tháng 2 2015

VLCĐ: Có một thời điểm nào đó trên đường tu của Phật pháp mà bạn có thể kiểm soát được những tái sinh của mình. Bạn không cần phải là một vị Phật hay một hành giả đã giải thoát, một A La Hán, thì mới làm được việc này. Tuy nhiên, bạn cần phải là một vị Bồ Tát. Bạn phải tu hành đến một trình độ cao cấp trên đường tu mật tông và có một nguyện ước mãnh liệt muốn tái sinh vào sắc tướng nào đó để có thể giúp đỡ mọi người. Có những pháp quán tưởng và phương pháp giúp bạn chuyển hóa cái chết, thân trung ấm và tái sinh.

BẠN CÓ TIN VÀO TÁI SINH HAY KHÔNG? Alexander Berzin Singapore 10 tháng Tám, 1988 Trích đoạn đã được duyệt lại từ Berzin, Alexander and Chodron, Thubten. Glimpse of Reality. Singapore: Amitabha Buddhist Centre, 1999.

Hỏi: Ông có tin vào tái sinh hay không?

Đáp: Tôi tin có tái sinh, nhưng phải mất một thời gian lâu tôi mới đi đến kết luận này. Sự tin tưởng về tái sinh không đến ngay lập tức. Có những người sinh trưởng ở những nơi mà niềm tin về tái sinh là một thành phần trong nền văn hóa của họ. Đây là trường hợp tại nhiều nước Á châu, vì người dân đã nghe kể về những chuyện tái sinh từ lúc còn bé, nên họ tin tưởng một cách tự nhiên. Tuy nhiên, với những người như chúng tôi, lớn lên trong nền văn hóa Tây phương, thoạt tiên, điều này có vẻ thật lạ lùng. Niềm tin này không đến một cách đột ngột, với tiếng nhạc trỗi lên, cầu vồng hiện ra trên trời và ta thốt lên rằng: “Hallelujah, bây giờ thì tôi đã tin rằng có tái sinh rồi.” Sự việc thường không xảy ra như vậy.


Số đông quần chúng cần một thời gian dài mới quen thuộc với ý niệm về tái sinh. Tôi cũng đã trải qua nhiều giai đoạn trong tiến trình đưa đến sự xác tín vào tái sinh. Trước hết, tôi phải có tinh thần cởi mở để nghĩ rằng: “Tôi không thật sự hiểu tái sinh là gì.” Việc chấp nhận rằng ta không thấu hiểu về tái sinh là điều quan trọng, vì đôi khi ta có thể phủ nhận tái sinh, và điều ta phủ nhận là một ý nghĩ sai lầm về tái sinh mà chính Phật giáo cũng bác bỏ. Một người có thể nghĩ rằng, “ Tôi không tin vào tái sinh vì tôi không nghĩ là có một linh hồn có cánh bay từ thân này qua thân khác.” Phật giáo cũng đồng ý như vậy, “Chúng tôi cũng không tin vào một linh hồn có cánh bay.” Để đi đến quyết định xác tín vào tái sinh, tôi phải tìm hiểu khái niệm này trong Phật giáo và nó không giản dị cho lắm. Nó vô cùng tinh vi, như tôi đã giải thích trước đây về tâm thức và năng lượng vi tế nhất, cùng với những bản năng đi kèm theo nó.


Thế rồi tôi nghĩ mình sẽ có một ít bán tín bán nghi về tái sinh. Tạm thời, chúng ta hãy xem là có sự tái sinh. Thế thì điều gì sẽ xảy ra khi ta nhận thức sự hiện hữu của mình bằng cách này? Ta có thể thiết lập tất cả những pháp tu của Bồ Tát, ta có thể thừa nhận mọi người đã từng là mẹ của mình và nhờ vậy, cảm thấy một sự liên hệ nào đó với tất cả mọi người.


Rồi những việc xảy ra trong đời tôi cũng có thể giải thích được. Tại sao một người có quá trình đào tạo như tôi lại rất thích học tiếng Trung Hoa? Tại sao Ấn Độ lại có sức lôi cuốn đến nỗi tôi phải đến đó và tu học với những người Tây Tạng? Xét vào những sở thích của gia đình tôi và môi trường nơi tôi sinh trưởng, chúng chẳng giải thích được tại sao tôi lại thích thú vào những điều này. Tuy nhiên, khi nghĩ đến vấn đề tái sinh thì tôi thấy việc này có thể giải thích được. Tôi phải có những liên hệ với Ấn Độ, Trung Quốc và Tây Tạng trong những kiếp khác, điều này khiến cho tôi có sự thích thú với những nơi này, với ngôn ngữ và văn hóa của các nước này. Tái sinh bắt đầu giải thích được nhiều điều mà tôi thắc mắc từ lâu, nhưng không thể tìm ra được câu trả lời nào khác; nếu không có nghiệp và những tiền kiếp, thì ta không thể giải thích được những gì xảy ra trong đời hiện tại của tôi. Tái sinh cũng giải thích được những giấc mơ quen thuộc cứ tái diễn trong giấc ngủ của tôi. Cứ như thế mà tôi dần dần trở nên quen thuộc với ý niệm tái sinh.

Tôi đã tu học tại Ấn Độ mười chín năm và tôi có nhiều đặc ân cũng như cơ hội để học hỏi với nhiều vị thầy rất cao tuổi, lúc họ còn tại thế. Những người này đã qua đời, đã tái sinh và hiện nay tôi lại gặp họ như những đứa trẻ. Tôi đã quen biết họ trong hai kiếp sống.


Có một thời điểm nào đó trên đường tu của Phật pháp mà bạn có thể kiểm soát được những tái sinh của mình. Bạn không cần phải là một vị Phật hay một hành giả đã giải thoát, một A La Hán, thì mới làm được việc này. Tuy nhiên, bạn cần phải là một vị Bồ Tát. Bạn phải tu hành đến một trình độ cao cấp trên đường tu mật tông và có một nguyện ước mãnh liệt muốn tái sinh vào sắc tướng nào đó để có thể giúp đỡ mọi người. Có những pháp quán tưởng và phương pháp giúp bạn chuyển hóa cái chết, thân trung ấm và tái sinh. Nếu bạn đã tinh thông ở cấp độ này thì bạn có thể kiểm soát việc tái sinh của mình. Có khoảng một ngàn người Tây Tạng đạt được trình độ này và khi sau khi họ qua đời, người ta lại tìm ra được họ. Trong hệ thống Tây Tạng, những người này được gọi là tulkus. Tulku là một vị lama tái sinh, được ban danh hiệu là Rinpoche. Tuy nhiên danh hiệu Rinpoche không chỉ được dùng cho các tulku hay những vị tái sinh thôi. Nó còn được dùng cho các vị trụ trì hay cựu trụ trì của một tu viện. Không phải ai được gọi là Rinpoche cũng là một vị lama tái sinh cả.


Tôi cũng xin nêu ra một điều là chữ lama được dùng theo nhiều cách khác nhau, tùy theo từng truyền thống ở Tây Tạng. Trong một vài truyền thống, lama đề cập đến bậc thầy tâm linh rất cao cấp, ví dụ như một vị geshe - người có bằng cấp tương đương với tiến sĩ trong Phật học – hay một vị lama tái sinh. Trong vài truyền thống khác, chữ lama được dùng để gọi một vị sư trong một cộng đồng. Vị sư này đã trải qua ba năm nhập thất và đã học được một số nghi lễ. Họ đi từ làng này qua làng khác để làm lễ cúng tế cho dân làng. Vì thế, danh hiệu lama có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau.


Có khoảng một ngàn người được công nhận là lama tái sinh hoặc tulkus. Họ được nhận ra bằng những điều họ biết, hoặc qua những chỉ dấu khác như các vị vấn linh (oracle), hay từ những dấu hiệu đáng kể đã xảy ra trong môi trường. Thị giả của vị lama quá cố sẽ đi tìm vị tái sinh mới. Họ sẽ đem theo những vật dụng mà vị lama tiền thân thường dùng trong các nghi lễ và những vật sở hữu của vị ấy, cùng với các vật khác tương tự với những món vật này. Đứa trẻ phải có khả năng nhận ra những vật sở hữu của nó trong đời trước. Ví dụ như Đức Dalai Lama đương thời đã nhận ra được những người đến tìm Ngài. Ngài gọi đúng tên của từng người và bắt đầu nói chuyện với họ bằng thổ ngữ Lhasa, không phải là thổ ngữ nơi Ngài đang sinh trưởng. Những dấu hiệu như thế giúp họ nhận ra đứa bé.


Tôi rất xúc động khi gặp lại các vị thầy của tôi trong hậu thân của họ. Xúc động nhất là khi tôi gặp lại Ling Rinpoche, người đã từng làm trợ giáo của Đức Dalai Lama đương thời. Rinpoche cũng là một đại sư đứng đầu truyền thống Gelug (phái Cách-lỗ). Khi viên tịch, Ngài đã nhập định gần hai tuần lễ, mặc dù Ngài đã tắt thở và theo phương diện y khoa, Ngài được xem như đã chết. Tuy nhiên, tâm thức vi tế của Ngài vẫn lưu lại trong thân Ngài. Tâm thức vô cùng vi tế của Ngài đã an trụ trong thiền định thậm thâm. Vùng xung quanh tim Ngài vẫn còn một ít hơi ấm và Ngài đã ngồi trong tư thế tọa thiền mà cơ thể không hề bị hư hoại. Khi Ngài chấm dứt thiền định, đầu Ngài nghiêng sang một bên và một ít máu mũi chảy ra. Vào lúc đó, tâm thức Ngài đã rời khỏi nhục thân của Ngài.


Tại Dharamsala, nơi tôi sống, hiện tượng này xảy ra hai, ba hay bốn lần mỗi năm. Điều này không phải là hiếm có, mặc dù một hành giả phải đạt được trình độ tâm linh cao cấp mới làm được điều này. Khả năng này có thể đạt được.


