cầu nguyện đầu năm như thế nào cho đúng chánh pháp, không chỉ là để giao hòa ước nguyện, mà còn để hòa mình vào chốn tâm linh, gạt bỏ đi những lo toan vất vả của cuộc sống.

Tết đến xuân về là thời điểm khởi đầu cho một năm mới, mang theo nhiều hy vọng. Vào thời xa xưa, dịp năm mới chính là dịp “ngũ cốc đại thục” (ngũ cốc chín), cổ nhân sau khi được mùa thì sẽ tiến hành những nghi lễ thờ phụng và cảm tạ Thần linh, đồng thời cầu xin năm sau được mưa thuận gió hòa.

Năm mới truyền thống cổ xưa là bắt đầu từ mùng 8 tháng Chạp, kết thúc vào 15 tháng Giêng. Ngày mùng 8 tháng Chạp chính là ngày Đức Thích Ca Mâu Ni khai ngộ thành Phật. Chính vì thế, trong dân gian và chùa chiền thì ngày này người ta đều ăn cháo, một mặt là cầu nguyện cho năm mới ngũ cốc dồi dào, lục súc hưng vượng, nhưng mặt quan trọng hơn là để tỏ lòng kính ngưỡng, hướng về Đức Phật.

Cũng chính vào thời điểm ấy, cửa chùa rộng mở đón tiếp du khách bốn phương về đi lễ Phật đầu năm. Người Việt đến chùa không đơn giản chỉ là để ước nguyện, mà còn để hòa mình vào chốn tâm linh, gạt bỏ đi những lo toan vất vả của cuộc sống.

Nhưng người ta vẫn thường than rằng, nền văn minh vật chất phát triển quá nhanh trong khi nền văn minh tinh thần lại không thể theo kịp. Người đến chùa mong cầu sức khỏe, bình an, mong cầu Thần Phật phù hộ cho con cái, cho công việc làm ăn, hay cho được công thành danh toại. Cũng có người đến chùa là để tìm lối thoát cho những khúc mắc trong cuộc sống của bản thân, như là cầu duyên, cầu được tai qua nạn khỏi, hay mong muốn vượt qua khủng hoảng, bế tắc. Tất nhiên, mặc dù hiếm hoi, nhưng đôi lúc nhà chùa cũng được đón tiếp những người mộ Đạo, muốn giải quyết những trăn trở trong kiếp nhân sinh, tìm về chân lý.

Vậy thì đầu năm mới người ta nên cầu gì khi đi lễ chùa?


Nếu là cầu tiền tài, may mắn, danh vọng, cả cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dẫn dắt các đệ tử của ngài đi xin ăn, đi hóa duyên, yêu cầu họ vứt bỏ hết những tâm đeo bám vào tiền tài danh vọng. Ngài dạy cho họ biết buông bỏ, biết cách tu hành, để rồi thật sự đạt được trí huệ cao hơn. Vậy thì những lợi ích phàm tục này có phải là những gì Đức Phật sẽ cấp phát để con người ham muốn tới u mê?

Nếu là cầu duyên, theo lý nhà Phật thì duyên cũng thật không phải thứ có thể cưỡng cầu. Chưa nói đến tình duyên, mà thậm chí là duyên cha mẹ, duyên con cái, cũng đều chỉ gói gọn trong một kiếp này. Có ai là mang theo được cái duyên ấy? Đức Phật hướng con người ta đến sự giải thoát khỏi cõi luân hồi, cũng chính là thoát khỏi những duyên nợ ân oán. Vậy thì làm sao Phật có thể ban duyên cho người ta? Điều ấy có lẽ cầu Nguyệt lão se tơ hồng nghe ra còn hợp lý, nhưng không có cái phúc phận ấy thì cũng không thể nào toại nguyện.

Nếu là cầu sức khỏe, bình an, theo lý nhân quả và niềm tin vào sự luân hồi thì con người ta gặp chuyện không may đều là để hoàn trả những oan nợ đã làm từ một hay nhiều kiếp trước, sau khi hoàn trả và chịu khổ rồi thì người ta mới có được phúc phận. Vậy nếu nói một người luôn sống thoải mái cả cuộc đời, thì phải chăng họ sẽ không còn cơ hội tiêu trừ những ác nghiệp? Phải chăng điều chờ đợi họ sẽ là oan nợ chất chồng, là đại nạn khó thoát?
Cũng có người chẳng cần gì cho bản thân, nhưng lại muốn cầu cho người khác, hàm ý rằng cái tâm ấy là “vì người khác”. Nhưng “người khác” ấy thường thì là con cái, cha mẹ, anh chị em, cũng là cái tâm hướng tới người thân, chứ ít có ai thật sự cầu cho “người khác” cả.

Vậy thì người xưa cầu gì?
 Người xưa đến lễ Phật là mang theo cái tâm kính ngưỡng Phật, mong muốn chiểu theo những gì Phật dạy mà làm. Người mộ Đạo đến cầu chân lý, bày tỏ cái tâm không sợ khó, không sợ khổ, chỉ một lòng mong được đắc độ. Người bình thường cũng nhân dịp lễ Phật mà ăn năn trước những tội lỗi của mình, và cầu xin có cơ hội được hoàn trả sai trái, làm việc tốt, hành thiện giúp đời. Ngày nay người đến lễ Phật mấy ai sám hối ăn năn? Lại càng ít người có cái tâm cầu Đạo.

Có người nói rằng, chúng ta đang “hối lộ” Thần Phật – Ngẫm đi ngẫm lại thì lời nói ấy cũng chẳng hề sai. Chính là vì con người đã thay đổi rồi, không còn thật sự biết tôn kính Thần Phật như thế nào nữa. Thậm chí trong những món ăn món uống cũng mang hàm ý xúc phạm thần linh mà không tự biết. Chẳng hạn như “Trà La Hán”“Phật nhảy tường”, với hàm ý thô tục rằng các bậc Đại Giác cũng sẽ không nhịn được mà thèm ăn mấy món đồ đó. Vậy chẳng phải là báng bổ thần linh hay sao?Năm mới đến cùng với những hy vọng mới, những kỳ vọng mới, những khát vọng mới. Nhưng mong rằng trong dịp năm mới này, người đi chùa sẽ không đến chỉ vì tài, vì lộc, vì duyên, cũng đừng chỉ nhấn mạnh vào sức khỏe, bình an, mà quên đi những chân lý mà Thần Phật dạy – Đó là sự ăn năn, là thiện niệm, là lẽ nhân quả, là từ tâm đối với hết thảy mọi điều.

Quang Minh

Kẻ xấu ác mà được vãng sinh, đó là nhờ có tâm niệm Phật dũng mãnh gấp trăm lần bình thường, cho nên mới có thể thành tựu trong mười niệm. Nếu không được vậy, chỉ cần một chút buông lơi chậm trễ, ắt phải sẩy chân rơi vào ba đường ác.

Trương Thiện Hòa:
Trương Thiện Hòa sống vào đời Đường, làm nghề mổ trâu để sống. Khi lâm chung nhìn thấy cả đàn trâu biết nói tiếng người, theo đòi mạng. Thiện Hòa kinh sợ quá, gọi vợ bảo: “Mau mau thỉnh tăng đến sám hối cho tôi.” Vị tăng được thỉnh đến dạy Trương Thiện Hòa rằng: “Quán kinh có nói: Người lâm chung nhìn thấy tướng xấu ác, nếu chí tâm niệm Phật liền được vãng sinh.” Thiện Hòa nói: “Địa ngục đến gấp lắm rồi, không có thì giờ lấy lư hương đâu.” Liền dùng tay phải cầm lửa, tay trái niêm hương, quay mặt về phía hướng tây chí thiết niệm Phật. Niệm chưa được mười tiếng, bỗng tự nói: “Phật đến đón tôi.” Nói xong thì qua đời. 

Oánh Kha
Oánh Kha sinh vào đời Tống, tuy đã xuất gia nhưng lại không kiêng rượu thịt. Tự nghĩ lại rằng, mình đã là một vị tăng mà làm việc hư hỏng xấu ác như vậy, tương lai phải chịu đọa lạc, biết làm sao? Nhờ người sống chung mang đến cho quyển Vãng sinh truyện để đọc. Đọc qua mỗi truyện đều thấy xúc động trong lòng, sau đó liền ngồi quay mặt về hướng Tây, chuyên tâm niệm Phật, bỏ cả ăn uống. 
Trải qua ba ngày, trong mộng thấy Phật bảo rằng: “Con vẫn còn sống được mười năm nữa, hãy tự nỗ lực.” Oánh Kha bạch Phật rằng: “Cõi Diêm-phù-đề đầy dẫy sự xấu ác, dễ mất chánh niệm, con nguyện được sinh về Cực Lạc sớm hơn, phụng sự chúng thánh.” Đức Phật dạy: “Nếu vậy thì sau ba ngày ta sẽ đón con.” 
Đến ngày, Oánh Kha thỉnh đại chúng tụng kinh A-di-đà, lát sau nói: “Phật và đại chúng đều đã đến.” Nói rồi an nhiên mà tịch. 

Trọng Minh

Trọng Minh sống vào đời Tống, tu nơi chùa Báo Ân ở Sơn Âm, không nghiêm giữ được giới hạnh. 
Một hôm, Trọng Minh mắc bệnh, nói với người bạn đồng tu là Đạo Ninh rằng: “Tâm thức tôi hết sức tán loạn, biết dùng cách gì đối trị?” Đạo Ninh khuyên chú tâm niệm Phật theo hơi thở. Trọng Minh nghe theo lời, chí tâm niệm Phật. 
Qua được bảy ngày, Trọng Minh kiệt sức. Đạo Ninh lại dạy phép quán tưởng hình tượng Phật ngay trước mắt mình. Trọng Minh quán tưởng được hồi lâu, bỗng nhìn thấy hai vị Bồ Tát, tiếp theo lại thấy Phật, rồi nhắm mắt qua đời. 
Lời bàn

Kẻ xấu ác mà được vãng sinh, đó là nhờ có tâm niệm Phật dũng mãnh gấp trăm lần bình thường, cho nên mới có thể thành tựu trong mười niệm. Nếu không được vậy, chỉ cần một chút buông lơi chậm trễ, ắt phải sẩy chân rơi vào ba đường ác. 

Chuyện vãng sinh của loài vật:
Rồng vãng sinh 
Kinh Bồ Tát xử thai chép rằng: “Có một con rồng nói với chim kim sí rằng: ‘Ta từ khi thọ sinh làm thân rồng, chưa từng giết hại, quấy nhiễu các loài sống trong nước. Sau khi ta mạng chung, sẽ sinh về cõi Cực Lạc của đức Phật A-di-đà.’” 

Chim vẹt vãng sinh 

Vào đời Đường, trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên, nhà họ Bùi ở Hà Đông có nuôi một con chim vẹt, dạy cho biết nói, thường niệm Phật, quá giờ ngọ không chịu ăn. Khi lâm chung, chim niệm Phật đủ mười niệm thì tắt hơi. Lúc hỏa thiêu tìm thấy hơn chục viên xá-lợi, ánh sáng rực rỡ chói mắt. 
Đại sư Tuệ Quán liền xây tháp cho chim, Doãn Vi Cao ở kinh thành viết bài bia ký. 

Chim sáo vãng sinh
Vào đời Tống, Quán Công nơi chùa Chánh Đẳng ở Hoàng Nham nuôi một con chim sáo, dạy nói được tiếng người. Chim thường niệm Phật không thôi. 
Một hôm, chim đứng chết trong lồng. Quán Công đào huyệt mai táng. Không lâu sau, từ đầu lưỡi chim mọc lên một đóa hoa sen màu đỏ tía. 
Đàm Châu cũng có người nuôi một con sáo, biết nói, thường niệm Phật. Sau khi sáo chết, người ấy cũng đóng quan tài mai táng như người. Bỗng thấy nơi mộ phần mọc lên một đóa hoa sen, tìm xuống tận gốc thì thấy hoa sen ấy mọc ra từ miệng chim. 

Đại sư Liên Trì nói rằng: “Chim vẹt, chim sáo, người dạy cho biết niệm Phật cũng là chuyện thường tình. Sao ngày nay không thấy chim vãng sinh nữa? Than ôi, cũng giống như người đời, cùng được nghe lời dạy niệm Phật, nhưng có người niệm với tâm thành tín, có người niệm với tâm dể duôi, xem thường. Vì thế nên người niệm Phật thì nhiều, người vãng sinh rất ít. Đối với chim vẹt, chim sáo, nào có khác gì đâu?”


