Articles by "Các pháp môn"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Các pháp môn. Hiển thị tất cả bài đăng

VLCĐ: Trong Vạn Pháp Quy Tông có rất nhiều điều hướng dẫn hành giả thực hiện các bài về pháp thuật trước những hiện tượng trong cuộc sống mà chúng ta bị nô lệ bởi thế giới Tâm linh, làm ảnh hưởng đến tinh thần và làm đảo lộn cuộc sống.

Trong Phật giáo có pháp môn Mật Tông, pháp môn này trên cơ bản là xử dụng cả Thân, Khẩu, Ý của hành giả. Thân kiết ấn, Khẩu niệm chú, Ý tác sự việc và hầu như các bùa chú giữa Mật tông và Bùa chú của các thầy pháp  đều na ná như nhau. Xuất xứ các bùa phép này đều từ nơi các ông thầy bên Tàu mà ra cả, cho nên để xác định đâu là Mật giáo, đâu là Vạn Pháp Quy Tông thì rất khó.

Ngày  xưa, khi sự hiểu biết còn nông cạn, các ông pháp sư làm ăn rất kịch liệt vì quá dễ dàng để hù dọa người ta mà kiếm phần lợi dưỡng, do vậy mà các ông ấy độ chế ra đủ thứ, bày ra lắm trò, cũng có cái thì đem lại kết quả cho khổ chủ, cũng có cái thì nặng phần lừa đảo.

Ngày nay, con người có sự hiểu biết nhiều hơn, thế nhưng phải khẳng định một điều là các trò như trên vẫn là miếng đất màu mỡ để quý vị ấy làm ăn vì nó tác động trực tiếp vào tâm linh chúng ta, đồng thời cũng nên khẳng định thêm một điều nữa là Tâm chúng ta đa phần là Tâm dựa dẫm.


Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:

Câu1: Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác! Nếu nói năng hoặc hành động với tâm ô nhiễm, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bánh xe lăn theo chân con thú kéo xe.


Ni trưởng Huỳnh Liên đã dịch thơ câu này:

Trong các pháp do tâm làm chủ, Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên! Tâm nhơ tạo nghiệp chẳng hiền, Như xe lăn bánh, khổ liền theo sau.


Câu2: Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác! Nếu nói năng hoặc hành động với tâm thanh tịnh, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình.


Ni trưởng Huỳnh Liên đã dịch thơ câu này:

Trong các pháp do tâm làm chủ, Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên! Tâm thanh tạo nghiệp tốt hiền, Như hình dọi bóng, vui liền theo sau.


Tóm lại, Vạn Pháp nơi thế gian này đều do tâm con người tạo ra, Tâm bình thì thế giới bình

Là Phật tử, có quan chiếu tu tập, tuy chưa làm chủ được Tâm, nhưng đã phần nào kiểm soát được Tâm mình thì tất cả các loại bùa chú đều vô hiệu ngiêm và không hề có tác dụng gì. Giữ tâm Thanh tịnh, Trai giới nghiêm túc, thành tâm tác Thiện ý thì chỉ cần Tụng bài Chú Đại Bi thì các bùa chú trên chả là cái gì đáng dùng, đáng lo sợ cả.


Nhưng mấy người được như thế? Trong các Chùa thất hiện nay, không thiếu gì quý vị Tu sĩ còn nương vào Tà pháp để cứu độ thế gian !!! và trong nhân gian có mấy ai vững lòng trước những sự kiện về Tâm linh để tìm giải pháp cho chính mình mà không cầu tìm về một điều gì đấy để nương tựa

Bài viết sau đây mang tính chất giới thiệu đến quý vị độc giả để nghiên cứu, để biết là chính, khi Quý vị chưa làm chủ được Tâm, chưa trai giới Thanh tịnh, chưa hiểu rõ ngọn ngành, chưa đủ bản lĩnh để Tâm đối Tâm thì xin đừng đùa giỡn với Thế giới Tâm linh.

---------------------------

Nhiều điều trong thế giới tâm linh vẫn đang ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của chúng ta mà không thể trả lời được là vì sao. Trùng tang là một trong những hiện tượng ấy. Giải quyết thế nào để tạo được sự bình an trong tâm hồn cho dù đúng hay sai cũng là vấn đề lớn mà chúng ta cần tììm hiểu. Những tư liệu sau đây sẽ giúp bạn tìm hiểu về Trùng tang liên táng Trùng tang liên táng là một hiện tượng có thật trong cuộc sống của chúng ta . Không có nhiều tư liệu viết về hiện tương này , nhưng trong dân gian vẫn truyền tụng với nhau những trường hợp chết phạm vào Trùng tang liên táng hết sức đau thương , thậm chí có nhà nhân đinh đông đúc là thế mà chỉ vài ba năm phải chịu cảnh tuyệt tự .


Tại miền Bắc Việt Nam có một trung tâm nhốt Trùng lớn nhất nước : Đó chính là chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh .Chùa được xây dựng vào thời Lý, tương truyền đây là nơi tu hành của Thiền sư Dương Không Lộ. Nơi đây từ ngày xưa , các vị sư tăng đã có những phương pháp Trấn Trùng rất huyền bí mà hiệu quả . Hàng ngày , vào buổi chiều , các sư ở đây phải nấu một nồi cháo to , cúng thí thực cho Trùng và vong bị nhốt ở đây, bữa nào quên là gà vịt của dân quanh vùng thay nhau chết la liệt . 


Ngoài ra , tại miền Bắc Việt Nam , từ xưa đã có các môn phái Pháp Sư theo Bắc Tông , Pháp sư các môn phái Phù thủy của đồng bằng bắc Bộ nhất là tại các tỉnh Bắc Ninh , Hải Phòng , Nam Định ... có khả năng hóa giải Trùng tang liên táng rất hay . Thông thường , các vị sư trong chùa chỉ học theo đạo Phật chứ ít khi học theo kiểu Pháp sư , Phù Thủy , thế nhưng đặc biệt ở chùa Hàm Long - Bắc Ninh , Liên Phái - Hà Nội và một vài chùa nữa lại có những bộ ván khắc in phù giải Trùng tang liên táng từ hàng trăm năm . Theo Nguyên Vũ đã viết : "Hàm long : Chỉ nghe tên thôi cũng đã gợi lên một điều gì đó về ngôi chùa rồi. 