Vị tái sinh của Ling Rinpoche được công nhận khi Ngài được một tuổi chín tháng. Thông thường thì trẻ con không được nhận diện sớm như vậy, vì khi đứa bé lớn hơn chút nữa, khoảng ba hay bốn tuổi, chúng có thể nói chuyện hay tự đưa ra vài dấu hiệu. Đứa bé được đưa về nhà, nơi vị tiền thân đã ở, và một buổi lễ rất lớn được tổ chức để chào mừng vị tái sinh. Mấy ngàn người đã đứng hai bên đường, và tôi được may mắn ở trong đám người ấy. Ai cũng mặc áo quần đặc biệt và ca hát vui vẻ. Đó là một ngày thật vui tuơi.

Hỏi: Đứa trẻ được nhận diện như thế nào?


Đáp: Đứa bé được công nhận qua các vị vấn linh và môi giới, cũng như bằng khả năng tự nhận ra những vật dụng của mình từ đời trước. Ngoài ra, em bé cũng biểu tỏ một vài nét đặc trưng qua sắc tướng, ví dụ như vị tiền thân thường cầm chuỗi tràng hạt (mala) bằng hai tay, thì em bé này cũng làm y như vậy. Em còn nhận ra những người ở trong nhà của vị tiền thân nữa.


Tuy nhiên, điều thuyết phục tôi nhất là cách cư xử của chú bé trong buổi lễ. Chú bé được đưa vào trong nhà, nơi một pháp tòa đã được dựng lên gần khung cửa nhìn ra một hàng ba rất lớn và có đến hai ba ngàn người tụ tập ngoài sân. Hầu hết trẻ con dưới hai tuổi sẽ rất sợ hãi trong trường hợp này, nhưng chú bé này thì không hề biết sợ. Bé được đặt lên trên pháp tòa. Thông thường thì một đứa trẻ sẽ đòi đi xuống và khóc lóc nếu không được làm như vậy. Thế nhưng em bé này đã ngồi xếp bằng không xê dịch trong một tiếng rưỡi đồng hồ, trong khi mọi người đang làm lễ chúc thọ (long-life puja) cho em. Em chăm chú vào mọi việc đang xảy ra và không hề tỏ vẻ khó chịu giữa đám đông.


Một phần của buổi lễ gồm có việc cúng dường vị lama và cầu chúc Ngài sống lâu. Đoàn người tuần tự diễu hành, mỗi người dâng lên Ngài một lễ vật như tượng Phật, kinh điển, bảo tháp nhỏ, một bộ cà sa và nhiều vật khác nữa. Khi có người dâng lễ vật, Ngài phải nhận bằng hai tay và trao lễ vật ấy cho một người đứng ở phía bên trái của Ngài. Em bé làm như vậy một cách hoàn hảo khi nhận từng lễ vật. Thật là một điều phi thường! Làm sao ai có thể dạy cho một đứa bé một tuổi chín tháng cách cư xử như vậy? Không thể nào được!

Khi buổi lễ chấm dứt, mọi người xếp hàng để được Ngài ban phước. Được một người khác bế, em bé đưa tay theo đúng cách để ban phước cho từng người một. Với sự chú tâm hoàn toàn, không hề chán nản hay mệt mỏi, em bé đã ban phước cho hai hay ba ngàn người như thế. Sau đó, Đức Dalai Lama thọ trai với em. Em bé chỉ khóc một lần duy nhất và tỏ vẻ không bằng lòng khi Đức Dalai Lama từ giã ra về. Em không muốn Ngài đi.


Thật ra, em bé này đã dùng tay ban phước cho nhiều người trước khi được công nhận là Ling Rinpoche. Em đã sống trong viện mồ côi với người anh, vì mẹ em đã từ trần không lâu, sau khi sanh em ra. Ba em rất nghèo nên đành phải gửi hai đứa con vào cô nhi viện. Em bé đã ban phước cho nhiều người trong cô nhi viện và người anh của bé, khoảng ba hay bốn tuổi, đã nói với mọi người rằng, “Em tôi rất đặc biệt. Nó là một lama, một Rinpoche. Đừng làm điều gì xấu đối với nó. Hãy đối xử với nó một cách đặc biệt.”

Những vị Ling Rinpoche tiền thân đã là sư phụ của ba vị Dalai Lama liên tiếp. Một vị là sư phụ của Đức Dalai Lama thứ mười hai, vị Ling Rinpoche kế tiếp là sư phụ của Đức Dalai Lama thứ mười ba, và vị tiếp theo là thầy của Đức Dalai Lama thứ mười bốn. Dĩ nhiên, người ta xem vị Ling Rinpoche tái sinh này là thầy của vị Dalai Lama trong kiếp tương lai.


Chứng kiến những trường hợp này tạo cho tôi nhiều ấn tượng mạnh về sự khả thi của những đời sau. Thế nên, nhờ sự suy xét, nhờ được nghe những mẫu chuyện và nhìn thấy những việc như trên, ta sẽ dần dần chấp nhận sự hiện hữu của đời sống trong quá khứ và vị lai. Bây giờ, nếu có ai hỏi tôi rằng, “ Ông có tin vào những kiếp vị lai không?”, tôi xin trả lời là, “Có, tôi tin vào những đời sau.”


Hỏi: Có phải các vị lama tái sinh chỉ được tìm thấy trong cộng đồng người Tây Tạng hay không?

Đáp: Không đâu, có khoảng bảy vị đã được tìm ra ở các nước Tây phương. Một trong những vị này, Lama Osel, tái sinh của Lama Thubten Yeshe, là một em bé người Tây Ban Nha. Việc gặp gỡ Lama Osel đã thuyết phục được những người đã từng quen biết Lama Yeshe, khiến họ tin tưởng vào sự tái sinh.


(Viện Lưu Trữ Phật Pháp Berzin)

Tiểu Sử Ngắn Alexander Berzin


Từ trước đến giờ mình thuộc dạng trâu bò, ăn no ngủ kĩ, chẳng mấy khi mình ốm đau, nhức đầu sổ mũi như các bạn bè cùng trang lứa. Chính vì vậy mà các loại thuốc thang mình chẳng bao giờ quan tâm cả.

Tuy vậy, cuộc đời không phải chỉ toàn màu hồng, bước chân vào thế giới ồn ào của người đi làm, mình bắt đầu cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức.

Ngày ngày phải ngồi văn phòng cả 8 tiếng liền, về đến nhà lại tiếp tục ngồi máy tính làm dở những côn việc ngổn ngang chưa xong… mình chỉ muốn ngất xỉu!

Công việc đã vậy, ở tuổi này, mình còn bị bố mẹ giục lấy chồng. Cái gì đến cũng phải đến, lại tất bật lo toan cho đám hỏi, đám cưới. Lo toan chồng chất khiến cho mình chưa kịp vui niềm vui vu qui đã bị căn bệnh đau đầu và mất ngủ hành hạ.


Trà Tâm Sen

Lúc này mình mới cầu cứu tới các loại thuốc. Tuy nhiên, mình đã thử mấy loại thuốc giúp thần kinh ổn định, dễ ngủ… mà chẳng ăn thua. Đêm nào về nhà mình cũng trằn trọc mãi, chỉ khi quá mệt, mình thiếp đi lúc nào không hay.
Mẹ chồng mình ở quê lên thăm, thấy con dâu mắt thâm quầng như gấu trúc, bà sốt sắng hỏi chuyện rồi động viên mình không nên lo nghĩ quá nhiều về mọi chuyện. Bệnh mất ngủ là một tâm bệnh, ở những người trẻ tuổi, mất ngủ thường do quá lo nghĩ mà ra.
Tối đó, mẹ nấu một nồi canh sườn hầm hạt sen rất ngon và bắt mình ăn. Mẹ nói hạt sen và tâm sen đều rất tốt cho hệ thần kinh. Xưa các cụ cũng uống trà sen giúp dễ ngủ.
Mẹ cũng phơi cho mình một túi tâm sen. Tâm sen hơi đắng, có thể bỏ thêm chút cam thảo, uống vào buổi tối, trước khi đi ngủ khoảng 30 phút, đảm bảo ngủ ngon.
Quả thật, tối đó, sau khi ăn canh hạt sen và uống cốc tâm sen, mình ngủ ngon hơn hẳn. Các tối sau, mình cũng uống cốc tâm sen để dễ ngủ và ngủ sâu giấc.
Các bạn nào mắc bệnh mất ngủ như mình thử cách này nhé, hiệu quả lắm!
  • Hoàng Thùy Liên (Lam Sơn, Thanh Hóa)

Tìm hiểu về khí công để tránh những điều có hại: Khí Công là gốc của các phái võ Nội Gia, là căn cốt của mọi phương pháp dưỡng sinh Ðông Á. Hình thành từ các Phép Ðạo Dẫn của Ðạo Gia, phối hợp với Môn Phái Thiền Tông Ðạt Ma Sư Tổ, Khí Công triển khai qua dịch học đã trở nên rất phong phú và mỗi ngày một phát triển nhất là dựa vào y học hiện đại. Lấy nguyên lý Quân Bình Âm Dương, Ðiều Hòa Ngũ Hành làm căn bản trong luyện khí

Bài viết của Châu Hồng Lĩnh

Mục đích bài viết này: Tôi là người tập khí công từ nhỏ, với mục đích trị bệnh hen suyễn và đã khỏi hoàn toàn. Phương pháp này tôi học của một người quen với ông nội tôi, tôi gọi bằng chú. Chú không nhận làm thầy tôi, và không muốn nói tên, nên tôi không nói, chứ không phải chối bỏ nguồn gốc.
Thời gian gần đây, tôi nhận ra nếu không nói rõ bản chất của khí công, thì người bình thường sẽ nhắm mắt chối bỏ nó một cách mù quáng, bỏ qua một phương pháp duy trì sức khoẻ một cách hiệu quả, bồi đắp đến tận gốc rễ của cơ thể.
Vì thế, tôi viết bài này nhằm mục đích giải thích trực tiếp thông qua kinh nghiệm tu tập bản thân. Hy vọng những bạn đọc có quan tâm đến vấn đề này sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về bản chất của khí công và việc tập khí công.

