tháng 11 2014

VLCĐ: Thiền sư Thích Nhất Hạnh được sinh ra với tên húy là Nguyễn Xuân Bảo ở Thừa Thiên (miền trung Việt Nam) vào năm 1926. Vào năm 16 tuổi ông xuất gia ở chùa Từ Hiếu gần Huế, nơi ông thọ giáo với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật. Tốt nghiệp Viện Phật học Bảo Quốc ở miền Trung Việt Nam, Ngài tu học thiền theo trường phái Đại thừa của Phật giáo và chính thức trở thành một nhà sư vào năm 1949. Hiện nay được công nhận là một thiền sư và là lãnh đạo tinh thần của chùa Từ Hiếu và các tu viện liên quan khác.


Chữ nghĩa nào để xưng dương Ngài cho vẹn
Ngôn từ nào để tán thán Ngài cho toàn
Bởi cuộc đời Ngài lấp lánh vô số điểm son
Bởi hành trạng Ngài lung linh muôn ngàn ảnh tượng
Tôi bỗng nhớ tác phẩm "Đường Xưa Mây Trắng"
Và "Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát" mà đi
Rồi hàng trăm tác phẩm vần vũ tức thì
Nổi trội cùng hành trình hoằng dương chuyển hóa
Mỗi bước chân một bông hoa nở rộ
Mỗi bước đi một vầng sáng hiển bày
Cả cuộc lữ, ca ngợi ư, nghiệt thay
Tôi quẳng hết, tự trầm tư lưu xuất

Viết một cách tự nhiên, nhưng thật chuẩn mực
Viết một cách bình thường, nhưng thật rõ ràng
Không thổi phồng mang tính chất khoe khoang
Không thêu dệt lộng hoang đường hư cấu
Bởi cuộc đời Ngài, vốn đã như rứa
Bởi hành trạng Ngài, vốn đã như ri
Cả thế giới tôn vinh, đâu phải làm vì
Cả nhân loại ngưỡng phục, dễ nào có được

Hơn nửa thế kỷ, Ngài sáng hơn ngôi sao Bắc Đẩu
Hơn năm mươi năm, Ngài tỏa rạng thiều quang
Mọi khung trời phủ rợp Ánh Đạo Vàng
Mọi ngõ ngách tương dung Đường Hóa Độ
Các tôn giáo khác nhau, Ngài là ngọn đèn sáng tỏ
Các chủng tộc khác nhau, Ngài là một bậc Đạo Sư
Từ chính giới, chính khách, khoa bảng, trí thức, cảm phục như như
Đến nam nữ, lão ấu, sang hèn, nghèo giàu, ngưỡng tôn như thị

Tôi không nói quá, rằng:
Năm mươi năm cận đại Phật Giáo Việt Nam
khó có một vị nào, để ví
Hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam
duy nhất riêng Ngài, có một không hai
Hàng trăm tác phẩm tôn giáo văn hóa văn học rực sáng Đông - Tây
Khai Tổ khai Tông "Pháp Môn Làng Mai" qui phục mọi màu da chủng tộc
Tôi đồng cảm, nhưng chưa hẳn đồng thuận với nhận định đánh giá, rằng:
Thế giới và nhân loại hôm nay
Nói về Phật Giáo
Nói về con người
Có ảnh hưởng, thuyết phục, lôi cuốn, sức hút:
Đức Đạt Lai Lạt Ma, "ngôi vị thứ nhất"
Ngài Thiền Sư Nhất Hạnh, "ngôi vị thứ hai"
Cũng vui, được thế giới ngưỡng phục tôn vinh
Cũng mừng, được nhân loại tán dương ca ngợi

Nhưng theo tôi
Đánh giá và so sánh như thế có vẻ khập khiễng
Cứ để tự nhiên
Đức Đạt Lai Lạt Ma là Đức Đạt Lai Lạt Ma
Ngài Thiền Sư Nhất Hạnh là Ngài Thiền Sư Nhất Hạnh
Đức Đạt Lai Lạt Ma là của Tây Tạng
Ngài Thiền Sư Nhất Hạnh là của Việt Nam
Đức Lạt Ma, mới sinh, được chọn Hóa Thân, sống trong cung ngọc điện vàng
Ngài Nhất Hạnh, ra đời, bình thường dân giả, lớn lên quê nghèo sỏi đá
Đức Lạt Ma, một vị vua Tây Tạng, đứng đầu thiên hạ
Ngài Nhất Hạnh, một Tăng Sĩ Việt Nam, áo vải nâu sồng
Đức Lạt Ma, xuất thân, vốn cái gì cũng có
Ngài Nhất Hạnh, hiện hữu, vốn cái gì cũng không
Biển là biển, sông là sông
Nào ai đem biển sánh sông chi nào
Trăng là trăng, sao là sao
Trăng mà đem ví với sao ngỡ ngàng
Ngọc là ngọc, vàng là vàng
Tự nhiên như thể ngọc vàng chi nghe
Hôm nay tôi viết đôi lời về Ngài Nhất Hạnh

Vốn biết
Mọi giới khác nhau đã có cái nhìn về Ngài
Nhiều thành phần khác nhau đã có cảm kích về Ngài
Hàng hàng lớp lớp "Tăng Thân" phủ phục tôn xưng với Ngài
Thì bài của tôi như đom đóm lập lòe chơi bóng tối
Đầu non vượt khỏi
Chót đỉnh băng qua
Ô hay một cõi Ta Bà
Thái Hư lọt bũm căn nhà Như Lai
Ô hay hải giác thiên nhai
Làng Hồng hiển thị Làng Mai vang lừng
Hoa đào trước ngõ trổ bông.

 
Viết, không bởi đã quan hệ liên lạc với Ngài trong những năm từ 1970 - 1975 qua một vài công việc trực tiếp của GH.
Viết, không bởi nhận tịnh tài hàng tháng để giúp đỡ người nghèo trại tỵ nạn Thái Lan đầu thập niên 80 một thời ở đó.
Viết, không bởi, ngôi chùa đang thuê tại Oxley, Brisbane, là địa điểm đầu tiên tiếp đón và tổ chức Khóa Tu Chánh Niệm, các thời Thuyết Pháp của Ngài trong chuyến hoằng hóa Úc Châu 1986.
Mà viết, bởi "Thử Tìm Dấu Chân" "Đường Xưa Mây Trắng" của một bậc thạc đức thượng thừa Phật Giáo Việt Nam.


Brisbane, ngày 20 tháng 11 năm 2014
Thích Nhật Tân 

VLCĐ: Mười cách tạo Thiện Nghiệp đó là: Bố thí, Trì giới, Hành Thiền, Tùy hỷ, Phục vụ người khác, Khiêm tốn, Chánh kiến, Nghe pháp, Giảng dạy Giáo pháp. Hầu hết chúng ta có lẽ nghĩ rằng tạo phước báu là chỉ làm việc từ thiện, trong thực tế có những cách khác để có tạo phước báu. Tâm của chúng ta chỉ sẽ phát triển nếu chúng ta tu tập mười cách để tạo thiện nghiệp.

Đức Phật kết luận rằng tâm làm chủ, dẫn đầu các pháp. Tâm là kẻ thực hiện cũng vừa là kẻ nhận lãnh những hành động do chính mình làm. Tâm là vị chủ nhân ra lệnh cho kẻ đầy tớ của mình là thân nói năng và hành động.

Hôm nay chúng ta sẽ tự mình nương tựa vào những lời dạy chính yếu của Đức Phật. Đức Phật dạy chúng ta hãy nương tựa vào chính mình bởi vì chúng ta là người tự tạo ra nghiệp tốt và nghiệp xấu, và là người tự gặt hái những kết quả hạnh phúc hoặc đau khổ tương ứng với những việc chúng ta đã làm.


Cơ chế tạo ra nghiệp tốt, xấu, hạnh phúc và đau khổ, thiên đàng và địa ngục nằm trong tâm của chúng ta. Tâm là nhà sáng tạo chính. Vì vậy Đức Phật kết luận rằng tâm làm chủ, dẫn đầu các pháp. Tâm là kẻ thực hiện cũng vừa là kẻ nhận lãnh những hành động do chính mình làm. Tâm là vị chủ nhân ra lệnh cho kẻ đầy tớ của mình là thân nói năng và hành động.