Dọc theo đường quốc lộ số 1 chỗ rẽ đi Cẩm Phả, xuất hiện một dãy núi lớn, dài 3,4 cây, ta tìm đến đầu của dãy đó là nơi toạ lạc của chùa Hàm long. Nơi đây cũng là trường trung cấp Phật giáo của tỉnh Bắc ninh. Về thế đất Tân long, huyệt kết oa, Long, hổ hoàn mỹ, ngoại minh đường rộng rãi có sông lớn chảy qua nhưng không được đẹp. Ngoài ra còn có Tứ linh chầu vào. trong chùa còn có một cây tháp đá rất cổ, thường có nước rỉ ra từ đó. tương truyền nơi đây là nơi nhốt trùng rất lớn. Tôi có một người bạn thân đã từng tu hành ở đây nói với tôi " ngày nào chùa cũng phải nấu một nồi cháo to để cúng, nếu không gà chó của dân địa phương tự nhiên lăn ra chết rất nhiều. "


Chùa Hàm Long - Bắc Ninh


Trùng tang liên táng thường có các dạng như sau : " *Trùng 3 ngày( tức là trong gia đình họ hàng sẽ có người chết theo ngay, tính từ lúc có người chết trùng cho đến 3 ngày sau. Nhiều khi người này chưa kịp chôn thì người tiếp theo đã chết.Đây là trùng tang nặng nhất, làm cho gia đình không kịp trở tay vì cũng chưa biết là có chết trùng. ). * Trùng tuần đầu( tính từ lúc chết cho đến hết tuần đầu, đây cũng là trùng tang khá nặng và có thể kéo dài đến 49 ngày- tức là cúng 49 ngày đó. * Nhẹ hơn nữa tức là xảy ra vào những ngày sau đó, kéo dài cho đến hết 3 năm và có thể hơn tuỳ thuộc vào thời gian bốc mộ lên mộ tròn. Nhiều khi sự việc xảy ra vào đúng ngày cuối cùng ngay trước hôm bốc mộ do gia đình không kiêng khem cẩn thận. Sở dĩ nói trùng này là nhẹ nhất vì gia đình có nhiều thời gian để đi cứu giải. - Việc trùng nặng hay nhẹ do giờ của người chết trùng quyết định. Việc này nên nhờ các ông thầy hoặc các nhà sư cao tay xem cho. Vì vậy khi nhà có người mất thường nên đi xem ngay để nếu không may chết trùng gia đình còn kịp xoay xở.


*Cách giải: - Nhà có người chết trùng phải lập tức gửi người đó lên chùa, tuy nhiên không phải chùa nào cũng giữ được vong chết trùng. Nó phụ thuộc vào sự linh thiêng của chùa và mức độ cao tay của vị sư trụ trì. Nếu trùng nhẹ các bạn có thể gửi lên một ngôi chùa nào đó gần nhà, các nhà sư sẽ hàng ngày đọc kinh niệm phật cho vong hồn siêu thoát( hay nói đúng ra là nhốt vong vào trong ngục, không cho đi lung tung kẻo quỷ sứ bắt được nó sẽ tra tấn và khai ra tên họ người nhà, càng những người hợp với vong chết trùng càng dễ bị bắt). - Nếu trùng nặng, tôi khuyên chân thành bạn phải gửi ngay vào chùa Hàm Long, dù có ở trong Nam thì cũng nên cấp tốc đi máy bay ra mà gửi. Các chùa khác nổi tiếng về cái gì thì tôi không biết nhưng đệ nhất giữ vong phải là chùa Hàm Long ( Ở Thành phố Bắc Ninh). Đây là ngôi chùa cổ mấy trăm năm nằm trên sườn núi, địa thế rất đẹp. Chùa có những cây cổ thụ cực to, và cũng là một trong những nơi đào tạo các nhà sư ở Việt Nam. Từ trong nam ngoài bắc trùng tang đều đem về đó gửi. Hàng ngày vào buổi sáng tôi thấy các nhà sư tụng kinh niệm phật cúng vong rất cẩn thận. 


- Khi gửi vào chùa rồi, bạn có thể yên tâm ăn ngủ nếu thực hiện đúng các điều sau( các nhà sư chắc cũng sẽ nói lại cho bạn nếu bạn đến đó): 1- sau khi gửi lên chùa, ở nhà không được lập bàn thờ cúng bái người đã chết nữa kể cả ngày giỗ tết, vì có hương là có hồn, chỉ cần bạn đốt hương và đọc tên người chết thì đó coi như chìa khoá mở ngục cho vong thoát ra ngoài. 2- Khi đưa vong lên chùa phải nhờ người không phải là họ hàng, nếu nhờ được bạn bè là tốt nhất, còn nếu không cũng phải nhờ người bên họ ngoại. Vì vong chết trùng thường rất khôn ngoan, nếu thấy người quen đưa đi thì thường nó sẽ đi theo về hoặc tệ hơn là nó đã biết trước và không đi theo. Thế nên không nên bàn chuyện đưa tiễn vong lên chùa ở nhà người chết.3- sau khi nên mộ tròn tức là người chết đã về với tổ tiên, mới được thờ cúng lại bình thường.


* Có một nhà sư đã nói đặc điểm của người chết trùng (không phải ai chết trùng cũng có đặc điểm này, tôi chỉ ví dụ để bạn tham khảo thôi)là : dù có ốm thập tử nhất sinh người đó vẫn luôn tin mình sẽ sống ( kể cả là ung thư giai đoạn cuối thì vẫn tin có phép tiên), nên nếu bạn có hỏi xem người ấy có muốn trăn trối gì không thì họ thường lảng tránh câu đó không muốn trả lời. Thêm nữa nếu mất trong khoảng giữa đêm hoặc gần 6h sáng thì cũng nên cẩn thận vì đó là giờ quan, nên đi xem xét cho cẩn thận kẻo bị trùng tang mà không biết. * Ở chùa Hàm Long có các lá bùa để gia đình đeo vào trong khoảng 3 năm để tránh tai hoạ, tôi thấy một mặt là chữ nho một mặt là phật bà. 


* Rất tiếc là tôi không nhớ địa chỉ cụ thể, tuy nhiên bạn có thể đi đường cao tốc về thành phố Bắc Ninh, có 1 cái cầu vượt, tay trái đi vào thị xã, tay phải đi về phía chùa. Tuy nhiên chùa ở núi nên còn đi vào khá xa, tôi chỉ nhớ là có đi qua nhà máy kính nổi. sau đó thì bạn hỏi đường tiếp nhé, vì nó khá nổi tiếng mà,với lại cũng có biển chỉ đường đi về chùa đó. Tôi đã đi nhiều chùa nhưng đó là ngôi chùa cổ u tịch nhất mà tôi biết, khi tôi đến đó thấy cả dãy dài ô tô từ tứ phương đổ về- thường là những người đi gửi vong chứ ít ai đi vãn cảnh chùa lắm có lẽ vì tâm lý đó là nơi giữ vong, mọi người đến thường xong việc đi luôn, chắc cũng vì sợ ở lâu chỉ thêm đau long do thương xót người đã mất. Các gia đình sau khi gửi vong thường chỉ thực hiện được một thời gian đầu những điều cần kiêng, sau vì thương tiếc người thân đã cúng lại vì sợ ma bị đói. Đây là điều cần hết sức tránh vì các nhà sư cúng bái còn cẩn thận hơn chúng ta nhiều. Có nhiều gia đình phải gửi đi gửi lại nhiều lần vì vong theo về, vì cúng khấn ở nhà. Vì vậy bạn nên tránh những điều tôi đã nói nhé.


Bạn ạ, chết trùng hoàn toàn có thể khống chế được nếu làm đúng cách. Vài điều nhắn gửi, mong gia đình bạn bình an. " ( dienbatn quên nguồn ). "Theo quan niệm của lịch số Trung Hoa và trong dân gian nói chung thì ngày trùng tang là ngày đại kỵ trong việc an táng, chôn cất. Ngày này còn có tên là ngày cướp sát. Cách tính ngày trùng tang như sau: Đối với tuổi Thân, Tý , Thìn kỵ Tỵ. Có nghĩa là người chết tuổi Thân hay tuổi Tý hoặc tuổi Thìn mà mất vào năm Tỵ, tháng Tỵ, ngày Tỵ và giờ Tỵ là bị chết vào ngày trùng tang, tuyệt đối tránh an táng vào ngày Tỵ. Tương tự như thế đối với các tuổi Tỵ, Dậu, Sưủ kỵ Sưủ, Dần, Ngọ, Tuất kỵ Hợi, Hợi, Mão, Mùi kỵ Thân. Những ngày trùng tang này rất hiếm trong năm. 