VLCĐ: Sự cảm ứng và thành tựu khi chuyên trì niệm Phật: Phật dạy ngài Xá Lợi Phất: “Này Xá Lợi Phất, ý ông thế nào? Sao gọi kinh này là Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm? Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam hay thiện nữ, nghe kinh này rồi mà chịu nhớ lấy, cả những danh hiệu, chư Phật sáu phương nghe rồi nhớ lấy, thì thiện nam ấy, thiện nữ ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm và được tới cõi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề thối chuyển”

(Tựa đề của chúng tôi - Ảnh minh họa trích từ tập ảnh Vương Thu Phương Quy y cửa Phật)

Pháp môn Niệm Phật, câu niệm "Nam mô A Di Đà Phật" hoặc ngắn gọn hơn "A Di Đà Phật" đã hiện hữu với dân tộc Việt Nam hơn ngàn năm nay. Lúc tôi lên tám tuổi (1950), sống ở Hải Phòng, bà nội thường kể cho nghe Hội Chảy chùa Hương lúc bà nội còn trẻ (thập niên 1920 & 1930). Lúc này đường đi còn khó khăn, đường lên chùa núi dốc quanh co.

Thế nhưng các cụ cứ chống gậy trúc mà miệng thì niệm "Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát". Theo lời bà kể lại thì chẳng mấy chốc mà leo tới nơi, chẳng mệt nhọc gì cả. Đoàn người lên núi gặp đoàn người xuống núi, đoàn người đi ra gặp đoàn người đi vào. Khi gặp nhau ai nấy đều cất tiếng chào "A Di Đà Phật!". Câu niệm, câu chào âm vang cả một vùng núi non hùng vĩ, biến cuộc hành hương thành một hành trình vừa linh thiêng vừa nên thơ có lẽ độc đáo nhất trên thế giới. Hình ảnh này đã được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi lại trong bài thơ Chùa Hương:

Mẹ bảo "Đường còn lâu,

Cứ đi ta vừa cầu.

Quan Thế Âm Bồ tát.

Là tha hồ đi mau" .

Trong đoàn người đi như nước chảy đó, giữa khói hương trầm nghi ngút, "Hương như là sao lạc" cô gái 15 tuổi - nhân vật chính của bài thơ Chùa Hương, theo cha mẹ đi trẩy hội, vì còn e thẹn cho nên:

Thẹn thùng em không nói.

Nam mô A Di Đà.

Lúc còn nhỏ thì không để ý. Nay lúc tuổi già, hồi tưởng lại tâm linh dân tộc, suy nghĩ lại câu niệm "Nam mô A Di Đà Phật" hoặc "A Di Đà Phật" của dân mình mới thấy nó có một ý nghĩa linh thiêng và đẹp tuyệt vời. Nó không phải chỉ nằm trong phạm vi tôn giáo mà còn hòa nhập thành truyền thống văn hóa dân tộc. Nó trở thành phong cách sống hài hòa giữa đạo và đời. Khi đi chùa gặp nhau, hoặc trong các lễ hội Phật, chúng ta cất tiếng "A Di Đà Phật!" thì "A Di Đà Phật" trở thành một câu chào hỏi, một lời thân thiện, một lời mừng rỡ rằng ta còn có nhau, một lời chúc tụng, một sự kính trọng, một ước vọng sau này (khi vãng sinh) sẽ lại gặp nhau trên quốc độ thanh tịnh của Phật A Di Đà.

Đó là hình ảnh đẹp ngoài đời. Còn trong gia đình, mỗi tối chúng ta thấy bà nội, bà ngoại, mẹ ta ngồi lâm râm lần chuỗi hạt niệm Phật. Các cụ niệm Phật để làm gì vậy? Đối với chư Tăng Ni, hoặc Phật tử tu tại gia chắc chắn ai cũng đã hiểu rõ mục đích của niệm Phật. Thế nhưng đối với thế hệ trẻ, người khác đạo có thể họ không hiểu ông/bà/cha mẹ hoặc chúng ta niệm Phật để làm gì? Hoặc giả nếu có hiểu thì cũng có thể hiểu sai cho nên chúng ta cần nói ra cho rõ. Chúng ta cần phân biệt đi chùa lễ Phật và niệm Phật là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Đi lễ chùa có khi chỉ là hành vi hoàn toàn tín ngưỡng, nhưng niệm Phật lại là hành vi huân tập, tu dưỡng bản thân. Ngoài ra chúng ta cần phải làm sáng tỏ cái Có và Không có trong niệm Phật để cho thấy đạo Phật không phải là thần giáo, chuyên cầu nguyện van vái để xin xỏ cái này cái kia, rồi trở thành tôi tớ cho thần linh.

Những cái Không có trong niệm Phật

1. Niệm Phật không phải để cầu xin Phật ban cho một điều ước nào đó.

2. Niệm Phật không phải để tăng thêm sức mạnh, thêm can đảm để đối phó với kẻ thù. Cho nên trong Phật giáo trải qua hơn 2.500 năm, không hề có chuyện một đoàn quân lâm trận giương cao biểu tượng hay hình Đức Phật để hăng máu, can đảm xông lên chém giết kẻ thù.

3. Niệm Phật không phải là để van xin Phật ban cho một giải pháp để giải quyết một tình thế khó khăn.

4. Niệm Phật không phải để xin Phật ban bố phép mầu, vặn cổ kẻ thù giúp chúng ta.

5. Niệm Phật không phải là quỵ lụy khóc than, trở nên hèn kém đối với Phật.

6. Niệm Phật không phải xin Phật chỉ lối, đưa đường cho chúng ta buôn may, bán đắt.

7. Niệm Phật không phải để dông dài kể lể, tâm sự chuyện kín, chuyện riêng tư với Phật.

8. Niệm Phật không giống như cầu nguyện, van vái thần linh.

9. Niệm Phật không phải để trở nên đời đời kiếp kiếp làm tôi đòi cho Phật.

10. Niệm Phật nhất thiết không phải để quên đời.

 Những cái Có trong niệm Phật

1. Niệm Phật để tâm hồn thanh thản.

2. Niệm Phật để an trụ tâm. Đang nóng nảy, niệm Phật lòng dịu hẳn xuống. Đang thù hận, niệm Phật hận thù hóa giải. Đang tham lam, niệm Phật bớt tham…

3. Niệm Phật để không cho niệm ác nảy sinh. Nếu niệm ác đã nảy sinh thì không cho nó phát triển.

4. Niệm Phật để giữ gìn thân-khẩu-ý.

5. Niệm Phật là phương thuật giữ gìn Chánh niệm.

6. Niệm Phật tới vô niệm chính là Thiền.

7. Niệm Phật để nuôi dưỡng lòng Từ bi.

8. Niệm Phật để trở thành Phật chứ không phải trở thành nô lệ hay tôi tớ cho Phật.

9. Niệm Phật cũng là phép trị liệu, bảo vệ sức khỏe.

10. Niệm Phật để giải trừ bớt ác nghiệp gây tạo trong quá khứ.

11. Niệm Phật để lúc lâm chung chẳng còn lo sợ, chẳng cần phải nhờ ai cứu rỗi, một mình thẳng tiến lên Cực lạc của Phật A Di Đà.

12. Càng niệm Phật đầu óc càng sáng suốt, lòng dạ thảo ngay, tâm tính hiền từ.

13. Kẻ ác khẩu, nói năng hung dữ chuyên niệm Phật sẽ giải trừ được khẩu nghiệp.

14. Niệm Phật khiến lời nói dịu dàng, khiếm tốn do đó không gây thù chuốc oán, không bị "vạ miệng".

15. Mặt mày hung dữ, niệm Phật trở nên hiền từ, dễ coi. Niệm Phật để chuyển nghiệp.

16. Niệm Phật khiến đi đứng dịu dàng, cử chỉ khoan thai.

17. Niệm Phật có thể ngăn chặn được cám dỗ điên cuồng.

18. Chán nản, thất vọng não nề, cùng đường không lối thoát muốn tự tử chết cho rồi, niệm Phật khiến tâm địa bình ổn từ đó mà tìm ra giải đáp hợp lý.

19. Lâm vào vòng lao lý, tù tội, mỗi tối nên ngồi ở tư thế "bán già", xoay mặt vào tường niệm Phật khoảng nửa tiếng đồng hồ, sẽ thấy tâm hồn thanh thản, thời gian ở tù qua nhanh, không phạm thêm tội lỗi, may mắn ân xá, giảm án sẽ tới. Nhờ niệm Phật mà sau khi ở tù ra lấy lại tự tin để xây dựng cuộc đời mới.

20. Niệm Phật khiến ta bình tĩnh, không lao vào chuyện thị phi, khiến sau này hối không kịp.

21. Niệm Phật có thể trở thành Thánh tăng, đạt tới trạng thái bất động, nhập đại định. Ngọn lửa và trái tim của Bồ tát Thích Quảng Đức là minh chứng hùng hồn nhất. Đó là công năng của niệm Phật chứ Ngài chẳng có phép mầu nhiệm của thần linh nào hết.

Sự cảm ứng và thành tựu khi chuyên trì niệm Phật:

Tại sao niệm Phật lại có oai lực nhiệm mầu như vậy?

Niệm Phật phát xuất từ pháp môn Tịnh độ, theo kinh A Di Đà. Người niệm Phật luôn được chư Phật gia hộ. Chúng ta hãy nghe lời Phật dạy ngài Xá Lợi Phất:

"Này Xá Lợi Phất, ý ông thế nào? Sao gọi kinh này là Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm? Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam hay thiện nữ, nghe kinh này rồi mà chịu nhớ lấy, cả những danh hiệu, chư Phật sáu phương nghe rồi nhớ lấy, thì thiện nam ấy, thiện nữ ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm và được tới cõi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề thối chuyển"(1).

Chính vì thế mà khi chúng ta cất tiếng niệm "Nam mô A Di Đà Phật" hoặc "A Di Đà Phật" thì chư Phật sáu phương cùng hoan hỷ và hết lòng trợ lực. Hơn thế nữa, vì hào quang của A Di Đà Phật chiếu xuyên suốt không chướng ngại, cho nên dù ở đâu, khi chúng ta niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì Ngài cũng sẽ hộ trì cho chúng ta đạt mục đích và không thoái chuyển.

Còn trong pháp hội ở núi Kỳ Xà Quật, ông trưởng giả Diệu Nguyệt từ trong đại chúng đứng lên khẩn thiết thưa thỉnh Phật như sau:

"Như Đức Thế Tôn từng chỉ dạy, đời mạt pháp các chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề cang cường, ngỗ nghịch, tâm tạp, nghiệp nặng, mê đắm ngũ dục, không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết cung kính sư trưởng, không thực lòng quy y Tam bảo, thiếu năng lực thọ trì năm giới cấm, làm đủ mọi chuyện tệ ác, phỉ báng Thánh nhân v.v… Cho nên con suy gẫm như thế này, phải có một môn tu thật đơn giản, thật tiện lợi nhất, dễ dàng nhất để tất cả những chúng sanh kia khỏi đọa vào các đường ác, chấm dứt luân chuyển sanh tử trong ba cõi, được thọ dụng pháp lạc, sớm bước lên địa vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác". Đức Phật đã dạy như sau:

"Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát-na tâm sanh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn pháp niệm Phật. Này Diệu Nguyệt cư sĩ, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, đủ lòng tin, thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được y báo và chánh báo của Phật A Di Đà ở cõi Cưc lạc". Và Đức Phật nhấn mạnh thêm "Đây là môn tu Đại Oai lực, Đại Phước đức"(2).

Ngay các bậc thượng thủ như Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền cũng đều niệm Phật, Thiền sư Bách Trượng (720-814) cũng phải nhận định rằng "Tu hành, dùng pháp môn Niệm Phật là vững vàng nhất"(3).

Những oai lực nhiệm mầu và phước đức của phép niệm Phật nói ở trên thuộc về mặt kinh điển và tín niệm. Còn về phương diện lý giải khoa học thì khi chúng ta chí tâm, chí thành niệm Phật thì chúng ta sẽ phát huy hết năng lực của trí tuệ, tâm đại bi, sự dũng mãnh của chính mình. Đạt tới trạng thái này rồi thì ung dung tự tại, không còn lo sợ gì nữa.

Thực hành niệm Phật

- Buổi tối nên niệm Phật.

- Trước khi đi ngủ nên niệm Phật cho đến khi nào đầu óc thanh thản để từ từ đi vào giấc ngủ.

- Sáng thức dậy nên niệm Phật, dù vài câu, bởi vì sau giấc ngủ dài đầu óc con người thường hôn trầm. Niệm Phật vào đầu sớm mai cũng là dấu hiệu bắt đầu một ngày mới tốt lành.