Đây là bài giải thích sơ lược về bản chất của khí công, chứ không nói về phương pháp tập.


I. Một vài điều cơ bản về khí công

Bài tập khí công sơ cấp thực ra rất đơn giản, sách vở và phim ảnh nói đầy rẫy, trên Internet cũng có. Vì thế đây là một bài viết ngắn gọn tôi viết theo như tôi hiểu, viết ra các định nghĩa này theo kinh nghiệm và trực giác của mình (chưa chắc đã chính xác 100%, nhưng ít nhất là có kiểm chứng). Lý do tôi làm thế vì:
  1.  Đa số các thầy từ xưa nói về khí đều dùng thứ ngôn ngữ Đạo gia hay Phật gia huyền bí.
  2.  Sau thế hệ các cao thủ khí công thực sự, thì các thầy thuộc về thế hệ sau chủ yếu là tập theo động tác, kinh nghiệm của thế hệ trước theo kiểu cầm tay chỉ dạy, ít chịu học nguyên lý, vì thế lý luận khí công thường là lệch lạc, chắp vá và không kiểm chứng bằng thực tế được.
  3.  Đa số các sách dạy khí công thế hệ sau này toàn là nói láo, lẫn lộn nhập nhằng khí, không khí, máu, oxygen …etc.., lập lờ đánh lận con đen, cố gắng giải thích khí công bằng y học phương Tây, nhưng thực ra hai thứ đó không phải là một.
Những thứ lý luận loằng ngoằng, cao siêu về Ý và Khí người ta viết chán rồi. Hồi tôi 18 tuổi cũng có viết một bài, giờ đọc lại thấy hơi buồn cười, mặc dù cũng không có sai sót gì nghiêm trọng, ít nhất là hơn mấy bố viết sách khí công bán lấy tiền bây giờ ở Việt nam:
Vì thế, ở đây tôi diễn giải đơn giản theo cách hiểu của tôi.
Khí, viết theo tiếng Hán, không phải là không khí mà là năng lượng, như từ khí trong Điện khí hoá, Cơ khí hoá …etc…
Năng lượng này ở đâu mà có? Trong Đạo gia, người ta tin rằng khi con người ta sinh ra từ cơ thể người mẹ, thì trong người đã có năng lượng thừa hưởng từ người cha và người mẹ, và từ trong trời đất, gọi là năng lượng tiên thiên. Về sau khi con người ta hít thở, ăn uống tạo nên năng lượng cho mình để lớn lên và phát triển thì gọi là năng lượng hậu thiên. Trong sách về khí công hay truyện chưởng thường viết đó là Tiên thiên chân khí và Hậu thiên chân khí. Phật gia khi truyền từ Ấn Độ sang Trung quốc cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng này. Phật giáo ở Ấn Độ bắt nguồn từ đạo Hindu thì tư tưởng có khác biệt rõ rệt. Đây chính là lý do các phương pháp tập Yoga, nội lực của Ấn Độ và Phật giáo truyền từ Ấn Độ lên Tây Tạng (Mật tông) hoàn toàn khác biệt với các phương pháp tập của Trung quốc.
Khí công Đạo gia và Phật gia tin rằng năng lượng tiên thiên của con người là năng lượng thuần khiết nhất, và có mạch nối liền với vũ trụ, nên người tập khí công phải tìm cách bảo trì năng lượng tiên thiên, năng lượng hậu thiên chỉ có vai trò duy trì và bù đắp những mất mát trong quá trình con người phát triển. Chính vì thế nên khí công Đạo gia và Phật gia mới chủ trương giữ gìn tinh khí, luyện đồng tử công, bế dục hoặc hạn dục để duy trì năng lượng ở mức cao và tập thành cao thủ.
Luyện khí theo kiểu Đạo gia hay Phật gia Trung Quốc là tích luỹ khí (năng lượng), cố bản bồi tinh (tìm cách tránh thất thoát năng lượng tiên thiên, bồi bổ bằng năng lượng hậu thiên thông qua ăn uống, hít thở). Sau đó quá trình luyện tinh hoá khí là dùng các động tác luyện tập khí công kết hợp với hơi thở để biến đổi tinh (vật chất) thành khí (năng lượng), đồng thời thay đổi về chất cấu trúc của cơ thể.
Tinh ở đây nên hiểu là những tinh hoa vật chất của cơ thể, hoặc là do sinh ra có sẵn một ít, hoặc là do quá trình trao đổi chất, ăn uống hít thở của cơ thể tạo nên. Từ tinh hoa vật chất này, mới sinh ra năng lượng, da, thịt, tóc v.v…
Chính vì Khí được chuyển hóa từ tinh chất này nên nếu luyện Khí quá mức hay luyện nhiều lần thì nó phải rút tỉa tới những tinh chất có sẵn trong cơ thể như tủy sống, do đó sinh ra suy nhược hoặc bất lực là như vậy.
Khi tinh không bị thất thoát, khí được tích luỹ đầy đủ thì thần (tinh thần) của con người sẽ được nâng lên một tầm cao mới. Lúc đó ý chí con người trở nên kiên định, khả năng hoạt động của não cao, cơ thể khoẻ mạnh nên con người có thể làm nên những kỳ tích mà đối  với người thường là phép lạ.
Tôi không muốn nói ví dụ cụ thể về bản thân về những gì tôi đạt được khi tập khí công. Hy vọng là riêng chuyện tôi chữa khỏi bệnh hen suyễn kinh niên rất nặng của mình cũng nói lên được điều gì.
Đoạn trên là tóm tắt của Luyện tinh hoá khí, Luyện khí hoá thần. Tôi chưa qua các mức khác nên không dám nói.

Tập khí công



Mức cơ bản tập khí công của tôi cho đến khi chữa hoàn toàn bệnh hen suyễn là mỗi ngày luyện 6 hơi thở. Lúc hơi thở ngắn, thở ra 10 giây, hít vào 10 giây là 20 giây một hơi thở ra hít vào, tổng cộng 6 lần thở ra hít vào là 20 giây x 6 = 120 giây = 2 phút.
Sau này hơi thở tôi dài ra 1 phút rưỡi một lần thở ra hít vào, thì 6 hơi thở mất 3 phút  x 6 = 18 phút. Nhưng đó là tôi tập thêm phần kinh mạch về sau, còn người bình thường tập bài khí công như tôi từng tập thì hiếm có ai mất quá 4 phút một ngày.
Tất nhiên tập khí công trong võ thuật thì lại khác nữa, ví dụ như có lời đồn tôn sư Diệp Vấn tập bài Tiểu Niệm đầu mất từ 45 phút cho đến 1 tiếng. Chuyện này thật giả không biết, chứ cá nhân tôi luyện riêng phần tụ khí (là phần 1 trong 3 phần tụ khí, xả khí và dụng khí của bài Tiểu Niệm đầu) là đã mất hơn 30 phút.
Thời cổ đại người ta dùng cưa tay, cưa cây cổ thụ hết mấy ngày. Giờ ta dùng cưa máy, cưa cây cổ thụ một phát là đứt, nên chuyện tập khí công ngày mấy tiếng chỉ có ở thời Xuân Thu Chiến quốc, chứ vào thời cuối Thanh, đầu Dân quốc, nghiên cứu về Đạo gia Khí công đã tương đối hoàn chỉnh, con em quý tộc vùng An Huy, Phúc Kiến Trung quốc đến sau 17 tuổi là hoàn thiện toàn bộ phần luyện tinh hoá khí. Những kỹ thuật còn truyền về sau này, công năng là tính bằng phút, chứ không tính bằng tiếng đồng hồ nữa.
Tập khí công cho sức khoẻ thì rất ít ai cần tập hơn 4 phút một ngày, mà thậm chí là không nên luyện hơn 4 phút một ngày, lý do tôi sẽ giải thích tiếp ở dưới.