Có ba loại hành động hay nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Khi chúng ta tạo thiện nghiệp, hạnh phúc, sự tiến hóa và thiên đàng sẽ là kết quả theo sau. Ngược lại khi chúng ta tạo nghiệp bất thiện, đau khổ, lo lắng, khổ não và sự thoái hóa sẽ là kết quả theo sau. Sau khi chết, tâm thức của chúng ta sẽ tái sanh vào một trong bốn đọa xứ (apayabhumi) chẳng hạn như địa ngục. Vì vậy, Đức Phật luôn khuyên chúng ta phải nương tựa vào chính chúng ta. Chúng ta không nên đợi một người nào đó tạo hạnh phúc và sự thịnh vượng hoặc thiên đàng hoặc Níp-bàn cho chúng ta. Chúng ta phải tự mình tạo thiện nghiệp.


Cầu nguyện trước hình ảnh của Đức Phật hay thỉnh các vị Sư ban phúc lành để cầu xin được thành công và thịnh vượng không phải là Giáo pháp của Đức Phật bởi vì Ngài chỉ có thể chỉ ra con đường đưa đến an vui, hạnh phúc và thịnh vượng và con đường đưa đến đau khổ và sự thoái hóa. Lời dạy của Ngài có thể tóm tắt như sau: Tránh làm điều ác, hãy làm điều lành và giữ tâm luôn trong sạch.


Tạo thiện nghiệp hay công đức chẳng hạn như làm từ thiện giống như gửi tiền vào một ngân hàng. Chúng ta càng gửi tiền nhiều chừng nào thì tiền của chúng ta sẽ được tích lũy nhiều chừng nấy. Tiền lãi cũng tăng theo và chẳng bao lâu sau chúng ta sẽ trở nên giàu có. Ngược lại, nếu chúng ta tạo ác nghiệp, việc này giống như chúng ta mượn tiền ngân hàng, chúng ta phải trả lại cả tiền nợ gốc lẫn lãi. Khoản vay có thể trở thành một gánh nặng cho chúng ta. Những người mắc nợ luôn luôn ở trong tâm trạng lo lắng, bồn chồn, không giống như những người có tiền gửi trong ngân hàng, những người này luôn tươi cười vì tiền của họ luôn luôn tăng trưởng.


Tạo thiện nghiệp cũng tương tự như vậy, nó cho ta sự an vui, làm cho chúng ta cảm thấy hạnh phúc và hài lòng. Nhưng khi chúng ta tạo bất thiện nghiệp, tâm của chúng ta giống như ngồi trên đống lửa. Chúng ta trở nên lo lắng và bất an. Chúng ta ai cũng có thể thấy được điều này bởi vì có thể nó đang xảy ra trong tâm chúng ta ngay tức thời, trong giây phút này đây, chẳng cần đợi đến kiếp sau. Vì vậy, nếu chúng ta muốn được hạnh phúc và thịnh vượng, muốn được ngủ ngon và không chịu đau khổ, chúng ta chỉ nên tạo thiện nghiệp và tránh tạo bất thiện nghiệp.


Đức Phật dạy cho chúng ta mười cách tạo công đức hay thiện nghiệp:

  1. Dana: cho ra một cách rộng rãi, bố thí, cúng dường. Cụ thể cúng dường một trong bốn thứ tứ vật dụng đến Tăng đoàn. Cho mà không mong đợi một sự hoàn trả nào từ người nhận.
  2. Sīla: Trì giới, giữ gìn sự trong sạch về mặt đạo đức và luân lý ngăn ngừa một cá nhân không đi trệch ra ngoài con đường Bát Chánh Đạo. Giữ giới cũng giúp cá nhân tự kiềm chế những hành động bất thiện.

  3. Bhavana: Trau giồi hay phát triển tâm linh, thiền tập

  4. Hồi hướng phước báu cho người thân đã qua đời

  5. Tùy hỷ phước báu: Hoan hỷ với công đức hay thiện nghiệp do người khác làm

  6. Phục vụ người khác

  7. Khiêm tốn

  8. Chánh kiến

  9. Nghe pháp

      10. Giảng dạy Giáo pháp


Những gì chúng ta đang làm ngày hôm nay được gọi là dana hay bố thí. Sau khi chúng ta đã cho ra một vật gì đó tốt và quý giá thí dụ như tiền, chúng ta cảm thấy hài lòng vì chúng ta đã chiến thắng được sự ích kỷ, tham lam và keo kiệt của chúng ta. Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến chúng ta có nghĩa là chúng ta tham lam và ích kỷ, chúng ta luôn cảm thấy ham muốn và thèm khát. Bằng cách bố thí, chúng ta có thể khắc phục tâm tham và tự làm cho chúng ta hạnh phúc và thỏa mãn.


Trì Giới là tránh không làm hại người khác qua lời nói hoặc hành động như giết hại, trộm cắp, tà hạnh, nói dối và uống các chất say, những việc này có thể làm hại chúng ta và người khác. Giữ Giới giúp chúng ta loại bỏ sự căng thẳng, bồn chồn, lo lắng phát sinh từ các hành vi sai trái. Khi chúng ta nói dối, lừa đảo hoặc trộm cắp, chúng ta lo sẽ bị bắt và bị trừng phạt.


Thiền tập giúp thanh lọc các phiền não hay kisela như ham muốn, tham ái, sân hận và si mê ra khỏi tâm của chúng ta. Những phiền não này làm cho chúng ta phiền muộn và đau khổ. Thiền tập giống như giặt áo quần. Để thiền tập đạt được kết quả tốt, chúng ta hãy noi gương Đức Phật và các đệ tử cao thượng của Ngài, chúng ta cần có tâm định (Samadhi) và trí tuệ (panna) giống như chúng ta cần nước và bột giặt cho việc giặt quần áo.


Nhờ phát triển định và tuệ, Đức Phật cuối cùng đạt được sự Giác ngộ và sau đó trở thành một vị Phật, người đã tự mình khám phá ra con đường giải thoát – Pháp – cho chính mình sau một thời gian dài đã bị thế gian lãng quên. Ngài cũng trở thành một A la hán, bậc trong sạch, thanh tịnh và đáng cúng dường, bậc mà tâm đã giải thoát khỏi các phiền não (kisela), bậc đã loại bỏ tất cả 10 kiết sử (10 sợi dây)  trói buộc tâm của chúng ta với vòng sinh tử luân hồi, bậc mà trái tim mình không còn bị ràng buộc bởi các lậu hoặc (asava), và bậc sẽ mãi mãi không còn sự tái sinh. Cùng với sự Giải thoát, Đức Phật cũng nhận ra sự hạnh phúc tột cùng, hạnh phúc vượt trội mọi thứ hạnh phúc trên thế gian này như  sự giàu có, địa vị, sự khen ngợi hoặc các dục lạc. Cách duy nhất chúng ta có thể có được hạnh phúc tột cùng này là thông qua việc thực tập để phát triển tâm (bhavana), phát triển định và tuệ cho đến khi tâm nhận ra vimutti hay là sự giải thoát khỏi các hình thức đau khổ (dukkha).


Hồi hướng phước báu đến cho những người đã quá vãng có nghĩa là chia sẻ sự hoan hỷ phát sinh từ việc làm tốt hoặc đúng đắn của chúng ta. Những chúng sanh nhận được sự hồi hướng của chúng ta là những người đã qua đời và tái sinh và cõi giới peta – ngạ quỷ- những chúng sanh thuộc một cảnh giới thấp hơn, đôi lúc có khả năng hiện về với con người. Ngạ quỷ thường được mô tả trong nghệ thuật Phật giáo như là những chúng sinh đói khát với những cái miệng nhỏ như lỗ kim vì vậy chúng không thể nuốt đủ thức ăn để làm dịu cơn đói.