Theo quan niệm dân gian, nếu chôn cất vào những ngày trùng tang này thì sau khi an táng xong, một thời gian ngắn sau có thể những người khác trong thân tộc sẽ chết theo. Trong trường hợp khoảng vài tuần, vài tháng hoặc trong vòng ba năm có nhiều người chết liên tiếp thì bị trùng tang liên táng. Ngày trùng tang (trùng nhật) là ngày Dần, Thân, Tỵ, Hợi cùng trùng ngày, trùng tháng và trùng năm. Như ngày Dần, tháng Dần và năm Dần; ngày Thân tháng Thân và năm Thân... gọi là những ngày trùng. Vào những ngày trùng, kiêng kỵ tẩm liệm, chôn cất và cải táng. Người chết với bất cứ tuổi nào cũng đều xung kỵ ngày này. Trong dân gian tin rằng nếu chôn cất vào ngày trùng ắt sẽ có một người thân bị chết theo, tuy vậy vẫn nhẹ hơn trùng tang liên táng.


Đối với Phật giáo thì sống chết là chuyện thường nhiên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng, song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định và có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế, Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác. Tuy nhiên, vì tập tục này ăn sâu vào tâm thức mọi người nên một vài nơi, trong tinh thần phương tiện, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phước hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để " âm dương lưỡng lợi" theo quan điểm Phật giáo." ( dienbatn ghi lại từ nguồn - Tổ tư vấn báo Giác ngộ - UIA )


Trùng tang liên táng hoàn toàn có thật , bản chất của sự việc này ra sao thì chưa có một nghiên cứu nào khả dĩ có thể giải thích được . Trong quá trình nghiên cứu về hiện tượng này , dienbatn cho rằng đó tương tự như một loài vật sống ký sinh trên xác người chết phạm vào giờ trùng . Đó chính là một trường năng lượng xấu tồn tại cùng với trường năng lượng của người chết phạm trùng . Vì lý do " Đồng thanh tương ứng - Đồng Khí tương cầu " hay hiện tượng cộng hưởng tần số . . Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương :Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và tần số của Trùng ,nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào.Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống ,dòng họ.Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều,nên trong lý thuyết về Nhạc,loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia ).Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống. Chính điều này cũng giải thích được hiện tượng chỉ có những người cùng huyết thống với người chết phạm phải giờ trùng tang liên táng mới bị , còn những người khác và con Dâu , con Rể cùng sống trong gia đình không bị ảnh hường .


Một tư liệu khác nữa dienbatn sưu tập : "Theo tín ngưỡng dân gian: Trùng tang là chêt trùng vào năm tháng ngày giờ. Theo tinh thần Phật giáo Chánh Tín: thì không kiêng cử ngày giờ. Mọi sự vật đều bị chi phối bởi luật nhân-quả. Bởi vì chúng ta còn là phàm nhân nên mọi người chúng ta cũng bị chi phối bởi các tín ngưỡng dân gian. Do đó, Đức Phật-Ngài không cho chúng Tăng xem bói, coi tướng ngày giờ. Nhưng để hóa độ chúng sanh, cho nên Chúng Tăng có vị đã làm những việc này, xem như là một phương tiện nưong vào đó để hóa độ chúng sanh vì chúng sanh tín ngưỡng như thế nên các Ngài mới phưong tiện mà độ để giúp cho họ có niềm tin vào Phật vào Chánh Pháp. Nhưng hỡi ơi! Vào thời này có vị lạm dụng những việc này để kiếm tiền làm ô danh cửa đạo. Thật đáng buồn thay!


Trùng tang có phải xét trên nhiều yêu tố khác như: bị thư bị yếm, phong thủy......Nói chúng ta là những người học Phật tu nhân không tin những việc này, nhưng cũng cần biết để mà xử trí khi gặp phải các vấn đề này: như trường hợp nàng Ma Đăng Già dùng chú của Phạm Thiên cám dỗ Tôn Giả A Nan, Đức Phật Ngài thuyết Chú Lăng Nghiêm và Sai Ngài Văn Thù Sư Lợi dùng Chú Phật để hóa giải chú của Phạm Thiên mà giải cứu Ngài A Nan thoát khỏi vòng dây tình ái ( ai nhiều dâm dục hay để ngăn ngừa thì nên trì tụng Chú Lăng Nghiêm, do đó các Chùa thường hay trì tụng Chú này ). Tôi xin nói về vị nữ cư sĩ khơi nguồn Mật Tông cho tôi là Người Nam Vang ( Campuchia ), ba của vị này là Thầy tu sĩ Phật giáo Nam Tông chính thống, chính vị nữ cư sĩ này đã kể nhiều chuyện cho tôi nghe như: ở miền quê mé miền Tây, có một người ghét không thích gia đình nào đó, thế rồi họ liệng vô nhà đó, chỉ 1 tờ giấy trắng, rồi người trong nhà mở ra thế là lần lần cả nhà chết hết....còn nhiều chuyện dị kỳ. Dó đó, mọi sự việc phải xét nhiều mặt chứ không nên phiến diện một phía...... 


Trung Hoa không thích đất nước ta vì có nhiều Thánh nhân xuất hiện và có nhiều vị tướng tài. Do đó, họ đã dùng các nhà phong thủy phù thuật trấn ếm nguyền rủa nước ta bằng nhiều cách nhiều phương diện....Cũng như Ô Mã Nhi, một vị tương sang đánh nước ta từng có lời thề:" Đánh thua VN thì đội quần đàn bà ", do đó, phụ nữ ai mà bị rớt đồ xuống sông thừơng bị mắc đàn dưới. Thầy tôi đã ra tay chữa bệnh này rất nhiều và Thầy tôi cũng đã lập Đại trai đàn để giải lời thề cho Ô Mã Nhi cũng như anh em Ngô Đình Diệm.... thoát khỏi bị đọa ( Nếu vị nào am tường về binh pháp chắc biết Ô Mã Nhi ). Đàn này rất lớn xin nguyện lực sự gia trì lực của của Chư Tăng Ni hòa Thượng nhiều nơi ẩn mật tu luyệncùng Chư Phật Bồ Tát Thánh Hiền, dưới sự chẩn tế của các pháp sư....