- Khi nào thấy buồn chán nên niệm Phật.

- Thấy mất tự tin nên niệm Phật.

- Thấy lòng xao xuyến nên niệm Phật.

- Thấy có thể bị cám dỗ nên niệm Phật.

- Thấy thời gian kéo dài, vô vị nên niệm Phật.

- Gặp rắc rối về pháp lý nên niệm Phật để bình tĩnh ứng phó.

- Bị ai chọc giận, công kích nên niệm Phật.

- Tại đám đông tụ họp, ăn uống, vui chơi, thấy người ta nói chuyện "vô duyên", tào lao, nhảm nhí mất thì giờ, nên niệm Phật để không dây dưa vào chuyện vô ích.

- Các em khi vào thi, nên niệm Phật để đầu óc thanh thản, bình tĩnh. Thiếu bình tĩnh, quá lo âu, xao xuyến đưa đến việc không đọc kỹ câu hỏi, đề tài, tính toán sai, lạc đề v.v…

- Đêm khuya thanh vắng một mình trên tàu, xe, trên sông nước nên niệm Phật.

- Khi bệnh tật, đau ốm nằm nhà thương nên niệm Phật để không mất tinh thần, không sợ chết. Càng rên la, càng mất tinh thần, càng chết sớm, càng làm khổ gia đình.

- Nếu niệm Phật kết hợp với theo dõi hơi thở thì công năng rất lớn chẳng khác gì thiền định vậy.

An vui và tự tại: Niệm Phật miễn phí, không phải trả tiền mà cũng không bị đóng thuế, đem lại tốt lành cho đời tại sao chúng ta không thử xem? Xin quý vị mạnh dạn thực hành. Nếu thấy chẳng công hiệu gì cả thì bỏ đi cũng chẳng mất mát gì. Đức Phật cũng chẳng phiền trách hay trừng phạt bạn. Cuối cùng, xin thưa rằng như chúng ta đây - những con người gọi là trần tục, hưởng tất cả những lạc thú của kiếp người mà vẫn cảm thấy lo âu, xao xuyến, bất an và lo sợ ngày mai. Trong khi đó, hàng ngàn Tăng/Ni trên khắp thế giới, sống đời âm thầm, đơn sơ, đạm bạc, không gia đình, không của cải, không danh vọng, không quyền thế, không lạc thú trần gian như chúng ta…thế mà các vị lúc nào tâm hồn cũng thanh thản, cử chỉ dịu dàng, giới hạnh trang nghiêm, miệt mài đi tới mục đích cuối cùng: Giải thoát cho chính mình và cứu độ chúng sinh.

Tại sao những vị này có thể "hy sinh" và sống đời cao thượng đến như thế? Các ngài có gì bí mật chăng? Xin thưa, quý ngài chẳng có gì bí mật nào cả. Các ngài cũng chẳng có phép màu hoặc sự che chở của bất cứ thần linh mầu nhiệm nào cả. Hành trang duy nhất mà các ngài mang theo là giáo lý của Đức Phật và phương tiện tiến tu là thiền định hoặc tụng kinh, niệm Phật.

Để nghiên cứu thấu đáo hơn về pháp môn Niệm Phật, quý bạn có thể tham khảo Tông chỉ pháp môn Tịnh độ của HT.Thích Trí Tịnh soạn, Niệm Phật thập yếu và Kinh Niệm Phật Ba-la-mật do HT.Thích Thiền Tâm dịch, Một đời vãng sanh, chấm dứt luân hồi của HT.Tịnh Không. Kính chúc quý bạn thành công. Thành công ở đây có nghĩa là an vui và tự tại - một giá trị to lớn không gì đối sánh được trên thế gian này.

TG: Đào Văn Bình
Ảnh Minh họa: Tập ảnh Vương Thu Phương Quy y cửa Phật
(1) A Di Đà kinh yếu giải, HT.Tuệ Nhuận (2) Kinh Niệm Phật Ba-la-mật (3) Một đời vãng sanh, chấm dứt luân hồi

VLCĐ: Ở cõi Diêm La có mười vị vua cai quản, có nhiệm vụ và công việc khác nhau để xem xét người chết lúc còn sống trên thế gian đã phạm vào những tội lỗi  gì mà có hình phạt thích đáng. Muốn tránh khỏi hình phạt ở địa ngục chỉ có cách là phát lòng thành tâm niệm Phật để cầu vãng sinh, lập thệ nguyện hoằng pháp lợi sinh, làm nhiều việc công đức để được tiếp dẫn cứu độ mà thôi

1. Nhất Điện: Tần Quảng Vương cầm sổ sống chết.
2. Nhị Điện: Sở Giang Vương coi Đẳng Hoạt Địa Ngục
3. Tam Điện: Tống Đế Vương coi Hắc Thằng Đại Địa Ngục
4. Tứ Điện: Ngũ Quan Vương coi Chúng Hiệp Đại Địa Ngục
5. Ngũ Điện: Diêm La Vương coi Khiếu Hoán Địa Ngục
6. Lục Điện: Biện Thành Vương coi Đại Khiếu Hoán Địa Ngục
7. Thất Điện: Thái Sơn Vương coi Nhiệt Não Địa Ngục
8. Bát Điện: Đô Thị Vương coi Đại Nhiệt Não Địa Ngục
9. Cửu Điện: Bình Đẳng Vương coi ATỳ Địa Ngục.
10. Thập Điện: Chuyển Luân Vương cho đi đầu thai.

1. Nhất Điện Tần Quảng Vương:
 (Tần Quảng Vương ở Điện thứ nhất)

Quản lý sổ sách ghi chép về tuổi thọ của con người, quản lý hết tất cả việc lành  dữ của cõi U Minh. Cung điện của Ngài ở bên dưới tầng đá ngầm đáy biển, nằm về hướng Tây của hắc lộ suối vàng.
Nếu người chết là người có làm việc thiện, thì được tiếp dẫn vãng sinh ngay. Còn nếu người chết là nam hay nữ  mà công tội ngang nhau, thì được đưa đến Điện thứ mười cho đi đầu thai, có thể nam chuyển thành nữ hay ngược lại, tùy theo nghiệp của mỗi người mà định. Nếu làm ác có ít, thì đưa vào một điện có đài cao, gọi là “Nghiệt kính (cảnh) đài”. Đài này cao một trượng, xung quanh có kiếng, treo ở hướng Đông, trên biển có đề câu: “Trước Đài Nghiệt Cảnh không người tốt”. Hồn người chết sẽ thấy lại tất cả những việc mình đã làm khi sống, bao nhiêu tội lỗi đã gây tạo, nay phải chịu sa xuống Địa Ngục chịu sự trừng phạt. Lúc này thì dù “vàng ròng cũng khó đổi” được. Sau khi xem hết các tội lỗi rồi thì chuyển qua Điện thứ hai để thọ hình phạt theo tội đã gây ra.

*Như người lúc còn sống, chẳng kính trời đất, không nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mà báo đáp, hỗn hào cãi lệnh  cha mẹ, coi thường mệnh sống, tự ải tự vẫn (thắt cổ tự tử), uống thuốc độc hoặc nhảy sông mà chết. Những người chết như thế,  ngoại trừ do bảo vệ trung hiếu tiết  nghĩa mà có hành động như vậy, tất cả người do vì sân hận, hoặc vì lý do không đáng mà tự tử, hoặc do muốn hù dọa người mà lộng giả thành chân …mà chết (thì đều phải chịu trừng phạt).

*Các vị thần Môn Táo (cửa và bếp) sẽ giải những hồn này vào điện để chịu sự đói khát, từ chập tối đến nửa đêm (giờ tuất và hợi)  phải chịu sự đau đớn sống chết. Hình phạt kéo dài hoặc 70 ngày hoặc hai, ba năm, rồi đưa hồn trở về quê quán để gặp vợ (chồng) con, nhưng không được hưởng cơm canh tiền bạc (do thân nhân cúng). Nếu người đó biết ăn năn tội lỗi thì không còn hiện những hình ảnh ghê sợ cho người, dọa nhát người đời nữa. Trải qua thời gian trừng phạt này rồi, thì thần Môn Táo lại giải xuống điện cũ để chuyển tiếp Điện thứ hai, tra xét công tội để áp dụng hình phạt thích đáng nơi ngục đó. Nếu khi sống có làm việc thiện thì có phần miễn giảm, còn toàn làm ác thì quỉ mặt xanh sẽ áp giải đến ngục khác chịu hình phạt, nếu quá nặng thì cho xuống đại Địa Ngục ATỳ, mãi mãi chịu hình phạt không cho tái sinh nữa.

Những kẻ khi sống làm nghề “thợ tụng”, tụng kinh cầu nguyện  cho người mà gian lận, bớt lời bớt chữ trong kinh (tụng nhận lớp) thì đưa sang “Bổ Kinh Sở” (nơi tụng kinh thêm cho đủ số). Nơi đây, có để kinh điển, thắp một cây đèn dầu leo lét, khi mờ khi tỏ không thể tụng đọc nhanh được. Mà khi tụng, bỏ sót một chữ sẽ bị quỉ sứ đánh đòn nên không dám sai trái. Những người này, dù ở thế gian thân nhân có rước bao nhiêu thầy đến hộ niệm đi nữa thì tội cũ vẫn không giảm được. Chỉ có trường hợp, chính người thân thiết đó, hết sức thành tâm tụng đọc, ra sức làm điều thiện và cúng lễ thần thánh, dù đọc kinh trì chú không hay miễn có đủ tâm thành thì có cảm ứng. Lúc ấy, vào sáu ngày lành mỗi tháng, sẽ có “Thần chỉ” đưa đến mà giảm tội cho.

Muốn tránh khỏi hình phạt ở địa ngục chỉ có cách là phát lòng thành tâm niệm Phật để cầu vãng sinh, lập thệ nguyện hoằng pháp lợi sinh, làm nhiều việc công đức …thì khi vãng sinh được Chư Phật và Thánh chúng  tiếp dẫn cứu độ mà thôi !
*Vào ngày mùng 1 tháng hai (là ngày thánh đản của Nhất Điện Tần Quảng Vương), tụng kinh sám hối, tụng kinh Thái Ất Cứu Khổ và thực hành làm lành sẽ được Ngài phù hộ.
2. Nhị Điện Sở Giang Vương
 (Sở Giang Vương ở Điện thứ hai)

*Ngục này nằm ở đáy biển, dưới tầng đá ngầm phía chính Nam, gọi là địa ngục Đẳng Hoạt.

Gồm có 16 địa ngục nhỏ như sau:
1. Hắc Vân Sa Tiểu Địa Ngục. (cát mây đen)
2. Phẩn  Niệu Nê Tiểu Địa Ngục. (phẩn, nước tiểu, bùn)
3. Ngũ Xoa Tiểu Địa Ngục. (cây chĩa năm răng)
4. Cơ Ngạ  Tiểu Địa Ngục. (đói )
5. Tiêu Khát Tiểu Địa Ngục. (khát)
6. Nùng Huyết Tiểu Địa Ngục. (chảy  máu tươi)
7. Đồng Phủ Tiểu Địa Ngục. (búa đồng)
8. Đa Đồng Phủ Tiểu Địa Ngục. (nhiều búa đồng)
9. Thiết Khải Tiểu Địa Ngục. (giáp bằng sắt)
10. U Lương  Tiểu Địa Ngục. (tối tăm)
11. Kê Tiểu Địa Ngục. (gà cắn mổ)
12. Hôi Hà Tiểu Địa Ngục. (tro than, sông nước)
13. Chước Tiệt Tiểu Địa Ngục. (chặt cắt)
14. Kiếm Diệp Tiểu Địa Ngục. (kiếm bén)
15. Hồ Lang Tiểu Địa Ngục. (chồn sói)
16. Hàn Băng Tiểu Địa Ngục. (băng lạnh)

*Người thế gian phạm vào tội lừa gạt thiếu niên nam nữ, buôn bán trẻ em, cưỡng đoạt thân thể đoạt tài sản của chúng, không rõ nghề bốc thuốc cho người làm tổn hại đến mắt, lỗ tai, tay, chân của họ, không tha đầy tớ gái già, tham cầu lợi lộc mà làm mai mối hôn nhân, dấu giếm (khai gian) tuổi tác, đến nhà người sinh sự, nam nữ làm điều dối gian, nói không thật lời. Phạm tội loạn luân. Làm quan ăn của hối lộ…

Những người này khi chết, sau khi ở Nghiệt Cảnh Đài đã tra ra tội phạm nhiều ít, thời gian phạm lâu mau, có cố ý hay vô tình …thì cho quỷ tóc đỏ răng nanh dẫn đi đến địa ngục nhỏ tương ứng để thọ tội.