Chúng ta không thể hồi hướng phước báu cho những người đang sống vì họ có thể tự tạo phước báu có thể còn lớn lao hơn những gì chúng ta đang làm cho chính họ. Chúng sanh thuộc cảnh giới ngạ quỷ ngược lại không thể làm được việc này và phải dựa vào những người còn sống làm việc thiện để hồi hướng phước báu cho họ. Những chúng sanh tái sanh vào cõi người và cõi Trời đã tích lũy đủ thiện nghiệp nhằm giữ cho họ được thỏa mãn hoặc hạnh phúc hoặc họ có thể tự mình tạo thêm phước báu nếu họ muốn như vậy. Những chúng sanh tái sanh vào cảnh giới địa ngục cũng không thể nhận được sự hồi hướng phước báu của chúng ta vì họ đã hoàn toàn bị hủy hoại bởi ngọn lửa của sự đau khổ.


Những chúng sanh sống trong cảnh giới ngạ quỷ khao khát chúng ta hồi hướng phước báu cho họ giống như những kẻ ăn xin. Chỉ một chút xíu phước báu mà chúng ta tích lũy được cũng có thể chia cho họ, giống như chúng ta tặng ai một vé xe buýt hay một bữa cơm rẻ tiền. Vậy cũng đủ. Vì vậy, mỗi khi chúng ta làm điều gì đúng đắn hoặc tốt lành như làm từ thiện và muốn làm một điều gì đó cho những người đã quá vãng như các thành viên trong gia đình của chúng ta, bạn bè, chúng ta có thể hồi hướng phước báu này cho họ. Có thể họ đang đợi.


Đừng mong rằng sau khi chúng ta chết, người khác sẽ chia phước báu cho chúng ta. Cho dẫu họ có làm như vậy thì chúng ta cũng được rất ít. Chúng ta có thể tự tích lũy nhiều phước báu hơn cho chúng ta khi chúng ta đang còn sống như những gì chúng ta làm trong ngày hôm nay, đến chùa để cúng dường, giữ Giới và nghe Pháp thoại, làm những việc này, chúng ta sẽ nhận được nhiều phước báu hơn những gì mà chúng sanh ở thế giới ngạ quỷ nhận được. Mỗi khi chúng ta cúng dường, chúng ta nên chia phước đến những người đã quá vãng. Nếu họ đang đợi chúng ta chia phước cho họ, họ sẽ nhận được và chúng ta cũng nhận được nhiều phước báu hơn qua việc chia phước này.


Tùy hỷ công đức là hoan hỷ với những ai đã làm những việc đúng đắn hoặc tốt lành. Khi chúng ta bày tỏ sự cảm kích, chúng ta sẽ cảm thấy hoan hỷ. Hành động đúng đắn hoặc tốt lành không làm hại một ai, nó chỉ đem lại sự lợi lạc. Ngay cả nếu như ta không trực tiếp nhận được lợi lạc từ việc làm này, chúng ta cũng không nên cảm thấy ghen tỵ vì đó là một dạng của phiền não chỉ làm cho chúng ta cảm thấy đau khổ. Ngược lại nếu chúng ta hoan hỷ và bày tỏ sự ngưỡng mộ của chúng ta đối với việc làm tốt đẹp này, chúng ta sẽ hạnh phúc. Hành động đúng đắn hoặc tốt lành giống như sóng trên đại dương cuối cùng rồi sẽ đập vào bờ, không chóng thì chầy lợi lạc cũng sẽ đến với chúng ta. Khi một người trong cộng đồng hành động đúng đắn hoặc tốt lành, toàn thể cộng đồng đó sẽ được lợi lạc vì nó đem lại sự an toàn, yên ổn. Cộng đồng đó sẽ trở thành một cộng đồng tốt và sống an vui. Khi cộng đồng sống trong sự yên ổn, an vui thì chúng ta, những người sống trong cộng đồng đó sẽ được lợi lạc. Vì vậy khi chúng ta nhìn thấy những người có những hành động đúng đắn và tốt lành, chúng ta phải bày tỏ sự ủng hộ và ngưỡng mộ của chúng ta đối với họ.


Phục vụ người khác thì khá rõ rồi, vì vậy không cần phải đi sâu vào chi tiết.

Khiêm tốn là một loại đức hạnh làm chỉ cho người khác thương mến chúng ta, vì nó trái ngược tính kiêu ngạo chỉ đưa đến sự sân hận. Nếu chúng ta vẫn cần sự hỗ trợ và thiện chí từ người khác và không muốn bị mọi người xa lánh, chúng ta nên tỏ ra khiêm tốn.


Có chánh kiến là hiểu quy luật thiên nhiên (nhân quả) hay chân lý chi phối sự hiện hữu của chúng ta, như attahi attano nadho, chúng ta là nơi nương tựa của chính chúng ta, vì chúng ta chính là người tự làm cho mình hạnh phúc, buồn, tốt, hoặc xấu. Khi chúng ta hiểu được điều này, chúng ta sẽ biết cách sống sao cho được hạnh phúc và thịnh vượng, vì chúng ta hiểu rằng qua các hành động đúng đắn hoặc tốt lành, chúng ta sẽ được hạnh phúc và nếu chúng ta hành động sai trái hoặc bất thiện, chúng ta sẽ chịu đau khổ.


Nếu chúng ta tin vào quy luật thiên nhiên này và hành động một cách có đạo đức, chúng ta sẽ có được hạnh phúc và kết quả thuận lợi. Nếu chúng ta không tin, nhưng vẫn hành động đạo đức, chúng ta cũng sẽ gặt hái những lợi ích tương tự. Nhưng nếu chúng ta không tin và hành động vô đạo đức,  chúng ta chắc chắn sẽ có một kết quả không thuận lợi. Nếu chúng ta tin, chúng ta chắc chắn sẽ không dám hành động sai trái. Những người tin  sẽ được hưởng sự  lợi từ  lạc quy luật thiên nhiên này trong khi những người không tin sẽ không được hưởng sự lợi  lạc vì họ có khả năng sẽ hành động không đúng đắn.


Bị dẫn dắt bởi các phiền não như giận dữ, tham lam và si mê , họ thường hành động sai trái hoặc xấu ác vì  họ không tin vào thiên đàng hay địa ngục, không tin vào sự sự tái sinh cũng như không tin vào sự gặt hái những quả của nghiệp của họ trong kiếp sau. Điều này là do những người này có quan điểm sai trái về quy luật thiên nhiên và nó sẽ đẩy họ vào cái vòng trầm luân của sự tái sinh và chịu đau khổ bất tận, kết quả từ các hành động bất thiện của họ, do họ không có khả năng loại trừ được sân hận, tham ái và si mê.

Ngược lại, những người có quan điểm đúng về chân lý sẽ biết rằng chính những  nghiệp bất thiện của mình  tạo ra những hậu quả bất lợi mà tự họ sẽ phải gánh chịu. Họ sẽ hành động đúng đắn và tốt lành  bởi vì họ không muốn gặt hái những kết quả không mong muốn. Bằng cách tiếp tục hành động có đạo đức, tâm  của họ sẽ dần dần tiến hóa cho đến khi đạt đến cùng một mức  mà Đức Phật và các đệ tử cao quý của Ngài đã đạt được.


Nghe Pháp là một kinh nghiệm rất lợi lạc  vì Giáo Pháp là giống như ngọn đèn trong bóng tối sẽ xua tan ảo tưởng trong tâm trí của chúng ta đã làm chúng ta mê mờ không thấy được chân lý. Chẳng có lợi ích nào thu được từ việc kết giao với những người lừa dối. Chúng ta thay vào đó nên gắn bó với những người không lừa dối, như Đức Phật và các đệ tử cao quý của Ngài, những người đã thấy được ánh sáng của Giáo pháp và nhờ đó họ biết phân biệt phải trái, tốt xấu. Nếu chúng ta thường xuyên nghe họ giảng dạy Giáo Pháp, chúng ta sẽ có kiến thức, trí tuệ và cái thấy sâu sắc, chúng giúp cho chúng ta chỉ làm những gì là tốt và đúng và do đó sẽ tạo ra kết quả tốt và thuận lợi. Với những lý do này,  nghe nói Pháp là một cách khác để tạo phước báu.


Giảng dạy Giáo Pháp cho người khác là một cách khác nữa để tạo công đức. Nếu chúng ta biết về Giáo pháp, cho dẫu chỉ một chút thôi, chúng ta cũng nên dạy cho người khác. Khi một người nào đó chúng ta biết rơi vào thời kỳ khó khăn và không biết làm thế nào thoát ra khỏi tình trạng khó khăn đó, một vài lời khuyên từ  Giáo pháp có thể vô cùng hữu ích, và có thể tạo cho người đó sức mạnh để thực hiện chúng.