Do đó, một lời thề đến một lúc nào đó cũng bị phá vỡ, do nguyện lực niệm lực niềm tin Phật Pháp Tăng Tam Bảo chính thống, thì bị phá vỡ bởi sức mạnh của Diệu pháp nhằm lợi lạc cho nhân sinh. Mọi việc không qua luật nhân quả, không ngoài huyền cơ là vậy. ( dienbatn ghi từ Phổ Quảng )


2. CÁCH TÍNH TRÙNG TANG LIÊN TÁNG: CÁCH TÍNH TRÙNG TANG ( Nhớ tính theo tuổi âm lịch ).
KIỂM TRA TRÙNG TANG NGÀY MẤT :
Theo sách “ Tam Giáo Chính Hội “ : Nam nhất thập khởi Dần thuận liên tiến,Nữ nhất Thập khởi Thân , nghịch liên tiến , Niên hạ sinh Nguyệt , Nguyệt hạ sinh Nhật , Nhật hạ sinh Thời . Ngộ Tý - Ngọ - Mão - Dậu Thiên di . Dần - Thân - Tỵ - Hợi Trùng tang . Thìn - Tuất - Sửu - Mùi Nhập mộ cát dã “. Từ 1 đến 9 tuổi không tính Trùng tang. " Xin ghi lại tính Trùng Tang theo cổ truyền:


1. Địa Chi trùng Trong 12 tuổi con giáp chết bất kỳ năm tháng nào cũng kỵ 4 ngày ần, Thân, Tỵ, Hợi. Mức độ "Trùng" nhẹ hay còn gọi "trùng phục" theo dân gian. Khi chôn cất hay cải táng cũng phải cữ ngày giờ trên.


2. Trùng tang liên táng 2.1 Tuổi Thân Tý Thìn chết năm tháng ngày giờ Tỵ.


3. Kỵ tuổi khi niệm và chôn Có 3 tuổi phải kỵ. Con trai trưởng nam tuổi Dần; dâu trưởng nam tuổi Mão; cháu trưởng nam tuổi Thìn. Kỵ giờ Dần Mão Thìn khi niệm phải tránh đi. Người chết không có con, dâu và cháu trưởng trên thì cần tránh anh trưởng và cha mẹ. 1/. Trước tiên , ta khởi Đại -Tiểu -Số -liên -tiết , nam khởi tại Dần đi thuận , nữ khởi tại Thân đi nghịch , tính đến tuổi người mất thì dừng lại. VD : Người mất là nam 68 tuổi Tại Dần ta khởi 10 , Mẹo là 20 , Thìn là 30 , Tị là 40 , Ngọ là 50 , Mùi là 60, Thân là 61 , Dậu là 62 , Tuất là 63 , Hợi là 64 , Tý là 65, Sừu là 66 , Dần là 67 , Mẹo là 68 Đến đây là đã đến tuổi người mất , ta dừng lại , chờ...tính tiếp


Bước II 2/. Kế tiếp , ta lấy cung kế đó khởi tháng giêng , tính đến tháng người mất VD tiếp : Giả như người mất ở trên là mất vào tháng 6 , ngày 9 , giờ Dần Ở trên ta đã đếm tới cung Thìn là tuổi người đó , vậy cung kế là cung Tị khởi tháng 1 , Ngọ là tháng 2 , Mùi là tháng 3 , Thân là tháng 4 , Dậu là tháng 5 , Tuất là tháng 6. Đến đây ta lại dừng lại...chờ xem tính tiếp thế nào nhé !


3/. Ta lần lượt tính như thế với ngày , rồi giờ. VD tiếp :Ở trên ta đã có tháng 6 ở Tuất , vậy nhích tới Hợi là mùng 1 , Tý là mùng 2 , Sửu là mùng 3 , Dần là mùng 4 , Mẹo là mùng 5 , Thìn là mùng 6 , Tị là mùng 7 , Ngọ là mùng 8 , Mùi là mùng 9. Vậy thì tới cung Thân là giờ Tý , cung Dậu là giờ Sửu , cung Tuất là giờ Dần. Bây giờ ta chỉ việc tra vào xem các cung năm tháng ngày giờ rơi vào cung nào thôi : Các cung TÝ _ NGỌ _ MẸO _ DẬU là Thiên Di Các cung THÌN _ TUẤT _ SỬU _ MÙI là Nhập Mộ Các cung DẦN _ THÂN _ TỊ _ HỢI là Trùng Tang Vậy các cung của VD này là Nhập Mộ hết , vậy là người chết đó tận số rồi vậy. Như thế con cháu sau này sẽ làm ăn khấm khá. Thường thì có cung này có cung khác , hễ càng có nhiều cung Trùng Tang chừng nào thì việc Trùng càng bị nặng thôi." ( dienbatn ghi lại từ bạn đồng tu Pháp vân ).


Theo duonghoainam61 : " Trong phép tính trùng tang ta phải biết tiên lượng :trùng ngày nặng nhất-Trùng thất xa. trùng tháng nặng nhì-Trùng tam xa. trùng giờ nặng 3-trùng nhị xa trùng năm nhẹ nhất -trùng nhất xa. Ngoài ra cứ chết vào năm tháng ngày giờ Dần,thân,tỵ,hợi thì cũng bị trùng tang theo phương đồ trên .Năm tính năm,ngày tính ngày... Còn phải xem người chết chôn vào ngày nào nữa để tính, nếu chết chôn: -Tháng giêng:ngày 7-19 -Tháng 2,tháng ba:ngày 6-18-30. -Tháng tư:ngày 4-16-28. -Tháng năm,tháng sáu:ngày 3-15-27. -Tháng bảy:ngày 1-12-25. -Tháng tám,tháng chín:ngày 12-24. -Tháng mười :ngày 10-22. -Tháng 11-tháng chạp:ngày 9-21. Nếu người chết mà chôn vào các ngày trên thì trong vòng ba tháng hoặc là ba năm sẽ có cha mẹ ,con cháu,anh em ruột chết nữa.Bài này khá linh nghiệm xin nhớ kỹ. Khi thấy bị phạm những điều trên rồi ,gia chủ nên tìm thầy giải hạn ngay,nên tìm các thầy tu ,cao tăng,ngoài đời thường rất hiếm.Chớ coi thường. " Có thể nhìn bảng tính sau do dienbatn thực hiện , cũng thấy dễ dàng :


LIÊN QUAN GIỮA CÁC TUỔI CẦN TRÁNH KHI PHẠM TRÙNG TANG.
Sách cũng viết rằng : Trùng tang Nhất xa - Ba người chết theo . Trùng tang Nhị xa - Năm người chết theo , Trùng tang Tam xa - Bẩy người chết theo . Sinh năm Kỷ Dậu nên bị Phục tang tại Địa hộ Tỵ - Tam xa . Phục - Sự quay trở lại của Vong hồn . Trùng _ Sự nhập của Vong hồn vào người sống , bắt đi theo . Trùng tang ngày là nặng nhất . Trùng tang Tháng là nặng nhì . Trùng tang Giờ là nặng thứ ba . Trùng tang Năm là nhẹ nhất . KIÊNG KỴ : Người nhà kiêng người Tam hợp tuổi , kiêng tuổi xung , kiêng tuổi Hình với Vong mệnh . Kỵ Long - Hổ - Kê - Xà tứ sinh Nhân ngoại ( Người khách các tuổi Thìn - Dần - Dậu - Tỵ không được có mặt khi khâm liệm ) . Kiêng người có cung phi Bát trạch xung khắc với Vong mệnh . Kiêng khóc thành tiếng khi đang liệm .