3. Tẩu hoả nhập ma khi tập khí công

Nhiều người cả đời chả bao giờ đọc một sách khí công, đông y nào nghiêm túc, chưa từng gặp một ai có tập qua khí công, chỉ đọc truyện chưởng, nhưng khi nói đến khí công thì hễ mở mồm ra là phán y như đúng rồi.
Luyện khí công rất dễ, nhưng chính vì nó quá dễ nên ít người chịu nghe dặn dò và làm theo cái dễ đó một cách nghiêm túc, mà đa số là xảy ra một trong hai trường hợp sau:
  • Thấy dễ quá, tập chơi cho biết, tập dăm bữa nửa tháng không thấy gì rồi bỏ. Trường hợp này là còn tốt.
  • Thấy dễ quá, tập nhẹ quá, không thấy mệt, nên tăng liều lượng tập lên. Ví dụ như nhiều người tập trong khoảng thời gian mấy tháng đầu tiên, căn cơ chưa vững, không thấy gì, nghĩ là tập hít vào thở ra 6 lần chưa ngon, tăng lên 12 hơi thở chắc ngon hơn.
Đây chính là nguyên nhân gây hại khi tập khí công. Thời gian ban đầu chính là thời gian để luyện tinh hoá khí, tức là luyện vật chất của cơ thể ra năng lượng. Nếu cơ thể sinh ra vật chất không kịp, thì quá trình này sẽ luyện vào nguyên tinh cốt lõi của cơ thể. Cá nhân tôi đã quan sát được hai người bị rối loạn huyết áp và nhịp tim khi tập quá độ trong một thời gian dài. Họ tập vài tháng đầu không thấy gì, sốt ruột muốn nhanh, tập tăng cường độ và bị ảnh hưởng ngay. Có một người cũng tập như vậy, và bị giảm khả năng hoạt động sinh lý.
Nhưng tập đúng trong khuôn khổ, thì khí công sẽ bồi đắp căn cơ, cốt lõi và nội tạng của cơ thể, làm cho cơ thể khoẻ mạnh và hoạt động hiệu quả hơn.
Vì thế Đạo gia mới nhấn mạnh vào “Dục tốc bất đạt” và “Hữu sở cầu tất hữu sở thất”. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi và quan sát nhiều người tôi hướng dẫn trong vài chục năm nay, rải rác ở Việt nam, Đức và Mỹ, thì chỉ cần cẩn thận, nghiêm túc tập đúng 6 hơi thở, chứ Không Phải là 5 hơi, 7 hơi hay 12 hơi, thì sẽ có kết quả khi tập đủ ngày tháng (9 tháng – 1 năm), chứ không có vấn đề gì. Hôm trước ngồi chơi với một cậu bạn có kinh nghiệm nghiên cứu Dịch số, Phong thuỷ, cũng có nói về hồi trước cậu ấy đi tập Thiền, người thầy cũng nói về chuyện củng cố căn cơ bằng 6 hơi thở. Có lẽ để ra được con số 6 này, cũng phải tốn nhiều mạng tôn sư, “tẩu hoả nhập ma” mất nhiều người rồi thì mới đúc rút ra được.
Nhưng theo cá nhân tôi, cứ tà tà mà tập, đừng mong cầu, sốt ruột, đúng ngày đúng tháng sẽ có kết quả. Quan trọng nhất là ngày nào cũng phải tập, công phu là cần đều chứ không cần nhiều.

4. Khí công cao là võ thuật cao

Đây là một ngộ nhận nguy hiểm. Khí công là luyện nội tạng bên trong. Nó trợ giúp cho vận động và việc sinh ra năng lượng, lực của cơ thể. Nhưng để đem ra đánh người thì gân cơ bên ngoài cũng phải bền chắc để chịu va đập, phải có ý thức về quyền cước qua lại thì mới đánh người được.


III. Tóm tắt vấn đề
Luyện khí công không khó khăn, huyền bí, cũng không tốn thời gian. Người thông thường chỉ cần luyện từ 2 đến 4 phút một lần tập, mỗi lần tập chỉ thở 6 hơi thở hít vào + thở ra, mỗi ngày tuyệt đối không nên tập quá 2 lần.
Tập khí công chỉ cần đều, ngày nào cũng tập. Nên chọn một cữ nhất định để tập, ví dụ hôm nay mình tập buổi tối thì hôm sau cũng tập buổi tối, cứ thế kéo dài mãi hàng tháng, hàng năm, thời điểm có thể xê xích, nhưng đừng xê xích nhiều quá.
Người xưa có tổng kết về 4 thời điểm có thể chọn để tập khí công tốt nhất trong ngày, nhưng tôi không nói cho khỏi loãng. Hơn nữa thời hiện đại, mấy ai làm chủ hoàn toàn giờ giấc, nên miễn đúng cữ, đừng xê dịch quá, ví dụ đừng có hôm thì tập tối, hôm thì tập trưa, hôm thì tập sáng, thế là được.
Tập khí công nếu làm đúng số lần, không nhiều hơn, không ít hơn thì không có nguy hiểm. Nhưng những người tôi quan sát qua hàng chục năm nay thì hễ tập không đều hoặc ít hơn là không kết quả, còn những người cố tập tăng cường độ lên, thì TOÀN BỘ đều bị bệnh và có vấn đề tim mạch, huyết áp, sinh lý.
Tập khí công dễ, chính vì dễ mà không ai làm, hoặc làm theo mà không nghiêm túc. Theo quan điểm cá nhân của tôi, thì như thế cực kỳ có hại. Hại nhẹ nhất là trong vòng mấy tháng tự nhiên mỗi ngày mất mấy phút làm một việc vô tích sự. Hại nặng nhất là bệnh tật.
Nhưng trong đời cái gì cũng thế thôi, ít quá hoặc nhiều quá đều có hại. Quan trọng nhất là theo cái dễ mà làm đều đặn hàng ngày trong mức vừa đủ.
Hiện nay sách vở, tài liệu khí công nhiều, người tập khí công cũng nhiều. Vì thế khi chọn phương pháp tập, thầy tập thì nhớ quan sát hai điều:
  • Người thầy, phương pháp có lý luận rõ ràng, hợp lý hay không.
  • Người thầy, người viết sách có thành tựu gì, kết quả gì không.
Hai điều trên không có thì chính là nói láo, không nên tập. Phải có đủ cả hai. Thậm chí kể cả nếu người thầy có làm được một số kỳ tích, nhưng không giải thích được thì mình cũng không nên tập theo, vì sẽ không biết là có ảnh hưởng phụ gì hay không.
Khí công, cũng như cơm nước hàng ngày, ai tập thì người đấy khoẻ, ai ăn người đấy no, không tập giúp, ăn giúp được. Mỗi người nếu có quan tâm thì nên tìm hiểu nghiêm túc và chọn con đường cho chính mình, tập luyện kiên nhẫn, nghiêm túc và không nóng vội. Còn nếu không, thì không nên tập, vì vừa lãng phí thời gian, vừa có thể gây hại cho sức khoẻ.
Châu Hồng Lĩnh
Los Angeles, December 18th, 2013

Trong dân gian có nhiều phương thức chữa bệnh đau mắt đỏ khác nhau nhưng phương thức chữa bệnh đau mắt đỏ khỏi 100% mà không cần dùng đến thuốc là điều không phải mấy ai cũng biết. Thời gian vừa qua dịch bệnh đau mắt đỏ lại hoành hành miền bắc khiến khá nhiều phải khổ sở.

Sau đây xin đưa ra cho các bạn một mẹo chữa đau mắt đỏ đã được thử nghiệm và được bộ y tế khuyến cáo áp dụng, và chúng tôi cũng xin khẳng định với phương pháp chữa bệnh đau mắt đỏ này bạn sẽ khỏi 100%. Trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu về bệnh đau mắt đỏ Đau mắt đỏ là bệnh do vi rút gây ra. 


Tuy nhiên, hiện tại các nhà khoa học vẫn chưa sáng chế ra loại vắc xin phòng chống loại vi rút này. Biểu hiện đau mắt đỏ là đỏ, và ngứa một mắt hoặc cả hai mắt, có cảm giác có vật lạ trong mắt. Khi thức giấc mắt bị dính chặt. Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thuốc chữa trị căn bệnh này, có cả thuốc nhỏ, thuốc uống như tobramycine 0.3% (tobrex, toeycine), neomycine và polymycine B (cebemycine), quinolone (oflovid, okacin, vigamox)… 

Tuy nhiên, trong dân gian cũng có rất nhiều mẹo chữa đau mắt đỏ hiệu quả. Những mẹo này còn giúp cơn đau nhức mắt giảm đi tức thời. Dưới đây là một số mẹo chữa đau mắt đỏ: - Nhúng một chiếc khăn mặt sạch vào một bát nước muối sạch pha loãng. Lấy khăn mặt đó rửa sạch mắt. Sau đó, có thể nhỏ thuốc mắt sẽ khiến bệnh nhanh khỏi hơn.

Lá trầu không là phương pháp được rất nhiều người dân lựa chọn
- Lấy một chiếc lá trầu không già rửa sạch với nước muối rồi vò nát cho vào một chiếc cốc. Sau đó, đổ nước nóng vào cốc và áp mắt đau vào chiếc cốc. Làm như vậy vài lần trong ngày sẽ có kết quả rõ rệt. - Đập nát lá trầu không rồi đắp lên mắt. Lá trầu không có chứa một chất kháng sinh có tác dụng sát trùng rất tốt. 




Cây sống đời là một phương pháp tuyệt vời chữa bệnh đau mắt đỏ

- Ngoài ra còn có một mẹo chữa đau mắt đỏ khác là lấy lá sống đời rửa sạch rồi làm giống như lá trầu không sẽ giúp mắt bạn mau lành. Những mẹo này có thể không có tác dụng trị dứt điểm bệnh, nhưng có tác dụng giúp mắt bớt sưng đau. Và khi được kết hợp điều trị với thuốc sẽ mang lại kết quả nhanh hơn Hy vọng với phương pháp chữa bệnh trên sẽ giúp các bạn đang bị bệnh đau mắt đỏ có thể khỏi hoàn toàn mà không cần dùng tới bất kỳ loại thuốc tân y nào cả !. Chúc các bạn luôn khẻo mạnh với đôi mắt sáng nhất !. 

Nguồn bài viết : Net24h.vn

VLCĐ: Theo nhịp sống vội vàng của thời hiện đại ngày nay, không ít người rơi vào trạng thái mệt mỏi, lo lắng, cơ thể suy nhược dẫn tới việc mất ngủ. Vậy cách chữa trị đơn giản và hiệu quả nhất là gì? Đọc bài viết của Hoàng Thùy Liên mới thấy bạn thật may mắn khi có được một bà mẹ chồng tâm lí đã nấu canh sen cho con dâu ăn để chữa bệnh mất ngủ. 

Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý là tâm sen dùng để pha trà chữa mất ngủ cần phải được sao vàng trước khi uống nhé! Tâm sen tươi nếu mang dùng luôn thì sẽ rất độc, không phát huy được tác dụng chữa bệnh của nó. 