Thí dụ như: Phạm tội loạn luân, bị cắt (thiến) thận, làm quan tính kế đảo điên, ăn hối lộ, bị nhốt trong hỏa xa, đêm vắng toan mưu dối, bị cát mây đen đè mình, xúi trẻ thơ lầm lỗi bị cầm trong ngục giá lạnh. Mãn kỳ thọ tội này thì chuyển sang ngục thứ ba để định tiếp.

Người nào trên thế gian thường biết nói điều hay trong kinh Ngọc Lịch để giáo hóa người khác hoặc ấn tống kinh điển giúp người giác ngộ, thương yêu chúng sinh, dạy dỗ điều lành tốt cho trẻ em, không tàn hại côn trùng, làm các việc thuốc men cho người bệnh, cơm cháo cho người nghèo đói, giúp tiền bạc để cứu giúp người nghèo khổ, biết ăn năn tội lỗi đã lỡ gây tạo thì được miễn trừng phạt nơi ngục này, mà đưa thẳng xuống Điện thứ mười để đầu thai kiếp khác.

*Vào ngày mùng 01 tháng 3 tụng kinh Thái Ất Cứu Khổ thực hành làm thiện, hành thiện phóng sinh, thì được Ngài Nhị Điện Sở Giang Vương phù hộ.

3.  Tam Điện Tống Đế Vương:
 (Tống Đế Vương ở Điện thứ ba)

Ngục này nằm dưới tầng đá ngầm hướng Đông Nam đáy biển, tên gọi là “Hắc Thằng Địa Ngục” (dây đen).

Có tất cả 16 địa ngục nhỏ như sau:
1.Hàm Lỗ Tiểu Địa Ngục. (muối mặn)
2. Ma Hoán Già  Nữu tiểu Địa Ngục. (gông xiềng)
3. Xuyên Lặc Tiểu Địa Ngục. (xỏ gân)
4. Đồng Thiết Quát Kiểm Tiểu Địa Ngục. (đồng sắt nạo gò má)
5. Quát Chi  Tiểu Địa Ngục. (nạo chảy mỡ)
6. Kiềm Tễ Tâm Can Tiểu Địa Ngục. (đóng vào tim gan)
7. Oát Nhãn Tiểu Địa Ngục. (móc  mắt)
8. Sản Bì Tiểu Địa Ngục. (phanh da)
9. Nguyệt Túc Tiểu Địa Ngục. (cắt chân)
10. Bạt Thủ Cước Giáp Tiểu Địa Ngục. (rút móng tay chân)
11. Hấp Huyết Tiểu Địa Ngục. (hút máu)
12. Đảo Điếu Tiểu Địa Ngục. (treo ngược rút lên)
13. Phân  Tuỷ Tiểu Địa Ngục. (xẻ xương tủy)
14. Thư Chú Tiểu Địa Ngục. (ăn giòi bọ)
15. Kích Tất Tiểu Địa Ngục. (đánh vào đầu gối)
16. Bà Tâm Tiểu Địa Ngục. (bóp trái tim)

*Người lúc còn sống khi làm quan, chẳng nghĩ ơn đức lớn lao của vua (đất nước), mệnh sống người dân là quan trọng, chỉ biết hưởng thụ lợi lộc mà không làm tròn bản phận, chẳng màng  dân chúng khổ sở đói rét. Người dân thường thì thấy lợi bỏ quên ân nghĩa, chồng bất nghĩa, vợ chẳng hòa thuận, làm con nuôi của người thọ lãnh ân huệ của họ mà vì muốn chiếm đoạt tài sản sinh ra vong ân bội nghĩa, đày tớ mà phụ ơn chủ nhà, binh lính phụ ơn của người chỉ huy, công nhân phụ ơn nghĩa của giám đốc, hoặc phạm tội vượt ngục hoặc quân nhân đào ngũ,  không làm tròn chức trách của trên giao phó…Phạm những lỗi trên mà không chịu sám hối thì tuy có làm điều lành đi nữa cũng không bớt được tội cũ (phải có sự ăn năn sám hối mới được)

Thêm nữa, những vị thầy sư sãi coi xem nhà cửa mồ mã cho người, học không đến nơi đến chốn, làm sai lệch mà lấy tiền người. Hoặc đào mồ cuốc mã thiên hạ, chiếm đất nghĩa địa. Hoặc dụ dỗ người làm việc phi pháp.

Giết người lấy của, đi săn bắn, bị cọp xé thây, gian dâm vợ người, sửa chữa giả mạo giấy tờ, người có chuyện di chúc, gởi gắm mình mà mình không chịu thực hiện, đốt phá nhà cửa người, đòi nợ xiết của người khác, làm sách giả nguy hại đời sau…

Sau khi tra xét tường tận, sẽ cho Đại Lực Quỷ đưa vào tiểu ngục thích ứng  chịu trừng phạt theo tội lỗi đã làm. Thọ hết hình phạt, lại chuyển sang ngục thứ tư để tra xét tiếp.

*Ngày mùng tám tháng hai,  tụng kinh Thái Ất Cứu Khổ và thực hiện việc làm lành, tụng kinh sám hối nếu lỡ gây ra những  tội đã  nêu trên, thì sẽ được Ngài  Tam Điện Tống Đế Vương hộ trì miễn giảm tội khiên.

4. Tứ Điện Ngũ Quan Vương :
(Ngũ Quan Vương ở Điện thứ tư)

Ngục thứ tư nằm ở dưới tầng đá ngầm biển, ở về hướng Đông. Ngục này có tên là “Chúng Hợp Địa Ngục” (đối xử với người).

Có 16 tiểu ngục là:
1. Thạch Trì Tiểu Địa Ngục. (ao có bờ vách bằng đá)
2. Miêu Luyện Trúc Tiêm Tiểu Địa Ngục. (rớt xuống bàn chông tre)
3. Phí Thang Nhiễu Thủ Tiểu Địa Ngục. (nước sôi)
4. Chưởng Bạn Lưu Dịch Tiểu Địa Ngục. (trấn nước)
5. Đoạn  Cân  Dị Cốt Tiểu Địa Ngục. (cắt gân)
6. Yển Kiên Loát  Bì Tiểu Địa Ngục. (xẻ vai lột da)
7. Toả Phu Tiểu Địa Ngục. (căng da)
8. Tồn Phong Tiểu Địa Ngục. (ngồi trên mũi nhọn)
9. Thiết Y  Tiểu Địa Ngục. (áo sắt)
10. Mộc Thạch Thổ Ngoã Áp Tiểu Địa Ngục. (gạch ngói đá đè)
11. Kiếm Nhãn Tiểu Địa Ngục. (dùng kiếm khoét mắt)
12. Phi Hôi Tắc  Khẩu Tiểu Địa Ngục. (nhét tro bịt miệng)
13. Quán Dược Tiểu Địa Ngục. (rót thuốc)
14. Du Đậu Hoạt Trật Tiểu Địa Ngục. (đi đường đổ dầu trơn trợt cho ngã )
15. Thích  Chuỷ Tiểu Địa Ngục. (đâm vào miệng)
16. Toái Thạch Mai  Thân Tiểu Địa Ngục. (đá đè chôn thân)

*Người sống ở thế gian mà trốn sưu lậu thuế, không nộp tô tức, dùng hai cái cân để gian lận, lường thưng tráo đấu, bào chế thuốc giả, bán gạo ẩm mốc, xài tiền giả, tráo xén bớt tiền, bán dầu bột quá hạn, may vá ăn xén vải vóc, cho vay ăn lời quá vốn, đi đường gặp người già tàn tật không nhường bước, bắt người khác phục dịch quá đáng, nhận thư tín tin tức người nhờ chuyển mà không sớm chuyển giao, lăn cây đá chặn đường đi, lấy trộm dầu thắp đèn đường, nghèo mà không chịu siêng năng làm ăn lại chê trách người, giàu mà không cứu giúp kẻ khó, giả bộ đi mượn tiền để người khác khỏi mượn mình, làm bộ đói rách để xin của người, thấy người khác bệnh nhà mình có thuốc (sách, bài thuốc hay) mà không cho, dấu diếm thuốc gia truyền để làm giàu, chăn nuôi súc vật đổ phân, nước tiểu ra đường làm hôi thúi người đi đường, đổ rác ra giữa đường đi, trù ếm làm hại người, bỏ cha mẹ trốn lánh tự tử, bỏ  hoang ruộng đất, làm cây cối ngã sập nhà, tường người, phách lối mắng nhiếc người …

Sau khi tra xét kỹ, tùy theo tội lỗi mà đưa vào địa ngục thích ứng để chịu sự trừng phạt khổ sở, mãn hạn chuyển sang Địa ngục thứ năm để tra xét tiếp.

*Những người còn sống ở thế gian, vào ngày 18 tháng 2, tụng kinh sám hối tự hứa không tái phạm những lỗi trên nữa. Tự mình hoặc góp phần vào việc ấn tống kinh sách như Ngọc Lịch, Kinh Nhân Quả … để cảm hóa chúng sinh, cho họ biết làm lành tránh dữ, thì được Ngài Tứ  Điện Ngũ Quan Vương phù hộ và miễn giảm tội cũ trót lỡ gây ra.

 5.  Ngũ Điện Diêm La Vương :
(Diêm La Vương ở Điện thứ năm)

*Vua Diêm La nói rằng:“Trước đây ta ở Điện thứ nhất, vì thương hại người chết than thở là chưa làm tròn nguyện ước, ta cho họ hoàn dương sống lại để làm cho xong, nên bị Thượng Đế điều sang cai quản ở đây. Ngục này tên là ngục "Khiếu (Kiếu) Hoán" (kêu la rên xiết), nằm dưới tầng đá ngầm đáy biển ở hướng Đông bắc. Có tất cả 16 Tiểu Địa Ngục đều gọi là "Đẳng Tâm" (chặt đứt trái tim).

Những phạm nhân trước khi đưa đến đây đều trải qua thời gian thọ tội nhiều năm ở ngục khác. Nơi ngục thứ tư, việc tra xét không quá bảy ngày rồi chuyển sang đây, để khai thêm về những việc không làm ác lúc còn sống. Phần lớn, các hồn quỷ thường khai rằng: "Trên thế gian chưa làm xong nguyện vọng như xây cất đền, miếu, viện, đào giếng vét sông, làm chưa xong việc ấn tống kinh điển khuyến thiện, hoặc phóng sinh chưa xong, hoặc chưa lo xong việc chuẩn bị hậu sự cho song thân, hoặc mang ơn chưa kịp đền đáp, xin cho được trở về để hoàn thành tâm nguyện, hẹn chẳng sai lời, hứa sẽ làm người tốt". Ta nghe như thế, bèn nói:“Các ngươi, lúc trước có làm ác hay không, quỷ thần đã biết, hãy thành thật nhận tội đi. Nếu cõi âm ty không có quỷ oán hận thì lúc ở dương gian là không có người oán hờn. Người tu hành chân chính ở thế gian không có nhiều đâu. Nay đã đến đây, ta sẽ cho xem ở Nghiệt Cảnh thì biết hết sự thật rồi, đừng nói nhiều lời nữa!". Nói rồi, ta sai ngưu đầu mã diện giải phạm nhân đến “Đài  Vọng Hương” để nhìn về quê xưa của họ. Đài này cong như cây cung, có ba mặt đông, tây và nam. Chiều cong dài tám trăm mười dặm, còn phía bắc thì có một rừng kiếm làm thành trì. Đài này cao bốn mươi chín trượng, có núi đao tua tủa. Bậc thang có sáu mươi ba cấp. Những người lương thiện thì khỏi bắt lên đài này, người công và tội bằng nhau thì được cho đi đầu thai. Chỉ có những kẻ làm ác thì phải lên mà thôi. Lên trên đài này rồi, thì sẽ thấy quê nhà kế bên, người thân nói gì cũng nghe thấy. Nghe được những lời con cháu tranh giành của cải tài sản, không chịu thực hiện di chúc, không thực hiện lời dặn dò trăn trối. Kế thấy những cảnh thay đổi sau khi mình chết, sự vật khác xưa, mỗi mỗi đều thay, chẳng còn gì là của mình. Người thân là chồng thì muốn cưới vợ khác, người thân là vợ thì muốn lấy chồng khác, con cái thì tranh nhau tài sản, đánh lộn đánh láo, chửi mắng nhau. Bà con thân thiết và bạn bè cũng chẳng ai nhớ đến mình, con cái nheo nhóc khổ sở v.v…Thấy những cảnh ấy rồi, những hồn người chết la khóc inh ỏi, dập đầu đập trán, nhào lộn tức tối, đau khổ muôn phần…Như thế rồi lại nhìn thấy tiếp những cảnh tượng người thân bị trả quả báo (của mình gây ra) như là: Trai bị bắt giam, nữ thì sinh quái thai, con trai bị dụ dỗ sa đọa, con gái bị gian dâm. Sự nghiệp của mình bị tiêu tan, nhà cửa bị cháy rụi, tất cả trong nhà đều bị tiêu sạch…khi ấy quỷ hồn hối hận ăn năn thì đã quá muộn.