Một bài của Trường Minh ( NCD ) về Thần Trùng : VỤ 30 :


THẦN TRÙNG .
 Cách này ở nhiều sách hay lầm lẫn với các ngày Trùng Tang , Tam Tang , Trùng Phục...Thần Trùng là trong gia quyến , thân chủ có người chết nhằm ngày đó , nếu không Nhương Ếm thì sẽ bị tai họa chết trùng , người ta gọi là Trùng Tang Liên Táng , trong thân sẽ có người chết tiếp. Những ngày đã nói ở trên không kỵ chết mà chỉ kỵ những việc an táng , tẩn liệm , mặc đồ tang , chôn cất , xả tang... Còn như chết nhằm ngày Thần Trùng mới đáng sợ. Sau đây là ngày Thần Trùng : _ Tháng 1,2,6,9,12 : Chết nhằm ngày Canh Dần hay Canh Thân là phạm Thần Trùng " Lục Canh Thiên Hình ". Nếu thêm thấy năm tháng cũng vậy là càng nặng. _ Tháng 3 : Chết nhằm ngày Tân Tị hay Tân Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Tân Thiên Đình " , nếu gặp thêm năm , tháng nữa càng nặng hơn _ Tháng 4 : Chết nhằm ngày Nhâm Dần hay Nhâm Thân là phạm Thần Trùng " Lục Nhâm Thiên Lao " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 5 : Chết nhằm ngày Quý Tị hay Quý Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Quý Thiên Ngục " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 7 : Chết nhằm ngày Giáp Dần hay Giáp Thân là pahm5 Thần Trùng " Lục Giáp Thiên Phúc " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 8 : Chết nhằm ngày Ất Tị hay Ất Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Ất Thiên Đức " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 10 : Chết nhằm ngày Bính Dần hay Bính Thân là phạm Thần Trùng " Lục Bính Thiên Uy ". nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 11 : Chết nhằm ngày Đinh Tị hay Đinh Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Đinh Thiên Âm " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng


3. CÁCH HÓA GIẢI TRÙNG TANG LIÊN TÁNG : Trùng tang liên táng là một sự thực , dù cho người ta đến ngày hôm nay vẫn chưa tìm ra bản chất của nó . Từ xa xưa , người Việt chúng ta đã có quá trình theo dõi , điều trị có hiệu quả việc này . Thực ra sau khi tính toán và phát hiện ra người chết phạm vào Trung tang liên táng , việc điều trị rất đơn giản và hiệu quả rất cao . Điều cần thiết là khi phát hiện ra phải điều trị càng sớm càng tốt . dienbatn xin giới thiệu một số phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng có kết quả mà dienbatn sưu tập được và một vài phương pháp dienbatn thường sử dụng đạt được kết quả khá tốt . Một điều cần chú ý là có nhiều phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng , nhưng những phương pháp của Tiên Gia , Phù thủy , Đạo gia thường là những phương pháp bắt nhốt Trùng . Cách này tuy hiệu quả nhưng thực ra rất nguy hiểm vì khi công lực của Thày còn cao , Trùng còn phải chịu hãm trong vòng tù ngục , nhưng khi Thày chết , không còn ai cai quản nhà tù nữa , Trùng sẽ thoát ra gây ảnh hưởng rất nặng đến Gia đình Thày và Thân chủ . Phương pháp tốt nhất là dùng Mật Tông , trì chú cho Trùng được siêu thoát , sau đó hồi hướng công đức cho họ . Phương pháp này dùng những năng lực của Phật pháp , siêu độ cho Trùng rất tốt , khiến cho Trùng sớm siêu thăng tịnh độ , không còn làm ác được nữa .


CÁC PHƯƠNG PHÁP HÓA GIẢI TRÙNG TANG LIÊN TÁNG:

1/ BÀI THUỐC TRẤN TRÙNG : Dùng các vị sau đây : 1/ Thần sa : 3 đồng cân . 2/ Chu sa : 2 đồng cân . 3/ Hồng hoàng : 5 đồng cân . 4/ Sương luật : 5 đồng cân . 5/ Địa liền : 5 đồng cân . 6/ A ngùy : 3 đồng cân . 7/ Huyết giác : 3 đồng cân . 8/ Đại hồi : 5 đồng cân . 9/ Quế chi : 5 đồng cân . Dùng chỉ ngũ sắc kết phù TỨ TUNG NGŨ HOÀNH để trên mặt thuốc , cho vào túi vải yểm trong quan tài .

2/ BỘ LINH PHÙ TRẤN TRÙNG: ( Theo QTPS và tamandieungo)


" Tôi dự định đăng bộ phù trấn yểm trùng tang trong tài liệu sưu tầm thì tình cờ phát hiện bộ linh phù này đã được bạn QuangTichPhapSu đăng trên một trang web khác, thậm chí còn đầy đủ hơn. Lòng rất hoan hỉ, tôi đã save lại và sửa chữa nét cho rõ ràng cộng thêm chú thích. Nhận thấy những gì tôi có không bằng của bạn QTPS, nên tôi xin mạo muội đăng lại tài liệu này cho hoàn chỉnh. Xin cảm ơn bạn QTPS đã có công đăng tải để mọi người có cơ duyên tham khảo. Rất mong bạn đóng góp thêm để huynh đệ mở rộng kiến văn.


1- Phù để gối đầu người chết:

 

2- Phù dán giữa rốn người chết:

 

3- Phù dán giữa ngực người chết:

Posted Image


4- Phù dán lót dưới quan tài:

Trùng tang liên táng-10


5- Phù chôn yểm trên nóc mộ:

Trùng tang liên táng-11


6- Phù đặt vào lòng bàn tay người chết (nam tả nữ hữu):


7- Phù Thanh long dán vách trái quan tài:


8- Phù Bạch Hổ dán vách phải quan tài:


9- Phù Châu tước dán vách chân quan tài:


10- Phù Huyền Võ dán vách đầu quan tài:


11- Phù dán tường hướng Tây mộ:


12- Phù dán tường hướng Nam mộ:

Posted Image


13- Phù dán tường hướng Đông mộ:


14- Phù dán tường hướng Bắc mộ:


15-16: Phù dán hai vách quan tài:


18- Phù dán chân ván thiên:


19- Phù dán giữa ván thiên:


20-Phù dán trên đầu ván thiên:


21- Phù trấn phương Tây:


22- Phù trấn phương Bắc:


23, 24: Phù trấn phương Đông và Nam


25- Phù dán đầu quan tài:


26- Phù dán chân quan tài:


27- Phù dán bên trái ngoài quan tài:


28- Phù dán bên phải ngoài quan tài:


29 - Phù trị thần trùng:


Cách 3 và 4 tham khảo của TRẦN MẠNH LINH (DỊCH HỌC TẠP DỤNG) 3/ THEO CÁCH CỦA PHẬT GIÁO: 

Trước khi liệm : Dùng 6 lá Linh phù Lục tự Đại minh ( OM MANY PADME HUM ) có kích thước 31 x 10.5 cm viết theo chiều dọc từ trên xuống dán vào thành trong của quan tài tại đầu , chân , hai bên vai , hai bên hông. Những Linh phù này có tác dụng trấn tà khí của Linh hồn. Khi chôn : Vong Nam 7 , Vong nữ 9 quả trứng vịt đã luộc chín , để trên nắp quan tài trên vùng bụng , dùng một cái niêu đất úp lên trứng , sau đó lấp đất. Cách này dùng để thu nốt những Tà khì còn sót lại. Lưu ý Linh phù được viết trên giấy vàng chữ đỏ.