Trước đây, chính mình cũng là nạn nhân của bệnh mất ngủ. Có lẽ ai phải trải qua bệnh này rồi mới hiểu thấu, một đêm mất ngủ dài bằng 10 đêm ngủ ngon. Nhiều khi sáng ra có việc cực kì quan trọng ở công ty mà đêm vẫn mất ngủ, mình chỉ muốn ngồi dậy khóc một trận cho thỏa thích, cảm thấy ức chế tột độ…
Tuy nhiên, nhờ có cách hay mà anh trai bày cho, mình đã tạm thời rời xa căn bệnh mất ngủ, cũng mong là không bao giờ gặp lại cơn ác mộng này.
Trước tiên, muốn tránh mất ngủ thì cả ngày không nên tiếp xúc với các chất kích thích như rượu, bia, café. Đặc biệt là người Việt ta vẫn hay có thói quen uống trà, muốn ngủ ngon, ngay cả trà đá mình cũng không uống. Cơ thể con gái vốn nhạy cảm, một hớp trà đá là khác liền.
Kế đến, hãy lựa chọn cho mình 1 môn thể thao. Nếu không có thời gian tới các trung tâm thẩm mĩ để luyện tập, bạn có thể bật nhạc và tự tập thể dục ở nhà. Bận nữa, bạn hãy cố gắng dành 5 phút buổi chiều để leo cầu thang. Đảm bảo, khi cơ thể bạn năng động hơn, giấc ngủ cũng dễ đến với bạn hơn.
Bí kíp để ngủ ngon của ông anh trai mình là anh thường xay một ly sinh tố cà chua uống trước khi đi ngủ. Nghe thì có vẻ kỳ lạ, con trai lại uống sinh tố. Nhưng cách này có lẽ anh được chị dâu tương lai làm cho, hiệu quả quá nên về thực hành với em gái.
Trước khi đi ngủ khoảng 30 phút, mình uống 1 cốc sinh tố cà chua. Quả thật là dễ ngủ hơn hẳn. Mình lên mạng tìm hiểu thì thấy trong cà chua có chất an thần rất tốt.
Lại còn giúp da dẻ mình mịn màng hơn nữa.
Nếu áp dụng cách này mà bạn vẫn khó ngủ, thì mình khuyên bạn hãy ngồi dậy, bật đèn và đọc sách nhé. Đọc sách khoảng 15 phút là mắt bạn mỏi, đảm bảo sẽ dễ ngủ hơn.
Hy vọng chia sẻ của mình có thể giúp được mọi người!
  • Lê Thiên Tú (Hà Đông, Hà Nội)


NHẬN DIỆN - TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
 
Trong bữa tiệc BBQ, một người bạn bị mất thăng bằng suýt ngã, bà ta trấn an mọi người là bà không sao cả, chỉ bị trượt trên gạch và đôi giày mới… Vài người đã giúp phủi bụi cho bà (thay vi kêu xe cứu thương) và làm cho bà một đĩa thức ăn mới. Bà Ingrid tiếp tục cuộc vui cùng bạn bè cho đến hết buổi chiều.

Mọi người mới về đến nhà, thì nhận được điên thoại cuả chồng bà Ingrid, báo tin là vợ ông đã đuợc đưa vào bệnh viện lúc 6 giờ chiều, và đã qua đờí vì Tai biến mạch máu não trong bữa tiệc BBQ. Nếu có người biết cách nhận ra triệu chứng Tai biến mạch máu não, có lẽ bà Ingrid có thể vẫn còn sống với chúng ta hôm nay.

XÁC ĐỊNH - TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Hệ thần kinh não bộ cuả nạn nhân Tai biến mạch máu não, có thể bị tàn phá nhanh chóng và kinh khủng, khi những người chung quanh không phát hiện ra được các triệu chứng cuả Tai biến mạch máu não. Thực ra, một người bàng quang có thể nhận diện được Tai biến mạch máu não, bằng cách hỏi nạn

 nhân ba câu đơn giản:
C. N. G.
C. Yêu cầu người đó Cười
N. Yêu cầu người đó Nói
G. Yêu cầu người đó Giơ tay lên
Nếu người đó bị trở ngại bất cứ điều nào kể trên, bạn hãy gọi xe Cấp cứu ngay tức khắc.

Ghi chú: Còn một dấu hiệu khác về Tai biến mạch máu não là Lưỡi của nạn nhân bị Cong, hoặc bị Ngả về một bên. Đó cũng là triệu chứng cuả Tai biến mạch máu não. Nếu mỗi người nhận được Email này, và gởi đi cho 10 người, thì ít nhất có một mạng người được cứu sống.
Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người.
Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-tế săn sóc.
Chỉ cần một ống tiêm thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may, là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke). Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng, nhưng có thể mang đến những kết quả cũng không kém lạ lùng và hữu hiệu. Chúng ta chỉ cần một phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.

Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó, quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.
Cô Irene Liu kể chuyện: “Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì ông là nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não. Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước. Khi tai biến mạch máu não xảy ra, tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.”
Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đứng cuống quít.

Điều quan trọng nhất là ĐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc “rút máu”.
Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gúc, cũng có thể giúp chúng ta được.
1- Trước hết, chúng ta hảy hơ nóng kim bằng lửa (bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.
2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly (milimetre).
3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.
4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.
5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.
6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lổ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.
7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện.

Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bị vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ.

Cô Liu nói tiếp: “Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Đông y tên Hà Bảo Định (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa. Vì thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%. Năm 1979, tôi đang dạy tại Đai học Fung-Gaap tại Đài Trung. Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một giáo sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói ‘Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não’.
Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não. Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Đại học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu. Sau vài phút, mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo
hai tai ông cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên dái tai hai mũi để hai giọt máu tươm ra.

Khi hai giọt máu hai bên dái tai được rỉ ra, một phép lạ đã xảy ra. Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường. Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy Hoa gần đó. Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc. Sau đó, mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó. Trái lại, các nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện. Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.”

Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì. Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt đời. Đó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đỡ những nạn nhân của căn bệnh quái ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.
Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.

Người ta nghĩ rằng, phá thai chỉ là một cách giải quyết của người phụ nữ, còn đàn ông thì vô can, Thật sai lầm khi mà quả báo của việc phá thai cứ lần lượt ập xuống đầu kẻ gây ra và người nhận lãnh, Bào thai hình thành tức là đã hình thành một sinh linh, hình thành một sự sống, phá tức là giết, cả hai cùng lãnh đủ  



Clip Video:


  Vào khoảng năm 1987, chính phủ Đài Loan bắt đầu có một lọat canh cải những luật lệ được cởi mở trong sân trường. Trước đây, cách thức điều hành sinh họat sinh viên rất nghiêm túc. Thí dụ, có những luật không cho phép sinh viên để tóc dài, cấm nam nữ có liên hệ trong sân trường, và sinh viên không được vào vũ trường. Sau khi những luật lệ cởi mở này có hiệu lực, thường thấy những đôi uyên ương chụm lại ở sân trường, và trong những ngày lễ của trường, sinh viên đi khiêu vũ với bạn bè suốt đêm. Ở một phòng khiêu vũ, tôi gặp môt cô là nhân vật chính trong câu chuyện này. Sau khi hẹn hò với nhau một thời gian, cô có thai và cô quyết định phá thai ngay lập tức. 

Vì lý do nào đó, tôi cảm thấy phá thai không đúng, và tôi đã lên tiếng chống đối. Tuy nhiên, cô bạn tôi vẫn giữ vững lập trường, cuối cùng tôi phải nhượng bộ và cùng đi với cô đến một bệnh viện. Chỉ trong nửa giờ, một sanh mang bị hủy diệt. Trong lúc chờ đợi phòng đợi, tôi cảm thấy như dao đâm vào tim và đau đớn vô cùng. Tôi cảm thấy hổ thẹn và tội lỗi kinh khủng về sự sanh mạng bị đánh mất này. Việc này xảy ra vào tháng tư năm 1989. Tôi không thể tin là một sinh viên mới chưa tới hai mươi tuổi, tôi đã mang một việc thiếu suy nghĩ là mang một sự sống vào đời rồi ngu si dẹp bỏ quyền sống này!

Vào đêm thứ sáu sau ngày phá thai, tôi mơ thấy một bé trai. Nó nhìn tôi hau háu, trong tay cầm một con dao. Thình lình, nó thọc dao vào cổ tôi, để lại một vết cắt rất sâu. Trong giấc mơ, tôi lấy tay che cổ, và tôi thức dậy trong cái đau. Trong thâm tâm, tôi hiểu đó là đứa bé bị phá thai đã đến để trả thù! Từ đêm hôm đó trở đi, tôi thường thức dậy vào khoảng bốn giờ sáng vì đau bụng và sức khỏe của tôi bắt đầu giảm sút.

Tôi càng ngày càng nóng nảy đến độ nhiều lần tôi muốn đánh bạn gái tôi. Vào lúc đó, tôi không hiểu tại sao thân tâm tôi lại thay đổi như thế. Cho đến khi tôi quy y với Hòa Thượng Tuyên Hóa tôi mới ý thức việc phá thai là kinh khủng như thế nào. Tôi cố gắng hết sức để sám hối, cải thiện, lạy Phật, tụng Kinh, Chú và tụ tập nhiều loại công đức. Tôi chỉ mong là “đứa bé” sẽ tha thứ cho tôi.

Sự trả quả báo của tôi đã đến mười năm trước đây – tôi bi chẩn đoán có bệnh ung thư. Các bác sĩ tìm thấy một mầm ung thư ác tính dài bốn phân tây ở cổ tôi, chỗ mà đứa bé gây thương tích cho tôi trong giấc mơ. Mặc dù sau khi giải phẫu tôi có vẻ được chữa lành, tôi tiếp tục tu hành cần mẫn và hồi hướng công đức cho đứa bé, hy vọng tôi có thể chuộc lỗi lầm to lớn của tôi.