Ngày nay, chúng ta  thiếu Giáo pháp. Khi gặp khó khăn, chúng ta không biết quay vào đâu để tìm sự hỗ trợ và khích lệ  bởi vì chúng ta đã không  đi đến các chùa  để nghe giảng dạy Giáo Pháp, để rèn luyện và  phát triển tâm ý của chúng ta. Vì vậy, khi chúng ta rơi vào khó khăn, chúng ta không biết làm thế nào để đối phó với chúng trong khi thực tế tất cả chúng đều có thể dễ dàng giải quyết việc ấy nếu chúng thể chấp nhận được sự thật rằng bất cứ điều gì nếu sẽ như vậy thì sẽ là như vậy.


Chúng ta phải đối mặt với thực tại. Bất cứ điều gì chúng ta làm, chúng ta sẽ phải trả giá cho nó sớm hay muộn. Nếu chúng ta đã làm một điều gì sai trái, hãy chấp nhận nó và sẵn sàng để đối mặt với những hậu quả. Nếu chúng ta mất mọi thứ, hãy chấp nhận như vậy. Nếu chúng ta nghĩ được như vậy, sẽ  không có ai tự tử.


Nhưng ngày nay,  khi chúng ta  phải đối mặt với kết quả không thuận lợi, chúng ta không biết phải làm gì ngoại trừ suy nghĩ tự hủy hoại mình để thoát khỏi cái kết quả đau khổ mà không nhận ra rằng chúng ta chỉ có thể giết chết cơ thể mà thôi. Tâm sẽ tiếp tục đau khổ trong địa ngục. Khi chúng ta được tái sinh trở lại làm một con người , chúng ta sẽ lại tự tử khi chúng ta rơi vào những khó khăn mà chúng ta không thể đối phó với chúng. Đức Phật dạy rằng cứ mỗi lần  tự tử theo sau đó sẽ là 500 vụ tự tử khác trong những kiếp sống tương lai của con người bởi vì nó là thói quen được hình thành.


Cách duy nhất để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này là nương tựa vào Pháp và sử dụng nó để đối phó với nghịch cảnh của chúng ta . Sử dụng sự kiên nhẫn, nhẫn nại và khoan dung để đối mặt với vấn đề của chúng ta, cho dẫu vấn đề có nghiêm trọng thế nào đi nữa. Chúng ta không được trốn chạy, thậm chí nếu điều đó có nghĩa là vào tù, hoặc bị kết án, chỉ cần nghĩ về nó như là hậu quả của nghiệp bất thiện của chúng ta trong quá khứ. Một khi đã thanh toán xong,  nó sẽ ra đi mãi mãi.


Hầu hết chúng ta có lẽ nghĩ rằng tạo phước báu là chỉ làm việc từ thiện, trong thực tế có những cách khác để có tạo phước báu. Giống như khi ăn, chúng ta không chỉ ăn cơm thôi,  chúng ta còn ăn rau và trái cây. Cơ thể của chúng ta cần năm nhóm thực phẩm để được mạnh mẽ và khỏe mạnh. Tương tự như vậy, tâm của chúng ta chỉ sẽ phát triển nếu chúng ta tu tập mười cách để tạo thiện nghiệp. Vì vậy phận sự của chúng ta là đưa những gì chúng ta nghe ngày hôm nay vào sự thực hành. Sau đó và chỉ sau đó chúng ta mới gặt hái những kết quả thuận lợi đem lại cho chúng ta hạnh phúc và sự thịnh vượng.

Theo: Ten ways to make merits
Người dịch: Pañña Dīpa Tuệ Đăng


VLCĐ: Nỗi buồn của Đức Phật A Di Đà : Trong Kinh A Di Đà có đoạn nói: “cõi nước của Đức Phật A Di Đà cho đến tên của ba đường ác còn không có huống chi là thật có ba đường ác...”, chỉ vậy thôi chúng ta đã thấy rằng, nếu là như trên, phiền não dẫy đầy, bán tín bán nghi, tự mình làm khổ mình, gây ra phiền não hoang mang cho người khác, thì làm sao có thể vãng sanh về Cực Lạc, thật là không biết mình đang niệm Phật gì và vãng sanh về đâu?.

Đức Phật Di Đà Ngài Buồn Dữ Lắm

Thích Tâm Mãn (Chùa Minh Thành - Pleiku)

Sáng nay mấy con chim sáo cứ luyên thuyên đủ điều, ríu ra ríu rít trên mái tháp trước sân chùa, nghe thật là vui nhộn, mấy giọt nắng sớm chiếu thẳng xuống mặt hồ, chiếc lá thu rụng nhẹ làm lay động mặt nước, đánh thức con cá vàng còn ngáy ngủ quẩy đuôi, "Tách" một tiếng vang nhẹ làm bừng tỉnh thế giới, một buổi sáng lại về trên Tịnh Độ của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca.

  Đức Phật A Di Đà và Tây phương thánh chúng

Tôi thắp một tuần hương dâng lên cúng dường Phật, rồi châm một chén trà phụng hiến Đức Từ Tôn, mùi hương trà lan nhẹ, khói trầm quyện đung đưa, không gian như lắng lại, đợi chờ. Hôm nay chùa có khách, một vị hành giả tu Tịnh độ trên đường vân du ghé qua chùa vấn đạo, đàm thiền, có chút nỗi niềm về "Niệm Phật" muốn trao đổi, tỏ bày lo lắng những chuyện thật buồn của Đức Phật Tây Phương A Di Đà.

Là pháp lữ đồng tu Pháp Môn Tịnh Độ, là hành giả thuần thành kính tín niệm Phật, phát nguyện vãng sanh, cho nên chúng tôi rất nhiều tâm đắc về Tịnh Độ, cứ mỗi độ hè sang thu đến, ba tháng an cư tịnh nghiệp viên mãn, thầy trên đường trở về bổn xứ thường ghé qua chùa để hàn huyên sở đắc, vì thế rất nhiều điều tôi được hiểu từ thầy và cũng không ít điều từ sự tín tâm của thầy với Đức Phật A Di Đà làm tôi phải kính phục, đôi khi tôi còn phải hỏi lại chính mình.

Là hàn huyên nên lời thường mộc mạc, là vấn thiền nên ngôn ngữ giản đơn, nhưng cũng có đôi lời khiến người nghe phải suy nghĩ, lại thêm mấy ý ẩn dụ tâm thiền nên khiến người nghe phải bật cười trong nỗi niềm lo âu. Vừa mới chào nhau, cuối đầu lễ Phật, ngồi xuống, tách trà rót chưa xong, bồ đoàn chưa yên toạ, Thầy liền bảo tôi rằng có nghe gì không? Tôi bảo có gì đâu mà nghe! Không nghe gì sao? nghe nói Đức Phật Thích Ca đang buồn Đức Phật A Di Đà.

Tôi đáp: làm gì có chuyện đó! Thầy bảo thật đó, vì nghe đâu các vị tu hành Niệm Phật khuyên những tín chúng của mình nên bỏ quy y với Phật Thích Ca chỉ cần quy y với Đức Phật A Di thì mới được vãng sanh Tịnh Độ, tôi trố mắt ngạc nhiên hỏi, sao lại có chuyện như vậy, thầy bảo chẳng những có thật mà còn đang được tuyên truyền dẫy đầy ở hầu hết khắp đạo tràng tu Pháp Môn Niệm Phật vãng sanh ở Việt Nam.

Thầy bảo tôi: đúng thật là ngớ ngẩn! Tôi hỏi Thầy, Thầy thường đi nước ngoài, điều kiện trước tiên Thầy muốn xuất cảnh thì cần phải có cái gì, Tôi đáp phải có hộ chiếu, Thầy lại hỏi không có hộ chiếu thầy có thể xuất cảnh được không? Tôi bảo không. Thầy nói tiếp, ai cấp hộ chiếu cho thầy, Tôi bảo nhà nước Việt Nam, thầy cần có những điều kiện để được cấp hộ chiếu? điều trước tiên phải là một công dân tốt, yêu đất nước yêu quê hương, chấp hành hết thảy các quy định cũng như pháp luật mà nhà nước đã ban hành, thì được cấp hộ chiếu và nếu có hộ chiếu rồi thì mới đi xin visa nhập cảnh của nước mà mình muốn đến, các nước đó họ cũng dựa theo sự chấp nhận của nhà nước của mình, để họ cấp visa cho phép chúng ta nhập cảnh vào nước của họ.