 


4/ THEO CÁCH CỦA ĐẠO GIA: LINH PHÙ NGŨ TRẤN:
Dùng Ngũ linh độn số chọn thời gian khâm liệm , thời gian di quan ( chuyển quan tài ra khỏi nhà ), thời gian hạ Huyệt. Tại mỗi thời điểm trên ta có một quẻ Ngũ linh ( tránh những quẻ Lục xung , quẻ có tượng xấu , Dụng khắc Thể , Thể sinh Dụng , quẻ có hào Thái tuế động ). Trước khi khâm liệm : Dùng giấy mầu vàng hai mặt có kích thước 30 x 10,5 cm vẽ quẻ Dịch của ba thời điểm trên , mặt kia vẽ Thư phù ( Dịch tự của quẻ đó ). Quẻ của Cục khâm liệm dán ở thành trong phía đầu quan tài. Lưu ý mặt có Quẻ dán úp vào mặt gỗ , mặt có Dịch tự quay ra ngoài. Quẻ của Cục Di quan dán ở chân quan tài. Quẻ của Cục hạ Huyệt , dán ở bên vai. Khi chôn cũng dùng 7 hoặc 9 quả trứng vịt như ở phần trên.


 

 

5/ THEO CÁCH CỦA MẬT TÔNG: Dùng Thần chú TÁN SA của ĐẠI NHẬT NHƯ LAI : d ùng cát sạch của ba dòng sông. Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật. Vái trước hồng danh các vị sau đây 3 lần rồi mới trì chú :


NAM MÔ ƠN TRÊN TAM BẢO NAM MÔ THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT NAM MÔ CHƯ NHƯ LAI CHƯ BỒ TÁT CHƯ THIÊN, CHƯ THÁNH ,CHƯ THẦN CHƯ VỊ THỔ ĐỊA ,LONG THẦN ĐƯA CÁC VONG LINH VÔ HÌNH VỀ BÊN KIA THẾ GIỚI . OM A MÔ GA VAI RO CHA NA, MA HA MUSĐƠRA MANI PASMÊJÔLABRA, VAT DDADA HÙM HƠRIT BRUM .


6/ MỘT CÁCH NỮA: Dùng linh phù Tứ tung ngũ hoành hay phù của Chuẩn đề : Theo hiểu biết của dienbatn thì dùng Linh phù CHUẨN ĐỀ tốt hơn vì một bên là Giáo hóa các Linh hồn , một bên là dùng Luật.


Dùng giấy vàng gấp theo hình Bát quái và dùng mực đỏ để vẽ Linh phù. Vẽ Linh phù CHUẨN ĐỀ thì dùng nghi tụng niệm tới trước phần Bát nhã thì bắt đầu đọc 108 biến của Chú CHUẨN ĐỀ. Sau đó tác bạch lý do và vẽ Phạn tự CHUẨN ĐỀ vòng quanh Bát quái. Chữ OHM vẽ ở tâm của Bát quái vẽ trước. Sau đó đọc Chú HỒI HƯỚNG cho Vong được Siêu sanh Tịnh độ. 


Nếu dùng Linh phù TỨ TUNG NGŨ HOÀNH thì cũng đọc nghi tụng tới trước Kinh Bát nhã thì cũng dùng giấy vàng chữ đỏ , giấy gấp hình Bát quái , vừa vẽ vừa đọc Chú TỨ TUNG NGŨ HOÀNH : Nhất tung khai Thiên môn , Nhị tung bế Địa hộ. Tam tung lưu Nhân ngôn , Tứ tung sát Quỷ lộ. Nhất hoành trừ Nạn khổ , Nhị hoành độ Nhân thân , Tam hoành trừ Ác tặc , Tứ hoành trừ Sát nhân Ngũ hoành trừ Hung thần , Cấp cấp như CỬU THIÊN HUYỀN NỮ Y NHƯ LUẬT LỆNH. 


Lưu ý : Khi vẽ Linh phù TỨ TUNG NGŨ HOÀNH , tới đoạn cuối có 3 vòng khoeng , Sau khi vẽ xong cũng đọc chú HỒI HƯỚNG cho Vong như ở trên , khi Tẩm liệm , bỏ những lá Linh phù đó vào trong quan tài.


LINH PHÙ TỨ TUNG NGŨ HOÀNH .


 

CÁCH CUỐI CÙNG CỦA PHÁP SƯ:
Dùng BÁT QUÁI TRẬN ĐỒ TRẤN ÂM TRẠCH hóa giải. Cách này dùng sau khi đã chôn mà không chọn được ngày giờ tốt vì một lý do nào đó , hoặc sau khi chôn một thời gian , mộ tác phát những điều xấu đều có thể hóa giải được rất linh nghiệm.


MỘT DẠNG BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN DO DIENBATN THỰC HIỆN.




VLCĐ: Trong Phật giáo Nguyên thủy có Những phương pháp tu Thiền Kasina. Vậy chúng là gì? Chăm chú ánh sáng vô lượng cho đến khi định tĩnh, giải thoát. Thiền kasina là một loại Thiền Chỉ (được biết theo những tên gọi khác nhau như Samatha, dhyana, jhana), được nhằm làm ổn định tâm thức của hành giả và tạo ra một nền tảng cho sự thực tập xa hơn trong thiền.

TT. Thích Tâm Đức
Hiện nay phong trào Niệm danh hiệu A Di Đà Phật trong giới Phật giáo đang ngày tràn lan nhằm giúp người niệm sau khi chết được vãng sanh vào Thế giới Phương tây Cực lạc của Phật A Di Đà, hay nói cách khác Cầu nguyện Tha lực (A Di Đà Phật) cứu linh hồn mình vào thế giới của Ngài sau khi chết. Vậy, ý nghĩa của Niệm Phật A Di Đà ấy như thế nào? Tự lực (sức mạnh của mình) là chính hay Tha lực (sức mạnh của người khác) là chính? Mình đang tu cái Nhân hay tu cái Quả? Cảnh giới Cực lạc ấy ở đâu?

Về mặt lịch sử, Phật giáo trải qua 3 giai đoạn chính: 1) Phật giáo Nguyên thủy (Theravada – Từ Phật Thích Ca đến khoảng 100 năm sau khi Ngài nhập diệt, vào khoảng Đại hội kiết tập kinh điển lần thứ hai), 2) Phật giáo Bộ phái hay Tiểu thừa (Hinayana – Từ Đại hội kiết tập kinh điển lần thứ hai trở đi), và 3) Phật giáo Đại thừa (Mahayana – Từ khoảng Thế kỷ I Công nguyên trở đi).

Theo GS. Kimura Taiken (Nhật Bản)[i]tư tưởng Đại thừa đã nảy mầm từ Nguyên thủy Phật giáo[ii]bất luận kinh điển nào cũng đều lấy hiện thế làm trung tâm, hoặc lấy hiện thế làm điểm xuất phát[iii]. Đức Phật Thích Ca cũng đã nói rằng, Pháp của ta là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, đến để chứng... Cho thấy, để hiểu rõ được ý nghĩa Niệm Phật trong kinh A Di Đà (thuộc Phật giáo Đại thừa) chúng ta cần phải tham khảo những pháp tu liên hệ, tương tự bên Phật giáo Nguyên thủy (kinh tạng Pali).