Sau đó, cho trở về trong điện để tra xét tiếp rồi tùy theo tội lớn nhỏ nhiều ít lâu mau … mà đưa đến các Tiểu Địa Ngục để chịu sự trừng phạt. Trong các Tiểu Địa Ngục này, có các cọc gỗ nhọn, chó sắt, rắn đồng, gông xiềng tay chân. Quỷ dùng con dao nhỏ, mổ một đường ở bụng, vạch bày ra trái tim, cắt xẻ ra từng miếng để ném cho rắn ăn, ruột thì cho chó ăn. Chịu sự trừng phạt một ngày, thì chỗ mổ lành lại, đem giam vào ngục để sau hành hạ tiếp.

Các Tiểu Địa Ngục là:
1. Người chẳng kính quỷ thần, không tin vào nhân quả sẽ đưa vào  Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
2. Giết hại sinh vật cũng cho vào Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
3. Có lời vái nguyện mà chưa cúng trả lễ: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
4. Theo học tà thuật mong cầu được trường sinh: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
5. Hận người trù rủa cầu cho người mau chết: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
6. Mưu tính kế hại người: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
7. Người nam mà dụ dỗ người nữ vào con đường thất tiết: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
8. Làm việc tổn hại người lợi mình: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
9. Bỏn xẻn tiếc nuối tài vật mà chẳng màng sống chết: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
10. Nuôi nấng người rồi cho đi ăn trộm: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
11. Lấy oán báo ân: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
12. Đam mê cờ bạc táng gia bại sản: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
13. Lừa gạt người: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
14. Dùng lời nói sai quấy xúi bảo người làm bậy: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
15. Có tâm ganh ghét người hiền: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.
16. Hay mắng nhiếc người: Đẳng Tâm Tiểu Địa Ngục.

*Những người không tin nhân quả, cản trở người làm việc lành, mượn tiếng đi chùa miếu dâng hương để xúi biểu người làm quấy, thiêu đốt kinh sách dạy người làm lành, xúi người phá giới, ngăn cản người làm ác biết ăn năn sám hối, biết đạo mà không giữ giới, phỉ báng Thần, chẳng chịu nghe theo lời dạy đạo tu hành, mà còn xúi bảo người khác đi vào đường sai quấy như mình, đào mồ cuốc mả người khác, thiêu đốt rừng núi, cho gia đình di chuyển trước rồi đốt nhà phá xóm giềng, dùng cung tên súng đạn bắn lén người, bức ép người khác khiến họ rầu rĩ mà sinh bệnh, ném đá, gạch ngói lên mái nhà người, dùng thuốc độc hại cá, giăng lưới bắt chim, dùng muối tưới cây cỏ chết, thả rắn rết độc trùng làm hại người đến chết, giả mạo chức tước để hại người, chiếm đoạt nhà đất người, lấp giếng ngăn chận mương rãnh phá hoại nhà người …

Những kẻ phạm vào những tội lỗi trên, cho lên Vọng Hương Đài để xem hết những tội đã phạm cùng hậu quả báo ứng, rồi cho vào địa ngục Khiếu Oán, để họ tự ăn năn dày vò, đau khổ, khóc than một mình. Kế đó mới tùy theo tội mà chuyển đến Tiểu Địa Ngục thích ứng mà hành tội tiếp. Thọ tội xong, chuyển đến Điện thứ sáu để tra xét tiếp.
Những người khi còn sống không phạm những tội đã nêu hoặc lỡ phạm mà vào ngày mùng 8 tháng giêng, tụng kinh sám hối, phát thệ không tái phạm, thì được miễn hình phạt ở ngục thứ năm này, chuyển sang ngục thứ sáu xem xét.

Nhưng người phạm vào các tội: Giết người hại con vật lớn, theo bè đảng tà ngụy, gian dâm phụ nữ, bắt ép vợ người phải thất tiết, nuôi người trộm cắp, những kẻ lấy oán báo ân, những người si mê chấp chặt không chịu ăn năn sửa đổi, thì không được tha thứ miễn giảm.

 6. Lục Điện Biện Thành Vương:
(Biện Thành Vương ở Điện thứ sáu)

*Ngục này nằm dưới tầng đá ngầm đáy  biển ở về hướng chính Bắc, tên là “Đại Khiếu Hoán”, nghĩa là tội nặng hơn, bị hình phạt nặng nên khóc la lớn tiếng hơn ngục thứ năm.

Có 16 Tiểu Địa Ngục là:
1. Thường Quị  Thiết Sa Tiểu Địa Ngục. (cát bằng sắt bắn vào người làm ngã ngã)
2. Thỉ Nê Tẩm Thân Tiểu Địa Ngục. (tẩm thân thể bằng phân, nước tiểu)
3. Ma Tồi Lưu Huyết Tiểu Địa Ngục. (mài ép cho chảy máu)
4. Kiềm Chuỷ Hàm Châm Tiểu Địa Ngục. (ngậm kim châm,kẹp miệng)
5. Cát Thận Thử Giảo Tiểu Địa Ngục. (cắt thận cho chuột ăn)
6. Cức Võng Huỳnh ToảnTiểu Địa Ngục. (nằm trong lưới gai bị trùng độc cắn đốt đau đớn)
7. Đối Đảo Nhục Tương Tiểu Địa Ngục. (cối quết thân thể nát bằm)
8. Liệt Bì Kỵ  Lôi Tiểu Địa Ngục. (lột da căng phơi)
9. Hàm Hoả Bế Hầu Tiểu Địa Ngục. (lửa đốt trong cổ họng)
10.Tang Hoả  Phí Hồng Tiểu Địa Ngục.(lửa đốt cháy thân)
11.Phẩn  Ô Tiểu Địa Ngục. (ăn phân)
12. Ngưu Điêu Mã Thao Tiểu Địa Ngục. (trâu đạp ngựa dậm)
13. Phi Khiếu Tiểu Địa Ngục. (oằn oại rên la)
14. Táng Đầu Thoát Xác Tiểu Địa Ngục. (đập đầu cho chết)
15. Yêu Trảm Tiểu Địa Ngục. (chém ngang lưng)
16. Bác  Bì Tuyên Thảo Tiểu Địa Ngục. (lột da phơi trên cỏ)

*Những người khi còn sống, chửi mắng trời đất, chửi gió mắng mưa, chê nóng trách lạnh, phá hủy hình tượng thánh thần, ăn cắp của cải đền miếu, xưng thần thánh gạt người, chẳng kính trọng kinh sách, đem đồ dơ bẩn đổ gần đền miếu, làm ô uế đền miếu, cúng tế thánh thần bằng những đồ nấu nướng không tinh khiết, chẳng chịu kiêng cử thịt trâu chó, chứa dấu những sách vở đồi bại, phá hủy sách vở khuyến thiện, phá hủy tượng bát quái, tượng thần thánh, chân nhân, kêu tên thần thánh không chút dè dặt, hủy hoại ngũ cốc, ăn uống bỏ thừa. Đầu cơ tích trữ để làm giàu…
Những tội trên đều bị trừng phạt ở ngục Đại Khiếu Hoán này, sau khi tra xét kỹ lưỡng thì cho đến những tiểu địa ngục thích ứng mà chịu sự trừng phạt, tiếng kêu la vang trời, dậy đất, sự đau đớn khổ sở kể sao cho xiết.

Thí dụ như: bế vựa chờ giá lúa cao mới bán, để người nghèo chịu đói (bế địch trợ hoang), hoặc là gian giảo ngược ngang, bị hành bàn chông nhọn. Chửi gió mắng mưa, kêu tên Thần Thánh chẳng chút kiêng vì, bị cột trói ngược mà cưa xẻ cắt lưỡi.

Hành tội mãn hạn thì chuyển giao cho Ngục thứ bảy xem xét tiếp.

*Người nào lỡ phạm tội, biết ăn năn cải hối, vào ba ngày, 15, 16 tháng 5, phải giữ giới kiêng phòng sự, tụng kinh sám hối, thệ nguyện không tái phạm, gắng làm lành chuộc tội… thì sẽ được Ngài Biện Thành Vương cứu xét miễn giảm tội.

7. Thất Điện Thái Sơn Vương:
(Thái Sơn Vương của Điện thứ bảy)

*Ngục này nằm ở dưới tầng đá ngầm đáy biển ở về hướng Tây bắc, tên là Địa Ngục Nhiệt Não (nóng bức đau đớn trong đầu).

Gồm có 16 tiểu địa ngục là:
1.Truỳ Tuất Tự Thôn Tiểu Địa Ngục. (tự ăn năn đau khổ)
2. Liệt Hung Tiểu Địa Ngục. (rét lạnh ở ngực)
3. Địch Thối Hoả Bức Khanh Tiểu Địa Ngục. (xẻo bắp vế ném vào lò lửa)
4. Xuyên quyền kháng phát Tiểu Địa Ngục. (đâm gò má, dứt tóc)
5. Khuyển Giảo Hĩnh  Cốt Tiểu Địa Ngục. (chó ăn xương đầu gối)
7. Úc Thống Khốc Cẩu Đôn Tiểu Địa Ngục. (nhớ lỗi xưa khổ sở, bị chó nhai nuốt)
7. Tắc Đỉnh  Khai Ngạch Tiểu Địa Ngục. (đóng đỉnh đầu xẻ trán)
8. Đỉnh  Thạch Tôn  Thân Tiểu Địa Ngục. (đá sập đè thân)
9. Đoan Bảo Thượng  Hạ Trác Giảo Tiểu Địa Ngục. (chim dữ cắn mổ trên dưới)
10. Vụ Bì Trư Đà  Tiểu Địa Ngục. (lột da như da heo)
11. Điếu Giáp Túc Tiểu Địa Ngục. (rút móng chân)
12. Bạt Thiệt Xuyên Tai  Tiểu Địa Ngục. (kéo lưỡi đâm xuyên qua má)
13. Trừu Trường Tiểu Địa Ngục. (lôi ruột ra ngoài)
14. Loa Đạp Miêu Tước Tiểu Địa Ngục. (lừa đạp mèo cắn)
15. Lạc Thủ Chỉ Tiểu Địa Ngục. (cắt từng ngón tay)
16. Du Phủ Cổn Phanh Tiểu Địa Ngục. (nấu chảo dầu sôi)

*Những người lúc còn sống, ăn uống bừa bãi, bỏ thừa phung phí thức ăn, rượu thịt vô độ, nài ép người phải bán của cải cho mình, trộm cắp quần áo, dấu thây chết để làm thuốc, làm ly tán thân thích của người, mua bán tì thiếp, hiếp đáp vợ con  đến chết, cờ bạc phá của, làm thầy dạy học trò không hết lòng, dạy điều sái quấy cho học trò, truy vấn đánh đập học trò quá ngặt khiến trò bị thương tích hay sinh bệnh, tham lấy của cải hàng xóm, bội bạc sư trưởng, già mồm lẻo mép cãi lấy trấn áp người, xui giục bày biểu cho người ta tranh đấu lẫn nhau, hồ đồ không tra cứu kỹ lưỡng đã kết tội người khác…Tất cả những tội trên đều được tra xét cẩn thận ở ngục này, rồi tùy theo tội mà cho đưa vào ngục nhỏ tương thích chịu sự trừng phạt. Xong, chuyển đến Điện thứ tám để tra xét tiếp.

Những người khi còn sống, lấy cớ làm thuốc để tàn sát loài vật chứ không chịu dùng thảo mộc làm thuốc. Đàn bà chế tạo món ăn mà sát hại quá nhiều sinh vật hay món ăn mà thú nửa sống nửa chết, cũng mang lấy tội nặng. Dù có làm phúc khác, mà không chịu ăn năn giảm bớt những việc sai trái này, cũng không được bỏ qua nghiệp tội trên. Phải làm những việc tạo công đức như: Phóng sinh, cứu người, bớt sát sinh, tụng kinh, kính thần, trì chú, khuyên người tu hành làm lành, ấn tống kinh sách khuyến thiện... thì dù đã lỡ phạm tội nhưng khi chết, được các vị “Tịnh Nghiệt Sứ Giả” (làm thanh tịnh nghiệp tội đã tạo) dùng kính chiếu vào người đó, xóa bỏ nghiệp cũ, mới khỏi bị tội ở ngục thứ bảy này.