Thầy cười bảo tôi: đó thầy thấy chưa, chúng ta là những người tu hành theo pháp môn của Đức Phật Thích Ca chỉ dạy, là chúng sanh của cõi Ta Bà do Đức Phật Thích Ca làm giáo chủ, mà chúng ta không quy y Ngài, không tu học theo kinh điển của Ngài chỉ dạy, như vậy chúng ta đã là một công dân tốt của cõi Ta Bà hay chưa? nếu là chưa sao chúng ta có thể đầy đủ tư cách làm công dân cõi Ta Bà và lấy nhân duyên phước báo nào để đủ điều kiện cho Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về cảnh giới Cực Lạc.

Như vậy nếu như thầy thấy hướng dẫn mọi người tu hành không quy y Phật Thích Ca, chỉ quy y Đức Phật A Di Đà, không tụng kinh điển nào khác ngoài kinh Vô Lượng Thọ, thì có khác gì là người "Vong bổn" không biết mình là người nước nào, luật lệ nước nhà thì không đọc không hiểu, không làm người công dân tốt ở nước mình, mà cứ suốt ngày đọc học luật lệ của nước khác và cứ muốn đi ra nước ngoài ở, làm công dân ở nước đó, liệu có thể được không? và một người như vậy, liệu rằng nước mà họ muốn đến người ta có chấp nhận không? thật là buồn .

Chư Phật chỉ có một tâm là "Bình đẳng không phân biệt" chư Phật chỉ có một niệm là "Từ bi phổ độ" thì làm gì có chuyện phân biệt rằng đệ tử nào quy y tôi thì tôi mới tiếp dẫn còn quy y người khác thì tôi không có trách nhiệm, nếu như vị Phật nào đó mà có tâm niệm như vậy thì đúng là ma hoá Phật, không thể là Phật của chúng ta và cũng chưa đủ phước báo để chúng ta quy ngưỡng là Phật. Có người lại hiểu Phật như vậy, thầy thấy có buồn không?

Đạo đức truyền thống của thế gian cũng dạy rằng "cây có cội, nước có nguồn, làm con cháu phải biết hiếu kính ông bà cha mẹ, phải biết cội gốc của mình" chúng ta học Phật thì điều này cần thêm tinh tấn, chớ có đâu vì chuyện vì muốn được vãng sanh về cõi Cực Lạc mà xúi người ta bỏ Phật Thích Ca theo Phật A Di Đà thì còn gì là đạo nghĩa, rồi chỉ đọc kinh nói về Phật A Di Đà mà không biết rằng tất cả những điều mà ngày nay có thể tu tập niệm Phật vãng sanh đều là tâm huyết, đều là tình thương vô lượng của Đức Phật Thích Ca dành cho chúng ta.

Đức Phật Thích Ca Ngài biết rằng, chúng sanh đời mạt pháp khó tu khó chứng, cho nên Ngài giới thiệu đến cảnh Cực Lạc và nhờ Đức Phật A Di Đà thâu nhận chúng ta, tạo điều kiện để chúng ta tu tập và Đức Phật Di Đà biết đến chúng ta tiếp độ chúng ta, cũng là do từ Đức Phật Thích Ca mà ra, sao chúng ta là quay ngược lại bỏ Phật Thích Ca theo Phật A Di Đà, làm như vậy theo đạo đức của thế gian còn không chấp nhận được hà huống chi là người tu học Phật Pháp, sao lại có những ý niệm như vậy thật không thể hiểu được? buồn lắm vậy.

Tôi hỏi thầy nếu là như vậy có buồn không? Buồn chớ sao không! Đức Phật Thích Ca thì buồn cho những chúng sanh của cõi mình "tham quý phụ bần", còn Đức Phật A Di Đà buồn cho những chúng sanh cõi Ta Bà "Vong ân phụ nghĩa" nếu đã là như vậy chúng ta còn đủ nhân duyên phước báo để được vãng sanh hay không? Đức Phật Di Đà còn hoan hỷ tiếp dẫn chúng ta nữa hay không? Thật là buồn vậy.

Thầy lại bảo trong Kinh A Di Đà có đoạn nói: "cõi nước của Đức Phật A Di Đà cho đến tên của ba đường ác còn không có huống chi là thật có ba đường ác...", chỉ vậy thôi chúng ta đã thấy rằng, nếu là như trên, phiền não dẫy đầy, bán tín bán nghi, tự mình làm khổ mình, gây ra phiền não hoang mang cho người khác, thì làm sao có thể vãng sanh về Cực Lạc, thật là không biết mình đang niệm Phật gì và vãng sanh về đâu?.

Đức Phật Thích Ca chắc sẽ buồn lắm vì đệ tử mình không hiểu về lời dạy của mình, hay là không muốn hiểu, cố làm méo mó Chánh pháp của Phật, dẫn dắt mọi người đến bến bờ của phiền não khổ đau. Đức Phật Di Đà lại còn buồn hơn, tại sao chúng sanh ở cõi Ta Bà lại không hiểu như thế nào là Cực Lạc, lại biến cảnh giới Cực Lạc của mình thành nơi phiền não, nơi để cho những người "Vong bổn", "tham quý phụ bần" hay là "Vong ân phụ nghĩa" tụ tập đem đến những điều phiền não của thế gian vào, mà họ có biết đâu rằng tất cả những gì họ lập ra và hướng dẫn cho người khác, rồi tự mình cho là điều kiện tiên quyết nhất để vãng sanh về cảnh giới Cực Lạc, đều là nguyên nhân đưa đẩy họ đến cảnh giới phiền não của ma, ôi thật là buồn.

Nói đến đây, hình như nỗi buồn của Đức Phật A Di Đà cũng bắt đầu làm chúng tôi cảm thấy nao nao, bao nhiêu nổi vấn vương trên bước đường tu học lại thêm một lần phải suy nghĩ, tại sao lại có hiện tượng này? tại sao lại có người lại coi rẻ Phật tánh của mọi người như vậy, họ vì một nguyên nhân gì? hay một lý do gì? hay một chuyện khó hiểu nào đó để rồi huỷ báng Chánh pháp, khinh rẻ Đại Thừa, nếu đúng là như vậy thì Phật Di Đà hay Phật Thích Ca cũng đều buồn như nhau không ai hơn ai, thật là đáng buồn vậy.

Mùa thu năm nay có khác gì mùa thu năm ngoái, cũng lá vàng cũng hiu hắc gió heo may, nhưng câu chuyện mùa thu năm nay sao thật buồn quá đổi, chén trà nguội lạnh, lò trầm không hương, chúng tôi im lặng miên man trong nỗi buồn của Chư Phật, hướng tâm về Cực Lạc để cầu Phật xót thương.

Nguyện Đức từ bi năng nhân tế độ, thương xót dắt dìu người mê muội thoát cảnh mông lung, hộ trì cho Chánh pháp trụ thế mãi trường tồn, Pháp môn Niệm Phật ngày thêm tươi sáng, để tất cả ai cũng được vun trồng nhân duyên "Tín Hạnh Nguyện", để rồi đầy đủ nhân duyên phước lành được Phật độ vãng sanh. Còn nếu như không thì cảnh "thân người khó được, Phật Pháp khó nghe" sẽ không còn xa nữa, và cứ niệm như rùa mù bơi tìm thân cây mục trong biển khổ vô bờ thì thật là buồn thảm thay.