Trong Phật giáo Nguyên thủy có Những phương pháp tu Thiền Kasiṇa. Vậy chúng là gì?
Kasiṇa là những Vật được dùng làm đối tượng thiền quán. Có 10 loại đối tượng được đề cập trong Kinh tạng Pali[iv]:

  1. Đất (paṭhavī kasiṇa),
  2. Nước (āpo kasiṇa),
  3. Lửa (tejo kasiṇa),
  4. Không khí, gió (vāyo kasiṇa),
  5. Màu xanh dương, xanh lá cây (nīla kasiṇa),
  6. Màu vàng (pīta kasiṇa),
  7. Màu đỏ (lohita kasiṇa),
  8. Màu trắng (odāta kasiṇa),
  9. Lỗ hổng (ākāsa kasiṇa),
  10. Ánh sáng (āloka kasiṇa).
Những kasiṇa này là những dĩa được tô màu có thuộc tính, kích thước khác nhau. Chẳng hạn, kasiṇa làm bằng đất sét màu nâu được làm bằng cách trét đất hay đất sét (hay một thứ khác có màu và chất liệu tương tự) trên một miếng vải bạt hay vật liệu khác.

Thiền kasiṇa là một loại Thiền Chỉ (được biết theo những tên gọi khác nhau như Samathadhyanajhana), được nhằm làm ổn định tâm thức của hành giả và tạo ra một nền tảng cho sự thực tập xa hơn trong thiền. Trong những giai đoạn đầu của thiền kasiṇa, một đối tượng vật chất được sử dụng làm đối tượng thiền, được chú tâm bởi hành giả cho đến hình ảnh thị giác của những hình thức đối tượng trong tâm của hành giả. Trong những cấp độ cao hơn của Thiền kasiṇa chỉ một tâm ảnh kasiṇa được dùng làm đối tượng thiền. Khác với hơi thở, truyền thống Phật giáo chỉ ra rằng một số đối tượng kasiṇa không thích hợp cho những cấp độ cao hơn của thiền, cũng như không thích hợp cho Thiền Quán (Vipassana).

Mười kasiṇa trên là một phần của 40 kammatthana: những đối tượng thiền. Chúng được Buddhaghosa mô tả chi tiết trong phần thiền của Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo luận).[v] Một khảo sát những kỹ thuật thiền ở Anh Quốc cho thấy rằng, có khoảng 3% cho thiền kasiṇa vật chất thôi nhưng đến 15% nếu bao gồm cả những người thực hành thiền kasiṇa “Siêu thế” như thiền Dhammakaya (Pháp thần) trong tổng số thiền giả.[vi]

Đối tượng thiền kasiṇa có đường kính bằng 1 gang tay của hành giả + 2cm và đặt cách xa mắt từ 40cm đến 60cm.
Mặc dầu hành thiền kasiṇa có liên hệ với truyền thống Theravada (Nam tông) nhưng dường như nó cũng được biết nhiều trong nhiều trường phái khác nhau ở Ấn Độ một thời kỳ. Asanga[vii] (Vô Trước) có đề cập kasiṇa trong chương Samāhitabhūmi (Tĩnh tâm và thấy sự vật như thật) trong quyển Yogācārabhūmi (Du già sư địa luận) của ông ta[viii].

Tiếp theo, chúng ta thầy gì trong Kinh A Di Đà?
Trong Kinh A Di Đà có một đoạn rất quan trọng như sau:
“Xá Lợi Phất, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu. Nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật Nhất tâm bất loạn; Kỳ nhân lâm mạng chung thời A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền thị nhân chung thời tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật cực lạc quốc độ”.
Tạm dịch:
“Này Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam tín nữ nào nghe nói A Di Đà Phật rồi Chấp trì danh hiệu ấy, cho đến một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bảy ngày mà Nhất tâm bất loạn thì người ấy khi chết Đức Phật A Di Đà cùng các thánh tăng hiện ra trước người ấy và người ấy liền được sanh vào cảnh giới cực lạc của Ngài”.
Phân tích đoạn kinh trên, ta thấy có hai phần: Nhân = Này Xá Lợi Phất...Nhất tâm bất loạn; Quả = thì người ấy...được sanh vào cảnh giới cực lạc của Ngài.
Phân tích Nhân: Chấp trì danh hiệu A Di Đà Phật liên tục cho đến Nhất tâm bất loạn thì đây chính là Thiền. Vì sao? Vì Chấp trì = Kiên trì hay Chăm chú (đến một đối tượng và đối tượng ở đây là Danh hiệu A Di Đà Phật); Danh hiệu A Di Đà Phật trong chữ Phạn là Amitābha (nghĩa là Vô lượng quang hay Vô lượng ánh sáng). Như vậy Chấp trì danh hiệu A Di Đà Phật = Chăm chú đến Vô lượng ánh sáng = Thiền trên đối tượng Ánh sáng (āloka kasiṇa) cho đến chuyên chú không loạn động.

Phân tích Quả: Cảnh giới cực lạc của Phật A Di Đà chỉ là một biểu tượng không thể chỉ bày được[ix]. Vì ngay trong Kinh A Di Đà cho biết ngoài Phật A Di Đà còn có vô số các Đức Phật khác: Phương Đông có A Súc Bệ Phật và vô số Đức Phật khác; Phương Nam có Nhật Nguyệt Đăng Phật và vô số Đức Phật khác; Phương Nam có Vô Lượng Quang Phật (=Amitābha = A Di Đà Phật) và vô số Đức Phật khác; Phương Bắc có Diệm Kiến Phật và vô số Đức Phật khác. Phật đâu mà nhiều thế! Sô lượng Phật nhiều vô số như vậy là để khích lệ chúng sanh tu tập. Trong Kinh Pháp Hoa cũng ám chỉ ý này: Sau khi Phật diệt độ, những người cúng dường tháp miếu; nhóm cát thành tháp, tượng; vẽ; ca; ngâm khen; lễ lạy; chấp tay; cúi đầu; một tiếng xưng Nam mô Phật đều đã thành Phật đạo[x].

Vậy thì Chỉ có một cảnh giới giải thoát hay có nhiều cảnh giới giải thoát? – Cứu cánh giải thoát chỉ có Một, dành cho người: không tham, không sân, không si, không ái, không chấp thủ, có trí tuệ, không thuận ứng – không nghịch ứng và không ưa thích hí luận.[xi] Và một vị đã giải thoát thì không để lại dấu vết[xii]. Và cảnh giới giải thoát (hay cảnh giới của một vị Phật) hiện đang ở đâu? – Không thể chỉ được (ví như ngọn lửa cháy khi cạn hết dầu ngọn lửa tắt, vậy nó đi đâu?)[xiii]!

Về mối quan hệ giữa người chết với sự hộ niệm hay cầu nguyện thì như thê nào? Ta có thể nghe lời Phật Thích Ca như sau:
“Người chết đi đâu? Do nghiệp hay do cầu nguyện? - Người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, tham, sân, tà kiến sau khi chết dù có đám đông cầu nguyện mong cho sinh lên Thiên giới vẫn bị sanh vào Địa ngục.[xiv]
Đức Phật Thích Ca còn minh họa bằng hình ảnh về tác dụng của nghiệp thiện – ác qua ví dụ chiếc lá và hòn sỏi khi được ném xuống nước. Lá nhẹ cho dù có người cầu nguyện cho nó chìm xuống nhưng nó vẫn nổi. Ngược lại, hòn đá nặng chìm xuống nước cho dù có người cầu nguyện cho nó nổi lên nhưng nó vẫn chìm. Tuy nhiên, Ngài cũng chỉ ra Con đường giải thoát cho những người làm ác, bất thiện bằng cách Tự họ phải nỗ lực làm điều thiện nhiều thì vẫn có thể được sanh vào cảnh giới an lành[xv].