Những thầy thuốc ở nhân gian dùng những thây chết do bị lửa cháy, lấy da thịt chế thuốc, hoặc cắt lấy xương, gân, gan, mật, đầu sọ của người mà chế tạo thành thuốc cao, thuốc bột mà buôn bán… Tội ấy không thể tha thứ ở ngục này, dẫu có làm phúc khác mà không liên quan nghiệp này cũng không giải được. Diêm Vương cũng nhất định bắt vào địa ngục Nhiệt Não hành hình, chịu hết những hình phạt của các tiểu địa ngục.

Thí dụ như: Bày biểu hay cho thuốc phá thai bị quăng lên núi lửa. Khinh khi Tam giáo bị chó phân thây. Nói tục tĩu bị cắt lưỡi. Đàn bà có chồng còn ngoại tình với trai bị đốt nấu trong vạc đồng. Khi xong rồi, giao cho Ngục thứ mười để đi đầu thai. Nhưng kiếp đó, phải chịu những dị tật: đui, què, mẻ, sứt … trả đền tội cũ. Tuy nhiên, cũng có phương pháp để hóa giải bớt là, chân thành ăn năn sám hối, thệ nguyện không tái phạm, làm được những điều lành như:

Giúp đỡ tiền, thuốc, cơm cháo, Bắc cầu, sửa đường cho thiên hạ đi, giúp quan tài và đồ liệm, Nhiều năm giúp cho người nghèo, dân đói, Cất đền, miếu, sửa am, Hết lòng phụng dưỡng kính yêu cha mẹ, cần mẫn thuốc thang giúp người khi bệnh hoạn…

*Khi làm được những việc trên, lúc quỷ sứ đến bắt hồn người chết, Định Phúc Táo Quân thờ trong nhà người đó sẽ chấm một điểm vào tấm lệnh bài để xác nhận, thì sau này lúc xuống ngục sẽ được miễn giảm hình phạt.

Trên thế gian cũng có những người, vào những năm mùa màng thất bát, khắp nơi đói rách, họ cắt thịt người chết đem bán cho người khác ăn để sống, dã tâm ác độc vô cùng. Những người phạm tội cắt thịt này, khi bị áp giải đến ngục thứ bảy này, Diêm Vương sẽ gia tăng hình phạt thêm lên. Mãn hạn hình phạt thống khổ 49 ngày rồi, sẽ được giải đến Điện thứ mười,ghi chú vào sổ sách, lại chuyển về Ngục thứ nhất để cho đầu thai làm người hoặc súc sinh, bụng lúc nào cũng đói muốn ăn, nhưng khi thấy đồ ăn thì có mùi hôi thúi, không dám ăn, chịu sự đói khát thường xuyên, để trả lại quả báo cũ.

*Những trường hợp lỡ phạm như thế rồi, thì phải hết sức lập công bồi đức chuộc tội, bằng cách giúp đỡ cơm cháo cho người đói khổ những năm bị mất mùa, lập trai đàn chẩn tế cô hồn ngạo quỷ, giúp đỡ cho người nghèo gạo thóc thuốc men thật nhiều. Lại phải thành tâm sám hối ăn năn, in ấn kinh sách khuyến thiện như Ngọc Lịch, Minh Thánh …để giúp người hiểu biết làm lành tránh dữ …thì khi chết mới được Diêm vương tâu lên Ngọc Đế xin miễn giảm tội.

Như thế đủ biết, khi còn sống có thể che dấu để thoát vương pháp thế gian, nhưng khi chết rồi thì một mảy may cũng không thoát khỏi đền tội. Trong sách nói: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” (lưới trời tuy thưa mà khó lọt) là như vậy!

*Muốn sám hối những tội lỗi lỡ tạo như trên, vào ngày 27 tháng 3, phải thành tâm sám hối, tụng kinh, day mặt về hướng Bắc mà van vái cầu xin Ngài Thất Điện Thái Sơn Vương phù hộ độ trì cho bớt tội. Lại phải thệ nguyện không tái phạm, làm những điều lành đã nêu thì mới mong giảm được tội hình nơi ngục này.

8. Bát Điện Đô Thị Vương:
(Đô Thị Vương của Điện thứ tám)

*Ngục này ở dưới tầng đá ngầm đáy biển ở về hướng chính Tây, tên là “Địa ngục Đại Nhiệt Não”.
Có 16 tiểu địa ngục là:
1. Xa Băng Tiểu Địa Ngục. (xe cán)
2. Muộn Oa Tiểu Địa Ngục. (nồi buồn rầu)
3. Toái Quả Tiểu Địa Ngục. (nghiền xương)
4. Lạo Khổng Tiểu Địa Ngục. (các lổ ra nước)
5. Tiễn Chu Tiểu Địa Ngục. (kéo cắt thành miếng nhỏ)
6. Thường Thanh Tiểu Địa Ngục. (chuồng nhốt)
7. Đoạn  Chi Tiểu Địa Ngục. (chặt tay chân)
8. Tiễn Tạng Tiểu Địa Ngục. (xẻ các tạng phủ)
9. Chích Tuỷ Tiểu Địa Ngục. (đâm lấy tủy)
10. Bà Trường Tiểu Địa Ngục. (kéo ruột)
11. Phần Tiều Tiểu Địa Ngục. (coi lò)
12. Khai  Sinh Tiểu Địa Ngục. (bắt nhìn thẳng)
13. Quả Hung Tiểu Địa Ngục. (đục thủng ngực)
14. Phá Đỉnh  Khiếu Xỉ Tiểu Địa Ngục. (đục đỉnh đầu, bẻ răng)
15. Trảo Cát Tiểu Địa Ngục. (cắt rút móng)
16. Cương  Xoa Tiểu Địa Ngục. (cây chĩa bằng gang)

*Những người khi còn sống trên thế gian không hiếu thảo với cha mẹ, lúc cha mẹ còn sống không nuôi dưỡng, lúc cha mẹ chết không lo mai táng. Thường gây ra những lo âu phiền muộn đau khổ cho cha mẹ, ông bà, lâu ngày mà chẳng chịu hối cải. Táo Quân dâng sớ tâu lên thiên đình, giảm trừ bớt y lộc tuổi thọ của người đó. Những người nghe lời xúi biểu của tà đạo, làm những điều ác đức xằng bậy, khi chết thì đứa con bất hiếu tới điện nào cũng bị hành phạt hoặc bị xay, cưa, đốt, giã, bị phanh rã tim gan, hoặc bị xe cán. Chứa xấu lừa của, trù ếm, chửi rủa, đồ dơ giặt đổ rạch sông, uế trược đến chỗ thờ, phơi áo quần dơ không nể thần thánh v.v... bị xô xuống ao huyết phẩn (Huyết Ô Trì).... rồi thì đưa sang ngục thứ tám. Ngưu đầu mã diện và ngục tối lại đưa vào các tiểu ngục ở đây để trừng phạt tiếp, chịu đựng không biết bao nhiêu điều thống khổ, tiếng kêu khóc vang dậy gấp nhiều lần nên gọi là “Đại nhiệt não”. Thọ hình xong mới chuyển qua ngục thứ mười cho đi đầu thai làm súc sinh.

*Trường hợp người nào biết ăn năn cải hối, tin tưởng vào thần thánh, Ngọc Lịch, Minh Thánh …vào ngày mùng 01 tháng 4,, tụng kinh sám hối, thệ nguyện không tái phạm, được Ngài Đô Thị Vương phù hộ giúp đỡ. Lại đến trước bàn thờ Táo Quân để cầu xin sám hối, thề không tái phạm, nguyện làm việc lành …Táo Quân sẽ xác nhận bằng cách, người đó khi chết, trước khi bị quỷ sứ dẫn đi, Táo Quân sẽ viết vào trán một trong ba chữ là: “Tuân”, “Thuận” hay “Cải”. Như vậy, khi hồn người chết đến các điện từ thứ nhất đến thứ bảy, các vua Diêm La  sẽ giảm hình phạt một nửa hoặc hết.
*Trường hợp những người phát tâm mạnh mẽ, ra sức sao chép in ấn các kinh sách khuyến thiện với số lượng lớn, giúp được nhiều người hối cải làm lành, được công đức nhiều thì qua điện thứ chín tra xét không phạm thêm tội nào nữa, chuyển sang điện thứ mười cho đi đầu thai vào nơi phúc địa.

*Công đức ấn tống kinh sách rất lớn, người tu học cần nên lưu ý thực hành.

 9. Cửu Điện Bình Đẳng Vương:
(Bình Đẳng Vương của Điện thứ chín)

*Ngục này nằm dưới tầng đá ngầm đáy biển ở về hướng Tây Nam. Tên là “Đại Địa Ngục ATỳ” có lưới sắt bao quanh.
Có 16 tiểu địa ngục là:
1. Xao Cốt Chước Thân Tiểu Địa Ngục. (đập xương gõ vào thân)
2. Trừu Cân Lôi Cốt Tiểu Địa Ngục. (kéo gân giả xương)
3. Nha Thực Tâm Can Tiểu Địa Ngục. (quạ ăn tim, gan)
4. Cẩu Thực Trường Phế Tiểu Địa Ngục. (chó ăn ruột, phổi)
5. Thân Tiễn Nhiệt Du Tiểu Địa Ngục. (dìm thân chảo dầu sôi)
6. Não Cô Bạt Thiệt Bạt Xỉ Tiểu Địa Ngục. (đai siết quanh đầu, kéo lưỡi, kéo răng)
7. Thủ Não Vị Điền Tiểu Địa Ngục. (lấy óc trét vào mình con nhím)
8. Chưng Đầu Quát Não Tiểu Địa Ngục. (đốt đầu moi não)
9. Dương Súc Thành Diêm Tiểu Địa Ngục. (dê chà xát thành bột)
10. Mộc Giáp Đỉnh  Sai Tiểu Địa Ngục. (kẹp gỗ siết đầu)
11. Ma Tâm Tiểu Địa Ngục. (mài trái tim)
12. Phí Thang Lâm  Thân Tiểu Địa Ngục. (đổ nước sôi vào thân)
13. Huỳnh Phong Tiểu Địa Ngục. (ong vàng chít đốt)
14. Hạt Câu Tiểu Địa Ngục. (mọt đục thân thể)
15. Nghị Chú Ngao Đam Tiểu Địa Ngục. (rang nướng giòn)
16. Tử Xích Độc Xà Toản  Khổng Tiểu Địa Ngục. (rắn độc tím, đỏ chui vào các lổ trong người)

* Người khi còn sống làm những việc cùng hung cực ác, như tội thập ác, phải chịu sự trừng phạt theo phép nước như là xử chém, thắt cổ cho chết v.v… đã đành, khi chết lại còn phải trải qua sự hình phạt của nhiều địa ngục rồi cuối cùng là đến địa ngục ATỳ này.

Những tội nặng đó là: Phóng hỏa đốt nhà cửa người, nuôi những loại trùng rắn độc để bào chế thuốc độc hại người, cho thuốc phá thai, dùng tà pháp thu hút dương khí người nam, âm khí người nữ … để luyện tà thuật. Viết những văn chương thi phú khêu gợi dục tình (dâm thư - sách khiêu dâm), bào chế các loại thuốc, thức uống làm cho người mê ghiền, sa đọa, khích dâm…
Hình phạt tội nhân ở các tiểu địa ngục như sau:

*Thí dụ: Bớt xén tiền cất đền, miếu, tiền in kinh, sửa ngay ra vạy, phản thầy bất trung bị quăng lên núi đao. Ăn thịt trâu chó, sát mạng vật vô cớ, bị quạ mổ. Phân rẽ vợ chồng, thân tộc của người, viết sách văn thơ khiêu dâm bị chó móc ruột ăn tim. Hãm hiếp hoặc dụ dỗ trẻ thơ mà ăn của bị xay ra bột…Tội bất hiếu: cột  bằng đồng nung đỏ, bắt phạm nhân trói ôm vào cột, tay chân mình mẩy đều cháy thành than v.v…

*ATỳ địa ngục là gì ?
Chữ A có nghĩa là không, chữ Tỳ có nghĩa là Cứu hay xen kẽ.
Cũng có nghĩa là Vô Gián. Nghĩa là không có thời gian. Ở đây có 5 nghĩa chính:
Thứ nhất là xả thân sinh báo không có thời gian, nghĩa là sinh rồi chết, chết rồi sinh không biết bao nhiêu lần ở trong địa ngục.
Thứ hai là thọ khổ mãi mãi  không có niềm vui cũng không có thời gian nhất định.
Thứ ba là thời gian không hạn định, vì ở trong vô lượng kiếp số.
Thứ tư là mệnh sống (tuổi tác) không gián đoạn
Thứ năm là thân thể không gián đoạn. (không mất đi)

Địa ngục này ngang dọc 8 vạn do tuần, từ một người cho đến vô số người cũng đều chứa được đầy ắp trong đó.
Mỗi địa ngục còn có 4 địa ngục lớn nhỏ xung quanh được vây bọc. Khi chúng sinh ra khỏi một trong 8 địa ngục Vô Gián này rồi, thấy những địa ngục bên cạnh như nước lạnh mát mẻ, khởi tâm thích mới chạy vào đó, không ngờ đó là địa ngục thiêu đốt, địa ngục rang nướng, cưa xẻ….tội nhân cứ chết đi sống lại, rồi bị hành hình thọ quả. Nhiều khi muốn chết mà cũng không thể chết được. Vì quả báo thọ chưa xong.