VLCĐ: Ánh Sáng Niềm Tin Với Giới Trẻ: Quá trình tu học Phật pháp của giới trẻ, là “hành trình của niềm tin”, hãy vượt mọi trở lực dũng tiến theo pháp môn “việc lành nhỏ không bỏ, việc ác nhỏ không làm” để “vượt khó” vững tin mà bước vào “con đường bát chánh”… không gian sông núi Phật pháp sẽ “hừng sáng” theo từng nhịp tim của các bạn

9. 4. Giải quyết một vài vần đề :

* Với tứ ân :

Khi bạn đã quy y Tam Bảo thọ trì ngũ giới cấm, bạn là người có trình độ học vấn, việc làm ổn định, hạnh phúc trong hôn nhân, cần có sự hiếu thảo với mẹ cha, tôn kính Thầy học đạo, là bạn tốt với quần chúng, bảo vệ quê hương, hộ quốc an dân thì bạn sẽ được chào đón một tương lai huy hòang rực rỡ.
 

* Công danh và thành đạt :
Đạo Phật là đạo giải thóat, người thực hiện tiêu chí giải thóat là chư tôn đức Tăng Ni, cư gia là những người nối gót, hổ trợ cho chư Tôn Đức Tăng Ni, nên rất có những lực tu hành theo tiêu chuẩn Tam quy ngũ giới, Bát quan Trai giới, Thập thiện giới… Ngòai việc trong Đạo các vị Phật tử trẻ hôm nay cần phát huy công danh sự nghiệp cho vững vàng, dù học ít hay nhiều, nhưng các bạn phải chọn cho mình một sự nghiệp vững chắc để được thành đạt.

Các bạn là những bức thành trì kiên cố bảo vệ chánh pháp, trách nhiệm của các bạn phải thành đạt sự nghiệp, thành tựu vai trò cư gia mới xứng danh là “rường cột” và có cơ sở bảo vệ chánh pháp.

* Người con Phật cũng biết làm giàu :
Hãy làm giàu hợp pháp, chân chính, không chỉ vì ham giàu mà làm việc phi pháp, quả báo liền đến cắt đứt tương lai các bạn. Là Phật tử bạn biết cách làm giàu cho bản thân và gia đình, thì cũng phải biết cách làm giàu cho xã hội quần chúng, chính đấy là bốn mươi tám lời nguyện của Đức Phật A Di Đà đã phát thệ nguyện “xây dựng thế giới an vui cho chúng sanh” trong kinh Vô Lượng Thọ. Mình thóat nghèo, dốt nát làm cho mọi người thóat nghèo, dốt nát chính đó là tiêu chí giải thóat tòan diện, y báo và chánh báo của thế giới Tây phương Cực Lạc xuất hiện trước mắt bạn và mọi người.
 

* Kiến thức và học vị :

Ở vào thời trung cổ, là thời gian văn minh vật chất khoa học chưa cao, sự đòi hỏi cho nhu cầu cuộc sống chưa có, tri thức con nguời còn nguyên vẹn, thiên tài kiến thức hay xuất hiện giải quyết thành tựu mọi vấn đề nhưng học không cao. Ở thế kỷ 21 là khõang thời gian dành cho các bạn trẻ, kiến thức và học vị là một trong những cấu trúc trọng yếu của xã hội, nếu bạn thiếu nó, không phát huy tri thức ngang với cuộc sống chung trong mọi tầng lớp, thường thì tạo nên lổ hỗng rất lớn, đến độ xảy ra chiến tranh, các quốc gia tranh lấn đường biên giới, tranh chấp quyền bính, thiếu vắng đạo đức…

Vì vậy khi được nuôi lớn lên trong gia đình, bạn cần phải chuyên tâm trì chí đến trường tinh chuyên học tập, theo xã hội hiện nay, bạn mù chữ thì xem như người khiếm thị không thấy ánh sáng, học ít thì chẳng làm được gì, Bạn cần học tập đạo đức, phát huy tri thức đi đôi với học vị, như đảnh ba chân sẽ đứng vững. Đạo đức kiến thức và học vị sẽ giúp bạn thành đạt.
 

* Việc hôn nhân :

Ngày nay trong xã hội Phật giáo có một vài vấn đề nổi cộm mà mọi người, nhất là Phật tử cần quan tâm, nhưng rất ái ngại trong việc tham vấn học Phật Pháp, nên khi gặp phải hòan cảnh xuất hiện thì âu lo bất ổn, đó là vấn đề hôn nhân với người thuộc “tôn giáo bạn”.

Việc kết hôn với gia đình Phật Tử thì không phải luận bàn, nhưng kết hôn với người bên “tôn giáo bạn” có phạm quy nhà Phật hay không ? Nếu vì mưu cầu hạnh phúc mà Phật tử kết hôn với “bạn đời” là người thuộc “tôn giáo bạn” thì Phật tử nên theo “tôn giáo bạn”, nhưng bạn cần phải bảo trì quy giới, năm giới mà các bạn đã phát nguyện thọ trì. Người Phật tử cần có sự hiểu biết về cương lĩnh giáo pháp của Phật, khi bạn trì giới thì dù ở hòan cảnh nào thì bạn vẫn là Phật tử thuần thành. Sau khi kết hôn hãy dùng lòng yêu thương từng bước một mà giúp “bạn đời” tìm hiểu ý nghĩa sâu rộng của Phật Pháp, sống đúng chánh pháp. Làm một Phật tử tốt thì dù sống trong môi trường nào cũng là Phật tử tốt, chính đó là tâm quyết với Phật, cũng chính là sự biểu hiện sự chung thủy của Phật tử càng yêu “người bạn trăm năm của mình”, xóa tan những dị biệt cục bộ, lạc hậu.
 

9. 5. Ánh sáng niềm tin :
Quá trình tu học Phật pháp của giới trẻ, là “hành trình của niềm tin”, hãy vượt mọi trở lực dũng tiến theo pháp môn “việc lành nhỏ không bỏ, việc ác nhỏ không làm” để “vượt khó” vững tin mà bước vào “con đường bát chánh”… không gian sông núi Phật pháp sẽ “hừng sáng” theo từng nhịp tim của các bạn

Bao nhiêu sông nước bao trăng hiện
Mấy dậm mây tan mấy dậm trời
Sự giải thóat thật sự đến với các bạn, giải thóat từng hơi thở, niềm tin yêu xuất hiện trên cuộc đời, không còn một ràng buộc nào có thể giữ bạn lại. Chúng ta cũng không còn “tụt hậu”, bạn đã bước đến tương lai nơi chân trời mới, sau một giấc ngũ dài khi tỉnh dậy

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Cho ta thêm một ngày nữa, sống đễ yêu thương.
 

Qua phần trình bày, trao đổi nầy dù chưa giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội đặt ra cho các Phật tử trẻ. Tuy nhiên cũng có thể giúp các bạn làm hành trang vào đời sẳn sàng lắng nghe, học tập những kinh nghiệm các ứng xử hay đẹp để phát triển và thành đạt trong cuộc sống.

HT Thích Giác Quang


VLCĐ: Không có phước đức nào lớn bằng sự thông thái của trí tuệ, bằng trí tuệ con người sẽ thấy chỉ có sự hòa hợp, cảm thông và tình thương mới giải quyết được những vấn đề của nhân loại chứ không phải bạo lực, o ép, khống chế, cấm vận, đe dọa. Không có gì tốt lành cho bằng các thiện tri thức ngồi chung với nhau.

Đối với người đời, không có phước đức nào lớn cho bằng vợ đẹp, con khôn, của cải đầy kho, quyền thế, danh vọng, ăn ngon mặc đẹp…

Thế nhưng bạn ơi, 

-Biết bao nhiêu ông thủ tướng, tổng bộ trưởng bị tù đày vì tham nhũng, gian trá, lạm quyền…thậm chí buôn lậu, dâm ô. Biết bao nhiêu ông tổng thống bị ám sát, lật đổ cũng chỉ vì tranh giành quyền lực.

-Ông bố đốt tờ giấy bạc mà người nghèo có thể mua bao gạo để tìm một món đồ cho cô đào cải lương đánh rơi trong phòng trà…vài chục năm sau ông con lại sống như kẻ ăn mày.
 

-Ông bố cặm cụi làm việc suốt đời tao dựng gia tài khổng lồ. Ông con trở thành “công tử” ăn chơi phung phí, bao gái, đua đòi, ném tiền qua của sổ…chẳng mấy chốc phá nát sự nghiệp của cha ông.
 