Vào lúc phá thai, chúng tôi đều còn trẻ và khờ khạo. Có lẽ chúng tôi sẽ không làm những lầm lỡ như thế nếu xã hội và nhà trường có những tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn, nếu việc ngăn cấm về nhảy đầm không bị bãi bỏ, nếu chúng tôi đã được giáo dục nhiều hơn về đạo đức, hoặc bạn gái của tôi và tôi đã hành xử trong lễ giáo Thực ra, trong đời sống đôi bạn, không quan trọng là người nam hay người nữ biết hành xử theo lễ giáo. Chỉ khi nào một trong hai người quyết giữ gìn sự trong trắng của mình thì lầm lỗi sẽ không xảy ra.

Chia sẻ kinh nghiệm của tôi, tôi mong nhắc nhở tất cả mọi người nương theo những tiêu chuẩn đạo đức khi quan hệ trước hôn nhân, và đừng phạm vào những nghiệp chướng về tà dâm và sát sinh. Quan trọng hơn nữa, tôi mong được khuyến khích các người trẻ nên học để biết kiểm soát dục tình của mình, tập trung tư tưởng vào việc học hành, và tâm niệm về những lời cảnh cáo của các thầy cô và những người lớn tuổi.

Có lúc chúng ta nghĩ những lời cảnh giác này là câu chuyện nhàm tầm thường và không màng để ý, cảm thấy rằng chúng ta có thể lèo lái mọi chuyện được bình thường. Nhưng, khi làm một lầm lỗi lớn, rất khó mà sửa lại được. Đừng trở thành một người như tôi, luôn mang mặc cảm và xấu hổ suốt cả cuộc đời không thể xóa nhòa được.

Cuộc hành trình trong đời sống chúng ta hãy còn dài. Cho nên chúng ta phải bình tĩnh khi có những mong muốn đột nhiên nầy sinh. Đừng nghĩ phá thai là lầm lỗi của chỉ người đàn bà. Người đàn ông cũng có trách nhiệm và sẻ kinh nghiệm quả báo không khác. Tôi chân thành mong rằng tất cả chúng ta sẽ cùng nhau làm việc để cung cấp giáo dục và giúp đỡ các bạn trẻ nhiều hơn . Tôi cũng mong rằng những ban trẻ mau tỉnh ngộ ra khỏi những giấc mơ mê lầm., và đứng để những lầm lỗi này xảy ra nữa!

Đừng nghĩ rằng phá thai là lỗi của người phụ nữ mà thôi. Người đàn ông cũng có trách nhiệm và bị trả quả báo.

Thuật chuyện: Vương Sĩ Minh Trích từ sách Những Vong Linh Thai Nhi Vô Tội của HT Tuyên Hóa

Chữ VẠN trong Phật giáo: Xuất xứ, ý nghĩa và cách viết: Trong Phật giáo người ta thường thấy hình chữ VẠN. Cách viết giống như hai chữ S bắt chéo thẳng góc với nhau. Nhưng nếu để ý, ta sẽ thấy có hai lối viết khác hẳn nhau theo hướng từ ngoài nhìn vào. Các tài liệu nghiên cứu cho biết chữ VẠN vốn không phải là văn tự, chữ viết (word), mà chỉ là ký hiệu (symbol). Nó xuất hiện rất sớm, có thể là từ thế kỷ thứ 8 trước công nguyên và đến thế kỷ thứ ba trước công nguyên mới được dùng trong kinh Phật. 
Hỏi: Cách viết hình tượng chữ VẠN (卐) hay (卍) bên Phật giáo, tôi có tra trong các từ điển chữ Hán nhưng mỗi cuốn lại viết khác nhau. Thậm chí tại các chùa Phật giáo viết cũng không thống nhất. Vậy xin ông cho biết cách viết thế nào là đúng và cho biết thêm về xuất xứ và ý nghĩa của nó.
(Lại Văn Hải - TP. Hồ Chí Minh)
Học giả Nguyễn Quảng Tuân trả lời:
Chữ 卐 hoặc 卍 trong Kinh truyện không có, chỉ có trong Thích tạng thôi. Nếu gọi là chữ thì cũng không đúng vì hình ấy chỉ là một tướng biểu thị sự tốt lành lưu truyền ở Ấn Độ, Phật giáo, Bà la môn giáo, Kỳ na giáo mà tiếng Phạn gọi là Svastika hoặc Swastika.

Quyển Hoa nghiêm âm nghĩa cho rằng đến năm Trường Thọ thứ II đời Chu mới làm khuôn chế ra chữ này và chú âm là VẠN với nghĩa là tập hợp vạn đức tốt lành, được công đức viên mãn và có thể coi là Cát tường hải vân tướng.

Quyển Nhật – Anh Phật giáo từ điển (Daitô Shuppansha, 1965) chỉ dùng một từ Svastika thôi và dịch là Manji 萬 字 với nguyên nghĩa là cái xoáy trên ngực của thần Vishnu và thần Krishma. Tương truyền rằng, Phật Thích Ca khi sinh ra cũng có cái xoáy như vậy ở ngực. Đó là biểu tượng của cát tường 吉 祥 hay cát triệu 吉 兆.

Người Ấn Độ đã biết đến biểu tượng Svastika từ thời rất xa xưa. Đó cũng là biểu tượng của lửa (agni) tức như biểu tượng của sự xoay vòng, sự chuyển động vĩnh cửu, của ánh sáng vĩnh cửu.
Bên Trung Quốc, người ta biết đến chữ VẠN 卐 kể từ khi Phật giáo được du nhập vào. Kinh Lăng nghiêm có nói đến Phật tâm ấn tức chữ VẠN ở trên ngực của Đức Phật. Chữ VẠN này chính là biểu tượng của Pháp luân ngụ ý nói đến định luật về Nghiệp (Karma) và vòng luân hồi bất tận.

Một điều cần nói thêm là Svastika không phải là biểu tượng riêng của Phật giáo mà là biểu tượng của rất nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác nhau. Lại nữa Svastika, dấu chữ thập ngoặc của Hitler không liên quan gì đến chữ VẠN 卐 của Phật giáo mà chỉ liên quan đến Svastika của người Aryan. Khái niệm “Người Aryan” đã bị những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc quá khích biến tướng thành khái niệm “Chủng tộc Aryan”, cho rằng chủng tộc này là chủng tộc Đức hơn hẳn các chủng tộc khác.

Đến những năm 1920, chủ nghĩa Đức quốc xã đã nâng lý thuyết “Chủng tộc Aryan” lên đến mức cực kỳ phản động, coi “Chủng tộc Aryan là chủng tộc thượng đẳng” có quyền thống trị thế giới. Và Hitler đã chọn Svastika xoay nghiêng tức “chữ thập ngoặc” làm biểu tượng của Đức quốc xã.

Nhưng thực ra, Svastika là một biểu tượng cổ, xưa nhất mà người ta đã sử dụng. Nó đã được tìm thấy trong các công trình kiến trúc thuộc nền văn hóa Byzantine – nền văn hóa thuộc khu vực Biển Đen và Địa Trung Hải – kéo dài thừ thế kỷ thứ 7 trước CN đến tận thời Trung cổ. Dấu vết Svastika cũng còn tìm thấy trong các đền đài thuộc nền văn hóa Celtic, có xuất xứ từ Tây và Trung Âu khoảng 1.000 năm trước CN và đã ảnh hưởng khắp châu Âu.
Vì đã trải qua cả hàng ngàn năm, nên Svastika đã được biết đến ở khắp cả Âu và Á châu. Trong nghệ thuật của người Hindu, biểu tượng Svastika có các dấu chấm trong các cung góc  nhưng Svastika của Ấn giáo thì lại không có. Trong các kinh Phật viết bằng Hán tự, chữ 卐 VẠN cũng không có dấu chấm nhưng lại được ghi bằng hai biểu tượng khác nhau: Một biểu tượng ghi chữ 卐 xoay về bên phải và một biểu tượng ghi chữ VẠN 卍 xoay về bên trái.

Một số từ điển như Từ Hải, Từ nguyên, Chinese – English Dictionary (của Mathew, Thượng Hải – 1931), Japanese – English Buddhist Dictionary (Daito Shuppansha - 1965), A Dictionary of Chinese Buddhist Terms (Đài Loan – 1962), Petit Larousse (Grand format – 2006), Phật học từ điển (của Đoàn Trung Còn, Sài Gòn – 1963)… đã ghi bằng biểu tượng 卍 nhưng một số từ điển khác như Thiều Chửu, Từ điển Phật học Hán Việt (Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Phân viện Nghiên cứu Phật học, Hà Nội – 1994) … lại ghi bằng biểu tượng 卐.

Trường hợp biểu tượng chữ VẠN 卐 xoay về bên phải có thể hiểu là tướng biểu thị sự tốt lành (cát tường), nó tượng trưng cho trí dũng. Trường hợp chữ VẠN 卍xoay về bên trái thì nó tượng trưng cho lòng từ bi của Đức Phật, chứ không ai lại lấy một biểu tượng có ý nghĩa xấu để tôn thờ bao giờ.