Đức Phật Thích Ca chỉ dạy các đệ tử phải luôn chú ý sống với (cái nhân) hiện tại và sau đây chỉ là một vài pháp môn tu tập đó:
  • Hộ trì 6 giác quan: Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhớ tưởng thì không được nắm giữ tướng chung, tướng riêng, những nguyên nhân gì vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn...[xvi]. Phật tử Miến Điện vận dụng lời dạy này là khi mắt thấy sắc đẹp hay xấu thì liền nói Thấy à! Có nghĩa là Dừng lại cái thấy, đừng để đầu óc cảm xúc, suy diễn từ sự thấy ấy...Tương tự Nghe à, Ngữi à...Buồn à, giận à....
  • Chánh niệm – tĩnh giác: Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tĩnh giác. Khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tĩnh giác...Khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tĩnh giác[xvii].
  • Chú tâm cảnh giác: Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt .....[xviii].
  • Chú tâm vào hiện tại mà buông xả (Kinh Nhất dạ hiền giả)[xix]:

“Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng,
Quá khư đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây,
Không động không rung chuyển,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai,
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Đêm ngày không mỏi mệt,
Xứng gọi Nhất dạ hiền.”


Đức Phật Thích Ca cảnh giác người học Phật rằng, ví như một đoàn người mù, người đi đầu mù và những người kế tiếp nối đuôi nhau cũng mù.
Các vị Tổ (thuộc Đại thừa Phật giáo) cũng cảnh giác người học Phật rằng, y kinh diễn nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự đồng ma thuyết. Như vậy, có những lúc mình phải hiểu kinh theo nghĩa bóng; nếu không sẽ sai lầm, dẫn đến mê tín, hoang tưởng. Ví dụ: Trong Kinh Pháp Hoa, Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến sau khi nghe Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức thuyết pháp xong đã tự đốt thân mình để cúng dường Đức Phật, sau đó được sanh về cõi Phật đó![xx] Và trong thực tế đã có những người bắt chước vị Bồ tát ấy rồi tự đốt mình để được vãng sanh về cảnh giới Phật! Nhưng ý của Kinh là Đốt thân có nghĩa là Phá trừ chấp ngã; Chúng sanh vì chấp ngã mà phát sanh tham, sân, si làm hại mình, hại người.

NHẬN XÉT:
  1. Hãy nắm ý và quên lời, cái ý mới là quan trọng. Niệm Phật trên mặt lời nóiâm thanh hoàn toàn khác với ý nghĩaquán tưởng. Cái nghĩa của A Di Đà Phật là Vô lượng Quang (Amitābha), nhờ sự chú tâm vào Ánh sáng vô lượng này mà dần dần được định tĩnh và giải thoát (biểu tượng là Cảnh giới phương Tây Cực lạc).
  2. Nhân nào thì tự động cho ra Quả ấy, không cần phải hộ niệm. Và phải chú ý cái Nhân tu tập hiện tại khi chúng ta đang còn sống mới quan trọng. Đó là Thiền hay các pháp môn dẫn đến sự Nhất tâm!
  3. Nếu Niệm Phật hay Hộ niệm cho người chết được vãng sanh, vốn đã không đúng với lời Đức Phật Thích Ca dạy mà vô tình, trên một góc độ, khuyến khích người ta làm ác khi đang còn sống vì khi đang còn sống họ sung sướng trên sự đau khổ của người khác và khi chết họ có nhiều tiền của bất nghĩa để thuê mướn nhiều người hộ niệm cho họ rồi họ cũng sẽ sung sướng tiếp sau khi chết!
  4. Người thường tác ý nhiều về cái gì thì thường có khuynh hướng về cái đó. Mình đang sống (là cái nhân hiện tại, không chịu lo tu tập cho đúng Nhất tâm bất loạn) mà cứ nghĩ đến cái chết (là cái quả, vãng sanh về thế giới ảo) thì chắc chắn là lạc đường, dẫn đến kết quả khổ đau! Vào thời Đức Phật có những vị tỷ kheo do quán sát tử thi nhiều và đã dẫn đến việc tự sát. Do vậy, ta cần tĩnh giác nhằm tránh hậu quả như vậy hoặc tương tự.
 
Phật tử chúng ta may mắn được sanh ra làm người, may mắn được gặp Phật (được đến chùa), nay cần thiết phải hiểu Phật pháp cho đúng. Có vậy mới giúp chúng ta đi hay tu tập đúng hướng theo lộ trình Phật chế: Giới – Định – Tuệ - Giải thoát – Giải thoát tri kiến.
Và nhớ là Cuộc đời con người rất ngắn ngủi!
 

[i] Tác giả 3 quyển sách: Nguyên thủy Phật giáo Tư tưởng luậnTiểu thừa Phật giáo Tư tưởng luậnĐại thừa Phật giáo Tư tưởng luận.
[ii] Kimura Taiken, Đại thừa Phật giáo Tư tưởng luận, dg. Thích Quảng Độ,..
[iii] Ibid., tr. 82
[iv] Anguttara Nikaya V, 36; Majjhima Nikaya II, 14; Digha Nikaya, III, 286...
[v]  Vism. 110, 117-169, 374.
[vi] Kruawan Sookcharoen (1998) Meditation: A Therapeutic Tool For Managing Stress, unpublished M.Sc. Nursing Studies thesis (King’s College, London). 3% for kasiṇa alone, 15% if those practising the aloka kasiṇa practice ofDhammakaya meditation are included.
[vii] Một luận sư Phật giáo Đại thừa.
[viii] Buddhist Insight: Essays by Alex Wayman. Motilal Banarsidass: 1984 ISBN 0-89581-041-7 pg 76.
[ix] Phẩm Hóa Thành Dụ trong Kinh Pháp Hoa cũng ám chỉ ý nghĩa này: Thành hiện giữa rừng cho đoàn tìm kho báu chỉ hóa hiện, tạm cho đoàn bớt mõi mệt dẫn đến bỏ cuộc, còn kho báu thật (chỉ cho cảnh giới giải thoát) thì sắp đến, chứ không nói rõ ở đâu!
[x] Thích Thanh Từ, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải, Thành hội Phật giáo Tp. HCM, 1993, tr. 115 – 119.
[xi] Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), I, “Sư tử hống tiểu kinh”, dg. Thích Minh Châu, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1973, tr. 64A -64B.
[xii] Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), I, “Kinh Xà Dụ”, dg. Thích Minh Châu, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1973, tr. 140.
[xiii] Kinh Mi Tiên Vấn Đáp (Milindapañha), dg. Hòa thượng Giới Nghiêm, NXB Tôn giáo, 2003, tr. 223.
[xiv] Tương ưng bộ kinh, IV, dg Thích Minh Châu, NXB Tôn giáo – Hà Nội, 2001, tr. 389-390.
[xv] Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), III, “Kinh Đại nghiệp Phân biệt”, dg. Thích Minh Châu, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975, tr. 407 – 419.
[xvi] Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), I, dg. Thích Minh Châu, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1973, tr. 269.
[xvii] Ibid.
[xviii] Ibid, 269A – 269B.
[xix] Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), III, dg. Thích Minh Châu, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975, tr. 373 – 377.
[xx] Thích Thanh Từ, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 650 -654
---o0o---
Sau đây là một vài hình ảnh về Thiền kasiṇa

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.