-Bố mẹ quyền cao chức trọng, ông con không chịu học hành mở mang kiến thức, vòi tiền bao gái, tụ họp băng đảng, lái xe đua lượn trên đường phố, nghiện ngập xì ke ma túy cuối cùng “con dại cái mang” bố mẹ mất chức, tiếng xấu để đời.
 

-Ông chồng quyền cao chức trọng, bà vợ tưởng mình là “vua” lợi dụng quyền thế, đỡ đầu sòng bài, buôn lậu, mua quan bán chức…dân chúng oán than, báo chí phanh phui, cuối cùng thì ông chết, dân chết chứ bà không chết…Tên tuổi những “ác phụ” này còn lưu truyền cho tới bây giờ.
 

-Bà làm thủ tướng đóng vai thanh sạch, ông ở nhà tưởng không làm gì cả nhưng thực sự lại là “thủ tướng trong bóng tối” sắp xếp mọi chuyện… cuối cùng bà bị dân chúng tố cáo phải lưu vong. Hãy cứ qua xứ Pakistan hỏi xem bà là ai?
 

-Bố mẹ làm ăn chắt chiu cả đời để lại gia tài cho con nhưng di chúc không rõ ràng hoặc không di chúc, anh chị em không nhường nhịn nhau, đưa nhau ra tòa, có khi giết nhau…máu mủ chia lìa. An em giết nhau để tranh đoạt ngôi vua, tranh đoạt gia tài là chuyện thường tình của thế gian.
 

-Ông nghèo thì gia đình êm ấm. Khi ông giàu có lên thì gái đẹp, ca sĩ, đào cải lương, người mẫu nó bu vào cuối cùng ông “đá văng” người vợ già thời “tấm mẳn” ra ngoài đường…gia đình tan nát.
 

-Bà nghèo thời còn chân lấm tay bùn thì khép nép bên chồng. Khi bà giàu lên theo thói “trưởng giả học làm sang” sửa sang sắc đẹp, trưng diện,hát Karaoke…nhìn lại ông chồng cũ thấy sao quê mùa quá. Thế là bà rước trai tơ về nhà, có khi âm mưu giết chồng để chiếm đoạt tài sản và vui vầy duyên mới. Phải chăng có khi nghèo mà hạnh phúc, giàu là thảm họa?
 

-Bà hết lòng lo cho ông ra tranh cử tổng thống  để hy vọng làm đệ nhất phu nhân. Có ngờ đâu tiền vận động tranh cử ông chuyển cho “cô bồ” chuyên chụp ảnh cho ông rồi có con với bà này. Ông dấu diếm mãi cuối cùng báo chí phanh phui, bà vợ hận quá nạp đơn ly dị, cuối cùng chết vì ung thư vú. Ông bị dân chúng nguyền rủa. Hãy cứ qua Mỹ hỏi xem ông ứng cử viên tổng thống đẹp trai này là ai. Câu hỏi đặt ra là…nếu ông không ra ứng cử tổng thống và chấp nhận vị thế thượng nghị sĩ thì có lẽ ông bà sẽ sống với nhau rất đẹp cho đến ngày bà qua đời. Ôi cái  “mịch phong hầu” tìm công danh sự nghiệp nó tàn hại người ta!
 

-Ông dùng tiền mua rồi chắt chiu, nâng niu từng món đồ cổ rồi hãnh diện trưng bày cho mọi người xem. Có ngờ đâu khi ông chết đi, ông con không chuộng đồ cổ, bán hết để mua đấu giá quần áo, đồ lót, các món lặt vặt của các nữ tài tử Hollywood nổi tiếng đã chết hay các bức thư tình của các bà hoàng, vợ tổng thống năm xưa… giá cả trăm ngàn có khi cả triệu đô-la. Nếu ông sống lại chắc ông sẽ “buồn năm phút” và chửi rủa ông con bất hiếu!

Bạn ơi, trí tuệ là của cải khổng lồ vô tận, còn của cải vật chất như gió thoảng mây bay:

-Bằng trí tuệ con người có thể “đằng vân” bằng máy bay, lặn dưới nước như cá bằng tàu ngầm, đi trong lòng đất bằng đường hầm, chạy phoong phoong trên mặt đất còn hơn cả ngựa bằng xe hơi, xe hỏa và khám phá vũ trụ bằng phi thuyền, hỏa tiễn.
 

-Bằng trí tuệ con người có thể tìm kiếm thêm những tài nguyên trong lòng đất, dưới lòng biển như dầu hỏa, khí đốt, than đá, quặng mỏ, đất hiếm v.v…Và trong tương lai có thể tìm kiếm thêm nguyên liệu trên hỏa tinh, mặt trăng để bù đắp cho khối lượng tài nguyên trên mặt đất ngày ngày càng khô cạn.
 

-Bằng trí tuệ con người đã khám phá ra biết bao “thần dược” để cứu nhân độ thế, chữa bệnh nan y, lắp ghép cơ thể, chữa bệnh hiếm muộn, kéo dài tuổi thọ v.v…
 

-Bằng trí tuệ con người có thể khám phá sự hình thành vũ trụ qua học thuyết “Big Bang” chứ không phải do một ông thần nào hóa phép.
 

-Bằng trí tuệ con người sẽ thoát khỏi ám ảnh của “thần quyền” đã thống ngự con người mấy ngàn năm nay. Giáo chủ của một tôn giáo có thể đem lại niềm tin nhưng không thể cứu lành bệnh tật. Nếu có thể cứu lành bệnh tật thì có lẽ chúng ta chẳng cần đến đại học y khoa, bác sĩ, thuốc men, bệnh viện mà chỉ cần dựng tượng vừa rẻ tiền, vừa đỡ tốn ngân sách quốc gia vửa đỡ tranh cãi um sùm trong quốc hội.
 

-Bằng trí tuệ con người sẽ thấy chỉ có sự hòa hợp, cảm thông và tình thương mới giải quyết được những vấn đề của nhân loại chứ không phải bạo lực, o ép, khống chế, cấm vận, đe dọa.
 

-Một đất nước mà có nhiều trí thức, khoa học gia sẽ khối là tài sản vô giá và từ từ sẽ thống trị thế giới.

-Trí tuệ là biển cả mênh mông ai cũng có thể vào. Không ai có quyền ngăn cấm ai, hoàn toàn miễn phí (free).

- Biển trí tuệ là Biển Tự Do và cao cả nhất và giải thoát nhất.  Sụ cùm kẹp hay u tối của trí tuệ là nỗi bất hạnh nhất của con người.

-Không có gì tốt lành cho bằng các thiện tri thức ngồi chung với nhau.

-Do đó không có gì nguy khốn cho bằng sự tập họp của ngu dốt và hung ác. Khi đó đất nước sẽ tan nát, hận thù chia rẽ,chiến tranh, tài nguyên thiên nhiên bị phá hủy, bán rẻ bởi các lãnh chúa “war lord”. Sinh mạng người dân sẽ như con giun, cái kiến..Và đất nước sẽ biến thành địa ngục.
 

Bạn ơi,

Theo đạo Phật, của cải vật chất là “hữu lậu” tức sinh phiền não. Còn trí tuệ là của cải “vô lậu” không phát sinh phiền não.

Các thiện trí thức, khoa học gia của thế giới đang cống hiến trí tuệ cả đời mình cho nhân loại đều có cuộc sống khiêm tốn. Trong khi các đào hát, điện ảnh, ca sĩ, người mẫu trong kỹ nghệ giải trí (entertainment) mua vui “khóc cười” trong giây lát cho nhân thế hầu hết đều sống ồn ào, dâm ô, trụy lạc.
 

Chư Phật chư vị Bồ Tát sống trong biển trí tuệ còn chúng sinh ngụp lặn trong biển ái dục.

Chư Phật chư vị Bồ Tát tạo dựng sự nghiệp bằng Trí  Tuệ. Chúng sinh tạo dựng sự nghiệp bằng của cải vật chất hiện giờ đang được đo bằng đô-la, xe cộ, iPhone, iPad…

Thế nhưng cũng xin bạn nhớ cho, Trí Tuệ phải đi đôi với Từ Bi. Trí tuệ mà không được đạo đức soi đường cũng là thảm họa, trước hết cho chính tâm hồn mình, sau đó là cho nhân loại.
 