Trong sách 佛 學 群 疑 Phật học quần nghi (Đài Bắc – 1989), Hòa thượng 釋 聖 嚴 Thích Thánh Nghiêm có viết:
在 佛 教 不 論 右 旋 左 旋, 卍 字 均 係 用 來 表 徵 佛 的 智 慧 與 慈 悲 無 限. 旋 迴 表 是 示 佛 的 無 限 運 作,向 四 方 無 限 地 延 伸, 無 盡 地 展 現, 無 休 無 止 地 救 十 方 無 量 的 眾 生. 故 亦 無 須 執 著, 揣 摩 卍 字 形 相 的 表 現 是 右 旋 或 左 旋 了.
Tại Phật giáo bất luận hữu toàn tả toàn, 卍 tự quân hệ dụng lai biểu trưng Phật đích trí tuệ dữ từ bi vô hạn. Toàn hồi biểu thị thị Phật đích vô hạn vận tác, hướng tứ phương vô hạn địa duyên thân, vô tận địa triển hiện, vô hưu vô chỉ địa cứu thập phương vô lượng đích chúng sinh. Cố diệc vô tu chấp trứ, sủy ma 卍 tự hình tướng đích biểu hiện thị hữu toàn hoặc tả toàn liễu.
(Trong Phật giáo, không luận là xoay sang phải hay xoay sang trái, chữ VẠN luôn tượng trưng cho trí tuệ quang minh và lòng từ bi vô hạn của Đức Phật. Xoay vòng tượng trưng cho Phật lực vận tác vô cùng, không ngừng không nghỉ, luôn cứu độ vô lượng chúng sinh trong mười phương. Cho nên không cần phải chấp nhất quá, thắc mắc hình chữ VẠN nên xoay sang phải hay xoay sang trái làm gì).
Chính vì lẽ đó mà ngày nay chữ VẠN được dùng theo cả hai hướng, phải cũng như trái ở trước ngực các tượng Phật và ở cách trang trí trong các chùa. Nếu chữ VẠN được đặt trên đỉnh mái thì khi nhìn từ bên ngoài vào sẽ là chữ 卐 xoay sang bên phải, nếu nhìn từ bên trong ra thì chữ 卍 lại xoay qua bên trái.

Quyển Từ điển Phật học Hán - Việt cho rằng chữ VẠN nếu để xoay sang bên trái là nhầm và trong quyển Phật học quần nghi Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm cũng cho rằng:
在 近 代, 右 旋 或 左 旋, 時 有 爭 論, 而 大 多 數 都 認 為 右 旋 是 對 的, 左 旋 是 錯 的.
Tại cận đại, hữu toàn hoặc tả toàn, thì hữu tranh luận, nhi đại đa số đô nhận vi hữu toàn thị đối đích, tả toàn thị thác đích.
(Thời đại gần đây, chữ VẠN xoay phải hay xoay trái, vẫn còn là vấn đề tranh luận, nhưng mà phần lớn ý kiến đều cho xoay phải là đúng còn xoay trái là nhầm).
Chúng tôi cho rằng chữ VẠN xoay sang phải hay xoay sang trái đều được cả như Từ điển Petit Larousse (Grand format – 2006) khi định nghĩa Croix gammée (Swastika) đã cho rằng: “Croix dont les quatre branches se terminent en forme de gamma majuscule (┌ ). Elles peuvent être orientées vers la droite ou la gauche”.
(Chữ thập mà bốn nhánh tận cùng theo hình chữ gamma hoa (┌ ) của Hy Lạp. Các nhánh ấy có thể xoay sang phải hay sang trái đều được cả).
Chúng tôi cho ý kiến ấy là dung hòa vì nếu có tranh luận cũng không có bằng cứ gì đủ thuyết phục để theo hẳn về một bên nào.

--------------
Cách viết nào đúng?
Trên ngực của các tượng Phật, hay trên những trang kinh sách Phật giáo, ta thường thấy có chữ VẠN. Nhưng nếu để ý, ta sẽ thấy có hai lối viết khác hẳn: Một là “chữ vạn” hướng xoay theo chiều kim đồng hồ (lối viết A); hai là ”chữ vạn” xoay ngươc chiều kim đồng hồ (lối viết B).
Theo Huệ Lâm Âm Nghĩa quyển 21 và kinh Hoa Nghiêm thì có 17 chỗ nói chữ Vạn viết xoay về phải. Trong các đồ cồ, các bệ Phật cổ, các tượng Phật cổ của Trung quốc, của Ấn Độ, Tây Tạng, Nhật Bản, … cũng đều dùng lối viết A, tức xoay về phải (卐).
Ngôi tháp cổ ở vườn Lộc Dã được xây để kỉ niệm đức Phật nhập diệt cũng khắc chữ Vạn xoay về phải.
Ba bản Tạng kinh đời Tống, Nguyên, Minh, và Cao Ly Đại Tạng Kinh cũng đều dùng chữ Vạn xoay về phải.
Nhưng tín đồ Lạt Ma giáo, Ấn Độ giáo, và Bổng giáo thì lại dùng lối viết B , xoay về trái ( 卍)
Có những chùa tại Ấn Độ, và Trung Quốc hiện nay, trước hai cánh cửa chính, một bên thì vẽ kiểu A, một bên lại vẽ kiểu B! Và những hoa văn quanh bệ thờ, cũng xen kẽ lối viết A và B!
Như đã nói “Vạn” không phải là một chữ mà là một kí hiệu xuất hiện rất sớm, có thể là từ thời nguyên sơ từ khi con người mới tìm ra lửa.

Chữ VẠN trong Phật giáo: Xuất xứ, ý nghĩa và cách viết 1
Các nhà khảo cổ đã tìm thấy nó ở khắp mọi vùng trên trái đất, nhưng kí hiệu nầy đã không thống nhất (chỗ viết theo lối A, chỗ viết theo lối B).

Từ khi đức Phật ra đời, trên ngực đã có chữ “vạn”, biểu tượng tướng mạo phi phàm, có ý nghĩa là đại cát tường, phúc lộc viên mãn… Thế nhưng từ đó về sau, chữ vạn trong đạo Phật lại không thống nhất. Chúng ta hãy suy những điều sau đây, có thể hiểu được cách viết nào đúng:
- Xoay qua phải, là theo chiều hào quang của Phật phóng ra.
- Kí hiệu âm dương của vũ trụ thu nhỏ lại (xem biểu tượng “thái cực” của Lão giáo). “Chữ S” phân chia vòng thái cực xoay về phải.
- Sợi lông trắng (bạch hào) giữa hai lông mày của Phật uyển chuyển xoay sang phải.
- Trong các kinh điển cổ, phần lớn đều viết chữ Vạn xoay về bên phải.
- Trong các nghi thức sám, nhiễu Phật, nhiễu Pháp đều hướng về phải nhiễu hành. (đi theo chiều lim đồng hồ)
- Theo Tự Điển Hán Việt của Thiều Chữu năm 2008 trang 68, thì: “…. “VẠN” nguyên là hình tướng (kí hiệu - KTL) chứ không phải chữ, cho nên dịch là cát tường hải vân tướng nên theo cái hình xoay bên hữu thì phải hơn. Vì xem nhiễu phật thì nhiễu về bên hữu, hào quang của Phật ở giữa hai lông mày phóng ra cũng xoay về bên hữu mới là tướng cát tường, có chỗ làm xoay về bên tả là lầm”.

Đã như thế thì không lý do gì mà không mạnh dạn viết xoay về bên phài, theo cách viết A.
Theo chúng tôi, trước kia người ta viết theo cách B, (xoay về trái: 卍) là lầm, sau thành thói quen. Gần đây các phật tử lại càng ngại viết theo cách viết A (xoay về phải 卐) vì nó trông giống như biểu tưởng của Đức Quốc Xã của Hít-Le!

Thực tế thì không giống nhau:
- Biểu tượng chữ VẠN của nhả Phật thì màu vàng, được vẽ thẳng góc, nội tiếp trong một hình vuông tưởng tượng. và được mọi người gọi là “chữ Vạn của Phật”. 
- Biểu tượng Phát xít của Hít-le là “chữ VẠN” màu đen, được vẽ xiên một góc 45 độ trong một vòng tròn màu trắng, và được mọi người gọi là “chữ thập ngoặc” (croix brisée). Biểu tượng này có thể là hai chữ S chồng chéo lên nhau; viết tắt hai chữ State Social = Quốc Xã. 
Biểu tượng “VẠN” tượng trưng cho công đức và lòng từ bi vô hạn của Đức Phật. Dù cho biểu tượng của Quốc Xã có giống biểu tượng của nhà Phật đi nữa (thực tế thì không giống), cũng chẳng làm người phật tử lo lắng: Tất cả đều do việc làm. Một đàng là từ bi hỉ xả, vô lượng công đức. Một đàng là khát máu, vô nhân tính. Phật là Phật, Ma là Ma. Hai thế giới rạch ròi không thể náo lầm lẫn.

Điều đáng nói là, trong thế giới Phật giáo, cần phải nghiên cứu cách viết nào đúng, để đưa ra một quyết định thống nhất cho mọi người tuân thủ. Không thể chấp nhận kiểu viết theo cảm tính; chùa này viết khác, chùa kia viết khác, điều làm cho người ta khó chịu là những tượng Phật cùng trong một chùa, lại có hai “chữ vạn” khác nhau.

Có chỗ viết theo mẫu (A), ngược chiều kim đồng hồ, có chỗ viết theo mẫu (B), thuận theo chiều kim đồng hồ, như hình vẽ trên. Từ đó có những lý luận cho rằng chữ VẠN của Phật giáo phải xoay hướng này thì đúng còn hướng kia thì sai.
Những nhà Phật học không thống nhất với nhau về chiều xoay của chữ VẠN, mỗi người nêu ra một cách. Xin lược kê ra sau đây:

1. Theo “Hán Việt Tự Điển” của Thiều Chửu thì cho rằng cái hình xoay về bên hữu chữ VẠN 卐 mẫu (A) là phải hơn. Vì xem như nhiễu Phật (đi vòng quanh Phật tỏ lòng tôn kính mến mộ), thì nhiễu về bên hữu, hào quang của Phật ở khoảng lông mày phóng ra cũng xoay về bên hữu, thì viết xoay về bên hữu mới là tướng cát tường.

2. Theo “Phật học Từ Điển” của Đoàn Trung Còn thì cho rằng chữ VẠN 卍 mẫu (B) mới đúng. “Đó là một chữ linh bên Ấn Độ, chữ ấy có sức đưa lại, nêu ra các điểm tốt lành, vui vẻ, phước đức. Vì vậy nên gọi là: Kiết tường, Vạn tự, Đức tự. Cần chú ý là không nên viết chữ VẠN ngược, vì các nhà học đạo cho là 4 cái đầu lửa, quay thuận chiều thì diệt sạch các phiền não, đem lại sự an lạc; mà quay nghịch chiều thì thiêu hủy các công đức, các thiện căn, thật rất nguy hại!”