*Những kẻ phạm tội như dưới đây vào Vô gián Địa Ngục: Kẻ bất hiếu với cha mẹ, cho đến giết hại cha mẹ. Kẻ đâm chém thần đổ máu, hủy báng thần thánh, chẳng kính chân kinh, phá hoại sự hòa hợp chân tu. (gọi là tội ngũ nghịch).

*Kế đến, nhẹ hơn một chút là những kẻ xâm lấn tổn hại đền miếu, làm ố uế chân tu, hay ở trong nhà chùa mà dâm dục hoặc giết, hại nhân vật. Kẻ giả bộ thầy tu, chẳng có tâm thầy tu, dùng phá đồ vật của cải nhà đền, lừa gạt người tại gia, làm trái giới luật, tạo ra rất nhiều tội ác. Kẻ ăn trộm ăn cắp của cải, đồ đạc, lúa gạo, thức ăn uống, quần áo của nhà đền, người ta không cho mà cũng lấy v.v… không vào ngục vô gián nhưng phải chịu sự hình phạt ở hai ngục: nóng và lạnh, sau khi thân bị lửa thiêu còn bị đoạ thân qua nơi cực lạnh, gió lạnh thổi như dao cắt toàn thân chịu thống khổ không thể tả.

*Muốn giảm phần nào hình phạt sau này, những người trót lỡ phạm tội nặng (trừ tội ngũ nghịch đã kể trên) phải hết sức thành tâm ăn năn hối cải, tụng kinh sám hối, thu hồi và hủy bỏ tất cả những sản phẩm, phương tiện sai trái đã làm, ấn tống thật nhiều kinh điển khuyến thiện, giúp người cải dữ làm lành, cứu mệnh nhiều người, giúp đỡ cơm ăn, áo mặc, thuốc men trị bệnh cho nhiều người nghèo đói, khổ sở  v.v…rồi vào ngày mùng 8 tháng 4, vái nguyện với Ngài Bình Đẳng Vương ở Điện thứ chín xin sám hối tội lỗi đã tạo, nhiều năm làm như vậy, sẽ được giảm bớt hình phạt ở các tiểu địa ngục và miễn qua địa ngục lạnh.

Những người không rơi vào ngục vô gián thì sau khi chịu hình phạt lâu dài ở ngục thứ chín này, chuyển qua ngục thứ mười cho đi đầu thai làm kiếp thú, mãn trăm kiếp thú rồi mới được làm người. Nhưng làm người cô độc, bị bỏ rơi, nghèo khổ, đói khát triền miên, sống tạm bợ lây lất cho đến mãn kiếp (nghĩa là chỉ đỡ hơn địa ngục một chút thôi, gọi là dư báo). Nhiều kiếp như thế, nếu biết ăn năn sám hối tu hành thì mới được chuyển dần đến chỗ có phúc đức.

10. Thập Điện Chuyển Luân Vương:
(Chuyển Luân Vương của Điện Thứ mười)

*Điện thứ mười ở dưới tầng đá ngầm của cõi U Minh, về phía chính Đông đối với thế giới ngũ trược (trọc) này.
*Có tất cả là sáu loại cầu Nại Hà: Cầu làm bằng vàng, bạc, ngọc, đá, gạch, cây.

Điện thứ mười là nơi nhận những quỷ hồn của các điện khác chuyển đến. Sau khi thẩm định phúc phần của mỗi hồn, sẽ cho đi đầu thai vào các nơi tương xứng, theo các tình trạng: nam hay nữ, giàu hay nghèo, sang hay hèn, khôn hay ngu, thọ hay yểu  v.v…Mỗi tháng, các điện sẽ chuyển giao một lần các quỷ hồn đến đây. Việc thọ sinh (đi đầu thai) này rất chi tiết, tỉ mỉ, phức tạp như là: đường nào trong bốn đường thai, noãn, thấp, hóa, như loài vật thì có loài không chân, hai chân, bốn chân hoặc nhiều chân. Có loài thì tự chết, có loài thì bị giết chết…Việc đúc kết rất cẩn thận vì tầm quan trọng lớn lao của nó. Kết quả sẽ ghi kỹ lưỡng cho mỗi quỷ hồn để đưa đến Phong Đô đầu thai.

Thí dụ như:
*Người không kính giấy chữ (sách kinh thánh hiền), rủ nhau ăn thịt trâu chó, phạt làm ăn mày. Không kính người lớn, chẳng vâng lời phải, thầy dạy học trò không tốt bị người vô cớ nói xấu, khinh khi. Người hay nói ra nói vào, xúi người kiện cáo, trước đã bị hình phạt xô xuống cầu Nại Hà cho rắn, cua ăn thịt, nay đầu thai thành người bị vu cáo lĩnh án tù đày…

Những nhân sĩ khi sống mà biết làm lành, tụng kinh kính thần, trì chú v.v… khi chết, dược miễn giảm rất nhiều hình phạt ở các ngục.

Những quỷ hồn sau khi thọ hình xong ở các Điện, Điện thứ mười tổng kết xong, lập danh sách chi tiết rồi chuyển họ đến “Dậu khu vong đài” (ăn cháo lú quên quá khứ) của Mạnh Bà Tôn Thần. Kế đó mới cho đi đầu thai tùy theo phúc nghiệp cân xứng của mỗi người.

Trường hợp có những hồn ghi nhớ mãi những câu chân ngôn thần chú của Tam Giáo, nhưng không đủ phúc báu vãng sinh, mà không thể quên được quá khứ thì cho đi đầu thai tạm thời, chỉ sống một thời gian ngắn, hoặc một hai ngày, hoặc vài tháng vài năm …phải chết lần nữa, trở lại “vong đài” uống thuốc mê cho thật quên hết chân ngôn rồi mới đi đầu thai chính thức.

Cũng có những trường hợp những người mang mãi mối thù hận quá sâu sắc, không chịu đi đầu thai, chấp nhận kiếp ngạo quỷ để theo đòi báo ứng cho xong, mới chịu tái sinh.

Những trường hợp như vậy cũng có rất nhiều vì khi tại thế, đã gây tạo cho nhau quá nhiều hệ lụy, nào là phụ tình, nào là vong ân bạc nghĩa, nào là bị lường gạt đến nỗi táng gia bại sản, nào là thù hận ganh ghét chức vụ mà hại nhau, nào là bị áp bức quá đáng… họ đã phát thệ “nhớ mãi không quên” nên phải đi vào con đường quanh co đau khổ này. Cho nên biết, “oán thù nên cởi không nên buộc, chẳng những có lợi ngay trong đời này, mà còn đỡ khổ cho lúc tái sinh đời sau”.

*Khi còn sống, phải nên tự mình làm lành rồi nên khuyên bảo thân nhân, bè bạn, người xung quanh chung sức làm lành. Giúp đỡ, tương trợ nhau, giúp đỡ cơm áo, gạo tiền, thuốc men cho người nghèo khổ. Sao chép, ấn tống kinh sách khuyến thiện giúp người giác ngộ tránh dữ làm lành. Bản thân phải lo tu học cho tốt, tụng kinh, kính thần… làm việc thiện không hề lười mỏi. Vào ngày 17 tháng 4, vái nguyện Ngài Thập điện Chuyển Luân Vương gia trì thêm phúc phần ở kiếp sau.

11. Đệ Thập Điện Chuyển Kiếp Sở:
(Nơi cho người đi đầu thai, ở Điện thứ mười)

* Sở chuyển kiếp này trên dưới xung quanh đều có hàng rào bằng sắt, bên trong chia ra làm 81 chỗ. Mỗi chỗ đều có đình đài khang trang, có quan lại ngồi bàn làm việc. Bên ngoài hàng rào, có những con đường nhỏ “ruột dê” (quanh co), có mười vạn tám ngàn (một trăm lẻ tám ngàn) lối đi, uốn khúc quanh co  dẫn đến “tứ đại bộ châu”.
*Bên trong sở, tối om như thùng sơn, chỉ thấy có một con đường để cho người đi đầu thai đi ra lối đó thôi. Bên ngoài nhìn vào giống như thủy tinh, chằng chịt nhiều đường ngang lối dọc, có các quan lại làm việc rất bận rộn, nhưng không bao giờ có sự nhầm lẫn. Có những trường hợp xét thêm để cho thăng hay giáng. Như người khi còn sống, có lòng hiếu thảo với cha mẹ hoặc những người không sát sinh mà còn phóng sinh…làm được nhiều điều thiện, sau năm lần thẩm tra, được các “thiện quan” tâu xin cho tăng thêm hưởng phúc. Trái lại, những người sau khi thẩm tra lại, phát hiện ra còn sót tội, hoặc hình phạt chưa đủ, thì sẽ tâu xin giáng bớt phúc, như  những người bất hiếu, sát sinh nhiều…

*Những người tội nặng, thọ vào thân súc sinh, bị thay đầu đổi mặt, trở thành một trong bốn loài: cầm (chim), thú (bốn chân), ngư (cá), trùng (côn trùng), là được cho đi vào những đường nhỏ quanh co. Phàm đã thọ thân súc, thì phải trải qua rất nhiều kiếp, thai sinh thì có các thú, noãn sinh thì có sấu, rùa, rắn, chim …, thấp sinh thì có các loài trùng bọ…Qua nhiều kiếp như thế, mới được lên làm người. Còn những quỷ hồn chấp nhận làm ngạo quỷ, vì không tin vào luân hồi, nhân quả, mang nặng ghi sâu những thù hận oán hờn, sống vất va vất vưởng, không có khái niệm về thời gian. Nếu không có những vị chân nhân có lòng Bồ Tát từ bi lập trai đàn chẩn tế và cầu siêu cho, thì vẫn mãi mãi đói khát và không có cơ hội để đầu thai kiếp khác. Ngoài ra, nếu lỡ bị đọa vào ATỳ địa ngục thì mãi mãi không được trở lại làm người. Như vậy, kinh nói: “Thân người khó được”.

12. Đệ Thập Điện Mạnh Bà Thần:
(Thần Mạnh Bà ở Điện thứ mười)

Vị thần tên Mạnh Bà này, sinh vào đời Tiền Hán, lúc nhỏ học Nho, sau chuyển qua học Thần. Vị này có đặc điểm là “quá khứ thì không nhớ đến, tương lai thì không nghĩ tới”, suốt đời chỉ biết khuyên người, làm lành. Đến năm 81 tuổi mà “hạc  phát đồng nhan” (tóc già như chim hạc mà mặt vẫn như người trẻ), vẫn còn là “xử nữ” (gái trinh).
Người đời chỉ biết bà họ Mạnh, nên gọi bà là “bà vú Mạnh Bà”. Bà vào núi tu Tiên, tồn tại mãi đến đời Hậu Hán.

Trước đây, vì con người sinh ra thì vẫn còn nhớ đến kiếp trước, nên nhớ và tìm đến những quyến thuộc xưa, trí nhớ vẫn tốt nên kể lại chuyện đầu thai, làm tiết lộ thiên cơ (máy trời). Do đó, Thượng Đế mới sắc phong cho họ Mạnh làm người cai quản “Dậu khu vong đài” (đài làm quên) có các quỷ sứ giúp việc. Khi Điện thứ mười đã có quyết định là hồn sinh vào chỗ nào, địa vị ra sao…thì trước khi đi đầu thai, phải đến chỗ “Đài khu vong” này. Ở đây, dùng các dược vật trên thế gian, bào chế thành một loại “như rượu mà không phải rượu”, chia ra làm năm vị loại là : Ngọt, đắng, cay, chua, mặn.