Bạn ơi xin bạn nhớ cho:

Không có thứ phước đức nào lớn cho bằng sự thông thái của trí tuệ. Có trí tuệ là có tất cả.

Đào Văn Bình
(California ngày 20/10/2014)

VLCĐ: Trụ thế: 83 năm, 63 năm cống hiến cuộc đời cho đạo nghiệp.Từng đấy thôi ta cũng có thể hình dung ra viễn cảnh thăng trầm trong cuộc đời người tu sĩ : Cố Hòa Thượng THÍCH THIỆN NHƠN (Bình Định) đã vận cùng với thăng trầm của đất nước. Với bản nguyện Chùa là nhà, thế gian là bạn hữu, nên bước đường đạo nghiệp của Ngài đâu đó cũng để lại trong ký ức mỗi người ít nhiều những kỷ niệm.


Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-01

Một đôi dòng tưởng niệm, Kính dâng lên Ngài với lòng thành kính tưởng niệm một vị thạc đức chân tu. Vị Hòa Thượng Chứng minh Trang Vô Lượng Công Đức.

Tôi gặp Ngài từ hồi còn bé, khi ấy thường hay đu tuột trên tay vịn của chiếc cầu thang gỗ ở Chùa Khải Đoan. Giọng vói ôn tồn, khàn khàn rất đặc biệt, chỉ là khuyên nhủ đừng nên đu đeo mà té cũng khiến cho tôi sợ chết khiếp đi được. Rồi thế sự thăng trầm, các Ngài luân phiên dời đổi công việc Phật sự của mình, tôi không còn gặp Ngài nữa. Mãi sau này, qua thầy Từ Diệu, tôi lại hữu duyên có những lần gặp gỡ thắm thiết với Ngài qua những câu chuyện về cuộc đời hành đạo của một con người đi qua hai thế hệ.
 
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-02
Từ những câu chuyện ấy tôi nhận thấy tình cảm và sự khoan dung của Ngài thật lớn lao, hện thân là một vị phàm Tăng trong cuộc đời phàm tục, làm sao có thể quên đi những gì mà dấu chân hành đạo mà đời mình đã bước qua.
Những mảnh ghép của cuộc đời đạo nghiệp với riêng Ngài tôi thấy có quá nhiều màu sắc, như tấm Y kia Ngài đã cột vào tấm thân người Tu sĩ. Nó đặc biệt hơn những tấm Y khác bởi không chỉ đơn thuần là màu sắc hạnh nguyện hóa độ của một vị chân tu mà còn chứa nhiều màu sắc từ nơi chúng sinh đã ban tặng riêng cho Ngài. Vui cũng nhận, buồn cũng nhận, thong thả hay nhọc nhằn Ngài cũng nhẫn nhịn để tu rèn lấy Pháp tướng của người tu. Tôi nhìn thấy trên cặp mắt xa xăm với đôi chân mày đậm dấu thời gian vẫn thẳng băng và nổi cộm cũng đã nói lên cuộc đời thăng trầm của Ngài qua những câu chuyện dài mỗi lần gặp gỡ. Một thoáng ưu tư lại chợt hiện về khi Ngài nhắc đến ngững người bạn đồng liêu như Ngài HT Quang Huy, Ngài Phước Quang….Tôi cảm nhận được sự chân tình mà Ngài đã chia sẻ cùng tôi.
 
Rồi một ngày kia sẽ đến, đó là ngày 20/4/2013 (nhằm ngày 11/3/ Quí Tỵ) Thuận cùng sự thế vô thường cũng phải đến lúc chia tay. Oái ăm thay, chính ngay cái lúc ấy những kỷ niệm trong tôi với Ngài lại ồ ạt tràn về để rồi lòng mình se lại vì những vị mà tôi Tôn kính lại lần lượt ra đi. Nặng vai, nặng gánh còn có thể cố sức mà chịu, còn nặng nghĩa, nặng lòng tuy vô hình vô tướng nhưng lại triền miên và se sắt ngậm ngùi.
Những cây đại thụ của Phật giáo đang dần rời xa thế tục. Từ đầu năm tới giờ, lần lượt đã có 5 vị cất bước Quy Tây. Ngài HT Thích Thanh Bích, Ngài HT Thích Đắc Pháp Ngài HT. Thích Giác Viên. Ngài HT. Thích Chơn Thành.
Nén hương tưởng niệm Ngài HT. Thích Giác Dũng chưa tàn thì tuần hương mới cho Ngài HT Thích Thiện Nhơn lại được thắp lên. Một sự tiếc thương thật da diết, một sự mất mát giờ đổi thành cái thú của đau thương, bởi kỷ niệm ùa về thì đau hoài và nhớ mãi.
 
NAM MÔ TỰ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THÂP NGŨ THẾ, SẮC TỨ THIÊN ĐỨC ĐƯỜNG THƯỢNG HÚY Thượng QUẢNG Hạ PHƯỚC, Hiệu QUÁN HẠNH, Tự THIỆN NHƠN, TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM.

Quang Ninh

Chú thích chung cho Hình ảnh:
1./ HT cùng tác giả Nguyên Điền Trang VÔ LƯỢNG CÔNG ĐỨC
2/ HT Phật sự Chứng minh Đại lễ tại Chùa Sắc Tứ Khải Đoan_ Ban Mê Thuột cùng với HT Thiện Bình (Chùa Long Sơn - Nha Trang)


Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-03
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-04
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-05
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-06
3./ HT Chứng Minh Lễ Cầu An Đầu Năm 2013 tại Hồ Tây _ Huyện Đăk  Mil - Tỉnh Đăk Nông
(Lúc này HT quá yếu không đi được nên các Huynh Trưởng GĐPT dùng kiệu khiêng Ngài)
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-07
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-08
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-09
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-10
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-11
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-12
Hòa-Thượng-THÍCH-THIỆN-NHƠN-Bình -Định-13


VLCĐ: Loạn động chốn thiền môn: Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Đầy đặn và trắng trẻo. Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. 
Hương Bình. lính thủy minh họa.

Đầu xuân, chùa làng nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật. Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề có đau khổ lo toan. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt hư người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.

Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao. Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. 
Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia. Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.

Một anh huynh trưởng gia đình Phật tử bước lại bên cô gái bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:

- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!

Cô gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu.
Anh huynh trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:

- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức đó!
Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:

- Vì sao?
Anh huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:

- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào, rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?
Cô gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc đầu:

- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn. Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!

Anh huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay. Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:

-A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…

Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?

Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…
Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói:
- Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!

Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:

- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…
Anh huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:

- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!

Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:

- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?
- Ô-kê!
                                
Anh huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: "Ai? Cần gì?". Anh huynh trưởng cao giọng:
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!

Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
Anh huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức. Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng bước ra, nói:

- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ lục tuần đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:

- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
- Cứ hỏi. Đây nghe.
- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?

- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?

- Vừa sai, vừa đúng!
- Sao là sai? Sao là đúng?
- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!

- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thậït ra cờ không bay mà gió bay, nhưng thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?

- Thật hay! Thật hay!
- Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
- Bình thường.
- Đáng trách hay đáng khen ạ?

- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong khứ đáo xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!

Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:

- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?
- …
- Im lặng, tức đã thú nhận.
- …
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!

- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!

- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?

- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…

- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?

- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?

- Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
- …
- Trút bỏ hết đi!

Sư trụ trì quát lên. Cô gái giật bắn mình, vội quỳ mọp xuống, đầu dập đất mấy cái. Sư lại quát:

- Trút hết. Rồi đi ra ngoài, dạo một vòng vãn cảnh mau đi!
- Bạch thầy… con không dám. Con không dám .Con xin dập đầu tạ tội. Đội ơn thầy đã khai tâm điểm đạo!

… Anh huynh trưởng đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang. Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện. Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước nhón chân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng. Rồi anh chấp tay xa ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:

- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương!
Anh ta thở phào nhẹ nhõm. Đầu năm vui thật. Thật là vui.

Tâm Không Vĩnh Hữu


 
Màn múa hở hang trước Chánh điện của Nhạc sĩ Quý Luân đạo diễn

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.