Nhưng cả hai tác giả Thiều Chửu và Đoàn Trung Còn đều không giải thích được lý do tại sao chữ VẠN quay theo chiều này thì cát tường, quay theo chiều ngược lại thì nguy hại. Cả hai đều không nêu ra được cái lý do xác đáng và có sức thuyết phục.

3. Theo “Từ Điển Phật Học Hán Việt” của Giáo Hội PGVN Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học (chủ biên Kim Cương Tử) thì chữ VẠN có hình dáng là: VẠN 卐 mẫu (A). Đây là tướng biểu thị sự tốt lành lưu truyền ở Ấn Độ, Phật giáo, Bà La Môn giáo, Kỳ Na giáo, đều sử dụng… Chữ này là tướng chớ không phải là tự (không phải là chữ), vậy nên có thể dịch là: cát tường hải vân tướng, tức là vạn tướng. Vòng về bên phải tương tự như khi kính lễ Đức Phật ta vòng về bên phải ba vòng, hay tương tự như sợi lông trắng ở giữa hai lông mày của Đức Phật chuyển vòng về bên phải. Vòng về bên phải là tốt lành, cát tường.

4. Theo “Wikipedia, The Free Encyclopedia” thì chữ VẠN là một trong ba mươi hai tướng tốt của Phật, vị trí trên ngực. Nó biểu thị công đức vô lượng của Phật. Chữ VẠN là phù hiệu, không phải là chữ viết. Viết xoay bên trái hay bên phải đều được.

5. Theo “Từ điển Phật học Việt Nam” của Hòa thượng Thích Minh Châu và Minh Chi (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1991) thì cho rằng chữ VẠN là: “Một trong 32 tướng đẹp của Phật, vị trí trên ngực của Phật. Nó biểu thị công đức vô lượng của Phật, lòng từ bi và trí tuệ vô lượng của Phật. Là phù hiệu, không phải là chữ viết. Viết xoay bên trái, hay bên phải, đều được, tuy rằng có một số nhà Phật học tranh luận nhau về hướng xoay của phù hiệu này.”
Như vậy thì việc tranh cãi về chiều quay của chữ VẠN, chiều nào đúng, chiều nào sai, đều căn cứ trên những nhận thức riêng của mỗi người hay mỗi nhóm người, nhưng không có cơ sở nào đủ sức thuyết phục một cách tuyệt đối, cho nên chúng ta không thể kết luận một cách khách quan bên nào hoàn toàn đúng, bên nào hoàn toàn sai.

Chữ VẠN tượng trưng cho chân lý, và chân lý này chỉ có một. Nhưng tùy theo vị trí đứng nhìn mà thấy chân lý theo kiểu này, mang hình thức này; nếu đứng ở vị trí khác nhìn chân lý thì thấy chân lý theo kiểu khác với hình thức khác. Đừng nên nghĩ rằng, nếu chữ VẠN quay theo chiều nào đó thì nó tiêu hủy công đức. Cái công đức của ta, chỉ có những việc làm sai trái của ta mới tiêu hủy được. Ngoài ra không có điều gì bên ngoài khác mà thiêu hủy được công đức của ta. Chúng ta cứ để mặc cho chữ VẠN quay tự do theo chiều quay của nó mà không cần bàn cãi. Chúng ta chỉ cần cố gắng lo làm tròn nghĩa vụ của mình, lập công bồi đức càng nhiều càng tốt.

Tóm lại, đúng theo như lời một vị cao tăng đã nói: “Trong Phật giáo, không luận là xoay sang hữu hay xoay sang tả, chữ VẠN luôn tượng trưng cho lòng từ bi và trí tuệ quang minh của đức Phật. Xoay vòng tượng trưng cho Phật lực vận tác vô cùng, không ngừng, không nghỉ, cứu độ vô lượng chúng sinh trong mười phương. Cho nên không cần phải chấp nhặt, thắc mắc hình chữ VẠN nên xoay qua phải hay qua trái”.

Dưới thời Pháp thuộc Bác sỹ Tâm Minh Lê Đình Thám, một vị cư sĩ nổi danh thời trước, khi xây dựng chùa Từ Đàm có trạm hình chữ VẠN 卐 chân không trên cửa ra vào. Khi bị nhà cầm quyền Pháp cho rằng đây là hình chữ của Đức quốc Xã nên phải đổi theo phía tả 卍. Ai dè khi vào trong chùa ngó ra lại thấy chữ VẠN quay về phía hữu như trước 卐.

Tại chùa Linh Sơn thành phố Đà Lạt, Việt Nam, nếu các phật tử đi từ ngoài đường phố vào viếng chùa, leo lên từng bực thang, ngẩng nhìn lên tượng Phật Bà Quan Âm, thì sẽ nhìn thấy hình ảnh chữ VẠN 卐 mẫu (A) ở hai bên như trong bức ảnh dưới đây:
Nhưng nếu sau khi vào trong chánh điện lễ Phật xong lúc trở ra đi về mà ngó lên thì sẽ thấy hình ảnh chữ VẠN bị xoay ngược lại như sau 卍 theo mẫu (B).

Như thế hình chữ VẠN quay theo chiều 卐 (mẫu A) hay quay theo chiều 卍 (mẫu B) thì đó chỉ là hai cái nhìn khi đứng ở hai vị trí trước mặt hay sau lưng của cùng một chữ VẠN mà thôi.
Một ký hiệu chỉ đơn thuần là một ký hiệu. Chính cái dụng ý, cái tâm của con người khiến nó khác biệt. Tương tự như một lưỡi dao trong tay vị y sĩ thời là dụng cụ giải phẫu để cứu được sinh mạng. Nếu nằm trong tay một kẻ gian ác thời có thể trở thành một hung khí giết người của kẻ phạm tội.

Tuy nhiên điều đáng nói là, trong thế giới Phật giáo, cần phải nghiên cứu xem cách viết nào hợp lý, để đưa ra một quyết định, một sự thống nhất chung, cho mọi người tuân thủ ngõ hầu tạo tính thuần nhất về những biểu tượng đặc thù của Phật giáo. Không thể chấp nhận kiểu viết theo cảm tính; chùa này viết khác, chùa kia viết khác, và nhất là những tượng Phật cùng trong một chùa, lại có hai “chữ VẠN” xoay 2 chiều khác nhau.

Trước đệ nhị thế chiến có Adolf Hitler sinh năm 1889 tại Áo quốc gần biên giới nước Đức. Nhà độc tài Phát xít Hitler cũng dùng phù hiệu chữ VẠN này cho Đảng áo nâu của mình. Vì nuôi tham vọng thống trị cả thế giới qua chiêu bài Phát xít Đức, Ý, Nhật nên đã chọn chữ VẠN như là biểu tượng của đảng Đức Quốc xã. Chính chữ VẠN này đã được bác sĩ Fridrich Krohn phác họa.

Chữ VẠN trong Phật giáo: Xuất xứ, ý nghĩa và cách viết 2
Chữ VẠN trong Phật giáo: Xuất xứ, ý nghĩa và cách viết 3
Biểu tượng Phát xít của Hitler là “chữ VẠN” màu đen, thường được vẽ nghiêng một góc 45 độ trong một vòng tròn màu trắng, và được mọi người gọi là “dấu thập ngoặc” (croix brisée). Đó là viết tắt của hai chữ S (State: Quốc gia) và S (Social: Xã hội). Chữ VẠN màu đen, tượng trưng cho sự tăm tối và chết chóc.

Tuy thế người ta cũng thấy có lúc chữ VẠN của Hitler không nghiêng một góc 45 độ mà lại giống y hệt như hình chữ VẠN 卐 mẫu (A) đã nêu ở trên.

Trong một PPS có tiêu đề là 24 “VIEILLES” PHOTOS JAMAIS VUES (24 tấm ảnh xưa cũ chưa từng thấy) có một tấm ảnh như dưới đây và được ghi chú là: “Une ligue de femmes allemandes dansant à Nuremberg 1938” (Một hiệp hội phụ nữ Đức đang múa ở Nuremberg vào năm 1938):
Chữ VẠN trong Phật giáo: Xuất xứ, ý nghĩa và cách viết 4
Như thế ngoài những hình ảnh chữ VẠN được Đức Quốc Xã xoay nghiêng 45 độ, ngay trên nóc toà nhà lớn dùng làm khán đài chính người ta cũng thấy dựng ngay hình chữ VẠN 卐 mẫu (A) không xoay nghiêng.

Chữ VẠN trong Phật giáo: Xuất xứ, ý nghĩa và cách viết 5
Vậy trở lại vấn đề về chữ VẠN, có lẽ không cần bàn cãi thêm là xoay chiều này hay chiều kia mới là “đúng” hay “sai” nữa. Chỉ cần nhấn mạnh đến 2 điểm:

1. Một là cần sự thống nhất chung ngõ hầu tạo tính thuần nhất.
2. Hai là tránh sự liên tưởng xấu xa và có thể gây hiểu lầm với chữ VẠN của Hitler.

Chúng tôi mạo muội đưa ra một đề nghị là nên thống nhất theo chữ VẠN 卍 mẫu (B) ở trên. Cái nhìn vào chữ VẠN khi đó sẽ không khác biệt nếu điêu khắc trên ngực các pho tượng Phật, minh họa trên các tranh ảnh và tài liệu báo chí, sách vở in ấn. Trong các trường hợp khác thì không nên để “trống không” sau hình chữ VẠN này mà nên luôn để một vật che chắn làm nền sau lưng chữ VẠN như thế thì tránh sự hiểu lầm cho người đứng phía sau.

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.