Các hồn được chuyển thế, phải uống loại nước này, quên đi tất cả người và sự việc, cảnh giới của đời trước. Theo thứ tự trên mà quên đi nhiều hay ít, lâu hay mau, sâu hay cạn… tùy theo công phu tu hành và phúc đức của kiếp trước. Vì thế, người sinh ra, có kẻ khôn người ngu, kẻ học một biết mười, kẻ học hoài chẳng nhớ. Cũng có những người “không học mà biết” là do uống ít “thuốc quên” này vậy.

Đài khu vong ở Điện thứ mười này, nằm phía trước điện và bên ngoài của sáu chiếc cầu Nại hà. Đài to lớn khắp cả vùng đất. Số phòng có đến một trăm lẻ tám gian, hướng đông có con đường đâm thẳng vào, bề ngang hẹp chừng một thước bốn tấc (để hồn chỉ đi hàng một). Các hồn nam nữ được đưa vào từng phòng, mỗi phòng đều có bày sẵn thức uống nói trên, do nghiệp lực mà hồn cảm thấy khát nước nhiều ít mà uống nhiều hay ít. Còn hồn nào ương ngạnh không chịu uống, thì dưới chân xuất hiện một cái vòng khóa chân lại, trên cổ có một ống bằng đồng chặn đè vảo cổ, phải hả miệng ra. Chịu không nổi đau đớn nên phải uống thật nhiều mới tha.

Sau khi uống xong, có một quỷ sứ xuất hiện, dắt vào con đường dẫn đến chiếc cầu, bên dưới là một khe nước đỏ như máu đang chảy xiết. Đứng trên cầu, nhìn thấy phía đối diện có một hòn đá đỏ lớn, có bốn hàng chữ, mỗi chữ lớn bằng cái đấu (lít), viết như sau:
“Vi nhân dung dị, tố nhân nan,
Tái yếu vi nhân, khủng cánh nan.
Dục sinh phúc địa, vô nạn xứ,
Khẩu dữ tâm đồng, khước bất nan”
*Dịch:
“Là người thì dễ, làm người khó,
Muốn lại làm người, càng khó hơn.
Muốn sinh đất phúc, không tai nạn
Thì miệng giống tâm, chẳng khó gì”
*Lúc hồn đang đọc mấy hàng chữ này thì bên phía cầu bên kia, xuất hiện hai con quỷ lớn từ dưới rẽ nước bay lên. Một con thì đầu đội mũ “ô sa”, mình mặc áo gấm, tay cầm giấy bút, vai mang đao bén, lưng có đeo hình cụ, trợn tròng cặp mắt, cười to ha hả…Quỷ này tên là “Hoạt Vô Thường” (sinh không định trước). Một con nữa thì mặt mày đầy máu, mình mặc áo trắng, tay cầm bàn tính, vai vác bao gạo, trên ngực có dán tờ giấy, hai cặp chân mày nhăn lại, than dài thở ngắn. Quỷ này tên là “Tử Hữu Phận” (chết có phần sẵn). Hai con quỷ này nắm chân hồn lôi kéo xuống dòng nước đỏ, tùy theo phúc nghiệp mà đè xuống cạn sâu. Cạn thì được hưởng phúc, sâu thì phải chịu đọa đày. Hồn lúc này ngơ ngơ ngác ngác, chẳng còn biết gì nữa, cứ lo ngóc đầu lên, thì chốc lát đã chui ra khỏi  “tử hà xa” (bào thai, tử cung) của bà mẹ, khóc lên ba tiếng “oa oa”. Kế rồi lớn lên, ham ăn ham uống, mê mải theo đời, mê muội “Như Lai Thần Tính”, quên hết ơn Trời, Thần, Thánh, chân nhân, chẳng nhớ làm thiện mà cứ theo đường ác, đến mãn kiếp lại trở về với hồn ma bóng quỷ như lần trước. Thật là tội nghiệp thay cho thân phận người không biết tu hành để giải thoát!
Các việc kể trên là do một vị thư lại, làm việc ở “Khu vong đài” theo lệnh Ngọc Đế ghi chép lại trong Ngọc Lịch,để phổ biến khắp cả cho thế nhân biết mà lo tu hành, cầu đạo giải thoát.

13. Uổng Tử Thành:

*Đại Đế Phong Đô nói: “Uổng Tử Thành nằm về bên phải của Điện thứ mười. Thế gian hay lầm nghĩ rằng, những người bị tai nạn chết bất ngờ đều phải vào trong thành này. Nếu điều đó là thật, thì những người chết oan chết ức đều là tốt hết cả sao? Cho đến vẫn còn thấy rất nhiều oan hồn chưa tiêu hết phẩn hận, những kẻ tự tử, những kẻ bị hại… vẫn còn đang chịu sự hình phạt trong các điạ ngục, chưa biết ngày nào được đi đầu thai.
Vào trong Thành Uổng Tử này, chỉ có những người “Trung hiếu tiết nghĩa, xả thân vì nước (tận trung báo quốc), hoặc tử tiết thành thần. Vì chết bất ngờ nên chưa thẩm định kịp, phải  tạm thời ở đây, chờ ngày để đầu thai nơi phúc địa hoặc được phong thần. Như vậy, đây là nơi dành riêng cho những người tốt ở tạm chờ xét. Đó mới đúng là nghĩa của Uổng Tử Vậy.

14. Huyết Ô Trì:
*Huyết Ô Trì, tức là cái ao bị vẫn đục do máu gây nên.
Ao này nằm phía sau, bên trái của Điện thứ mười. Người thế gian hiểu sai về ý nghĩa của nơi đây là do từ một vị Đạo Cô đã giảng sai lúc xưa. Vị ấy nói những người đàn bà trên thế gian, khi sinh nở máu huyết làm ô uế đất cát nên phải mang tội, lúc chết bị xuống đây, điều đó là không đúng.

Chỉ là trường hợp những người nữ khi sinh đẻ, bị trục trặc lâm nạn mà chết, vua Diêm Vương không xét tội của người chết đang ô uế, nên mới cho đến đây. Chờ cho đủ mười ngày, người ấy đã tỉnh táo, tắm rửa sạch sẽ thay đổi quần áo rồi mới cho lên điện để xét xử. Còn về việc làm ra sự ô uế, nếu có, thì người sản phụ chỉ chịu bảy phần, người gia trưởng của nhà đó phải chịu ba phần trách nhiệm, chứ không thể đổ hết tội lỗi cho sản phụ.

Vào trong ao này, đúng nghĩa là những người bất luận là nam hay nữ, khi sống đã phạm tội giao hợp với nhau mà không kiêng chỗ thờ phụng trời đất, thánh thần. Cũng không chịu kiêng cử vào những ngày Thánh Đản, giờ kiêng. Thí dụ như ngày 14, 15 tháng năm, ngày mùng 3 và 13 tháng tám, ngày mùng 10 tháng mười. Năm ngày ấy gọi là “Chưởng tử giới nhật” (ngày kiêng của việc tạo ra con). Phạm vào những ngày này, có thể bị thần trừng phạt mắc ác bệnh mà chết. Sau khi đã thọ xong hình phạt ở các ngục vì tội khác rồi, mới đưa đến đây để bắt họ trầm mình dưới ao này, chẳng cho lên bờ.

*Lại có những kẻ hoặc nam hoặc nữ có tính hiếu sát bừa bãi, lại bất cẩn để cho máu vương vãi, dính vào bếp táo, nơi điện thờ thần thánh, hoặc sách vở thánh hiền, kinh điển, hoặc chén đĩa ở bàn thờ…thì đều phạm tội.

Những người này phải chịu sự hình phạt ở các điện về tội khác xong rồi mới đến đây để chịu phạt trầm mình dưới ao không cho ngóc đầu lên. Muốn hóa giải tội này, người thân ở dương thế phải làm thiện, thệ nguyện giới sát và làm thiện, phóng sinh. Làm đủ phúc rồi còn tụng thêm “Huyết Ô Kinh Sám” (Kinh sám hối huyết ô) thì phạm nhân mới được giải tội để đi đầu thai.

*Lại có những kẻ nam nữ ở thế gian, khi thấy có người bị nạn mình có thể cứu được mà lại không chịu cứu, hoặc thọ ơn người mà đã không chịu đền đáp lại còn tính kế mưu hại người ơn, cũng phải chịu tội ở ao này. Trường hợp những người nói trên sau đó phát tâm tu hành tích lũy công đức rất lớn, thì khi chết có thể được miễn hình phạt huyết ô, nhưng vẫn phải chịu quả báo thành ra các loài quỷ như: ly, mỵ, vọng, lượng, sơn yêu, mộc khách, thủy quái, cương thi (thây ma cứng biết đi), hồn vất vưởng đây kia, hoặc nhẹ thì cũng gá tính linh vào những loài chồn, cáo, gấu, beo, cá sấu, rắn… hàng trăm năm, nếu biết ăn năn tu tỉnh mới được đầu thai, còn nếu không chuyển hóa được trong tâm thì vẫn mãi mãi trụ ở tình trạng như thế.
 
*Một điểm nữa là, ở thế gian cũng hiểu sai về việc tin có “Thần giữ của”. Thục ra, đây chẳng phải là thần thánh gì cả, mà chỉ là hồn ma của người lúc sống có chôn cất số của cải tài sản nào đó, khi chết vẫn quyến luyến bám theo tài sản để giữ của. Nếu có ai đến đào lấy, họ sẽ hiện thành ma quỷ hù nhát người đào, khiến cho người ấy có thể vì quá sợ hãi, sinh bệnh mà chết. Những loại âm hồn kiểu này, chẳng kể là dân giả hay nho sĩ quan lại gì cả, nếu có tính tiếc nuối của cải tài sản đều trở thành “ma giữ của”. Muốn hóa giải nghiệp này, chỉ có cách tốt nhât là mời thỉnh những vị đạo cao đức trọng, những vị chân tu có đạo lực, đến tổ chức trai đàn cầu siêu, thuyết pháp cho họ nghe hiểu giác ngộ lẽ vô thường của thế gian. Chính cái thân của mình còn không giữ được, huống nữa là tài sản của cải là những thứ từ ngoài vào, làm sao có thể giữ cho được. Nhờ vậy, họ mới tỉnh ngộ mà phát tâm tu hành, chuyển hóa đầu thai kiếp khác.

*Nếu không có được những vị đạo cao đức dày khuyến hóa, thì người thân có thể tổ chức những buổi cầu siêu, những dịp chẩn tế tập thể thật long trọng, cứu giúp được nhiều người. Sau đó, thành tâm hồi hướng tất cả công đức làm ra “cho tất cả sinh linh được sớm thành Thần đạo”. Được vậy mới khả dĩ hỗ trợ người thân mình thoát khỏi nạn “giữ của” này.

*Trường hợp những người vì mệnh lệnh nhà vua mà phải lên đường chinh chiến, bất đắc dĩ phải chấp hành, nhưng trong lòng không muốn. Trong lúc làm lính bất đắc dĩ đó, vẫn luôn thương yêu giúp đỡ bạn bè đồng đội, tránh bắn giết bừa bãi dân chúng vô tội …nếu chẳng may bị chết, thì được miễn những hình phạt của các ngục. Đến điện thứ nhất xem xét nghiệp lực rồi chuyển thẳng đế điện thứ mười cho đi đầu thai vào nơi phúc địa. Còn nếu, lỡ vào quân ngũ mà lại sinh tâm hiếu sát, bắn giết bừa bãi…thì khi chết sẽ gia thêm hình phạt và thời gian gấp đôi.

15. Hắc Bạch Vô Thường:

*Câu “sinh không biết kỳ, tử lại có hạn” nói lên quan điểm  nhận thức của người đời đối với việc sống chết. Còn đối với hai vị “Hắc Bạch Vô Thường” thì ai ai cũng sợ hãi, cho là hai con quỷ hại người. Ấn tượng của thế gian là, Hắc vô thường là mặc áo đen, Bạch vô thường là mặc áo trắng. Một hôm nào lỡ gặp hai vị này thì có nghĩa là số mệnh đình chỉ.
Nhưng có số sách vở nói rằng, đừng nên sợ hãi khi gặp hai vị Hắc Bạch này, lúc đó chỉ cần bình tĩnh, thành tâm cầu bái và xin hai vị cho mình “bất cứ món đồ gì”, nhất định về sau sẽ “đại phú quí” ! Cho nên,  trên bàn thờ của một số đoàn hát kịch ở một vài địa phương có thờ hai vị Hắc Bạch Vô Thường  chung với Thần Tài, mà chiếc mũ trên đầu hai vị có ghi câu “Nhất kiến sinh tài” (một lần thấy ta ắt có tiền).



Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.