tháng 1 2015

VLCĐ: Quán Sổ tức là đếm hơi thở. Quán là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích hay suy nghiệm đến một vấn đề. Sổ tức quán là tập trung tâm trí để theo dõi hơi thở ra vào của mình, mà mục đích là để đình chỉ tâm tán loạn còn được coi là phương pháp để Định Niệm Hơi Thở.

Trong sách PHẬT HỌC PHỔ THÔNG của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa Ấn Hành 1997 đã phân tích ý nghĩa và hướng dẫn cách thực hành phép Quán Sổ tức. Đây là phép quán đứng đàu trong năm phép quán, trước tiên, phải biết quán là gì, quán như thế nào, và phải có một tâm trí định tình không tán loạn. Muốn được thế, trước tiên phải tập quán Sổ tức. Khi quán Sổ tức đã thuần phục rồi, thì các thứ quán sau mới dễ có kết quả, nghĩa là mới có thể trừ diệt dần các tâm bệnh: tham, sân, si mạn.


Phật dạy: "Tâm có định mới phát sinh trí huệ, có trí huệ mới phá trự được vô minh để minh tâm kiến tánh". Sở dĩ, các vị Thánh hiền được biết nhiều quá khứ vị lai và có nhiều điều thần diệu, đều do tâm đã định mà phát minh trí huệ sáng suốt, nên mới được như thế. Nên kinh chép: "Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biến", nghĩa là ngăn vọng tâm lại được một chỗ, thì không việc gì chẳng thành tựu. Hành giả muốn cho tâm mình hết tán loạn, được yên định, thì phải tu phép quán Sổ tức, một phép quán rất dễ thật hành và rất kiến hiệu, ai cũng có thể làm được.



Tóm tắt phần thực hành:

Trước khi quán Sổ tức cần phải theo đúng những điều sau đây: 


1. Thức ăn: Phải ăn những thức ăn hợp với cơ thể của mình. Nếu ăn đồ nóng nẩy quá, thì thân thể sẽ bị bức rức, tâm sanh loạn động. Trái lại, nếu ăn những vật sanh lãnh, không tiêu hóa được, thì thân thể sẽ nặng nề, lừ đừ dễ sanh buồn ngủ.


2. Ðồ mặc: Phải ăn mặc cho hợp thời tiết. Khi trời nực, mặc đồ mỏng, khi trời lạnh, mặc đồ ấm. Nếu trái lại thân thể mất sự điều hòa, quán lâu có hiệu quả.


3. Chỗ ở: Phải ở chỗ thanh vắng, thì sự tu quán mới mau được thành công. Nếu ở chỗ ồn ào, đối với người mới tu, không khỏi bị loạn động.


4. Thời giờ tu: Nên lựa những giờ thanh vắng, như 10 giờ đêm, hay 4 giờ khuya. Nếu ở thành thị thì lựa giờ nào gia đình ngủ hết, chung quanh bớt tiếng động.


5. Tắm rửa: Thân thể phải thường tắm rửa sạch sẽ, để khỏi ngứa ngáy bứt rứt trong người.


6. Cách thức ngồi: Phải ngồi kiết già (hai chân tréo xếp lại gọn, thúc vào bắp vế cho sát), hoặc ngồi bán già (chân mặt tréo lên chân trái hay chân trái tréo lên chân mặt, thúc sát vào vế cho gọn gàng). Cách ngồi này đầu tiên chưa quen, không sao khỏi bị tê chân (chỉ tê chân khi đang ngồi thôi); qua thời gian hết tê rồi thì đau mỏi cả hai chân. Khi hết đau mỏi, về sau ngồi bao lâu cũng được.


7. Lưng: Lưng phải ngồi thẳng như vách tường, để cho các khớp xương sống ăn chịu đều nhau, như thế ngồi mới lâu được. Hành giả nên xem tấm vách tường kia, nhờ nó đứng thẳng, các viên gạch ăn chịu đồng đều, nên mới đứng lâu được , nếu hơi nghiêng, cố nhiên nó phải ngã.


8. Hai tay: Hai cánh tay vòng xuôi xuống, hai Bàn tay để trên hai chân, tay mặc gác lên tay trái, cách thức như Phật ngồi (xem hình đức Trung Tôn ngồi trong mỗi chùa).

9. Cổ và đầu. Cổ phải thẳng, đầu hơi ngã tới, hai mắt chỉ mở một phần tư (nếu mở mắt lớn thì tâm dễ bị loạn động, còn nhắm lại thì sanh hôn trầm).


Phương Pháp Sổ Tức 

Khi đã ngồi yên ổn đúng với như cách thức đã nói trên, hành giả bắt đầu đếm hơi thở. Trước khi đếm, phải thở ra hít vào chín mười hơi thật dài, để cho hơi thở điều hòa và những trược khí, uất kiết, nặng nề trong người đều tuông ra cả, và thay thế vào bằng những thanh khí mát mẻ, trong sạch của thiên nhiên.


Khi thở ra, hành giả phải tưởng: "những điều phiền não: tham, sân, si, các chất bẩn trược trong người đều bị hơi thở tống ra sạch hết, không còn một mảy may nào". Khi hít vào, hành giả nên tưởng: "Những chất nhẹ nhàng trong sạch sáng suốt của vũ trụ đều theo hơi thở thấm vào bủa khắp thân tâm".


Khi đủ mười hơi rồi, hành giả bắt đầu thở đều đều, không dài không ngắn, không mau không chậm, phải thở nhẹ nhàng như hơi rùa thở. Nếu thở mau và dài thì tâm sanh loạn động, còn thở chậm và ngắn, thì tâm sanh hôn trầm, hoặc bị uất kiết, có khi lại sanh ra giải đãi, rồi tâm dong ruổi duyên theo ngoại cảnh. Nên phải thở cho nhẹ nhàng và đều đặn, không mau không chậm, thì trong người mới được thư thới khỏe khoắn.


Từ đây mới bắt đầu đếm hơi thở.

Phương pháp đếm hơi thở có bốn cách như sau: 


1. Ðếm hơi lẻ. Nghĩa là thở hơi ra đếm một, thở hơi vô đếm hai, thở hơi ra đếm ba, thở hơi vô đếm bốn, đếm cho đến mười, không thêm không bớt, rồi bắt đầu đếm từ một cho đến mười lại. Cứ đếm đi đếm lại từ một đến mười, trong khoảng nửa giờ, một giờ hay hai giờ tùy ý.


2. Ðếm hơi chẵn. Nghĩa là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai, cứ tuần tự như thế cho đến mười lại, mãi cho đến khi đi ngủ.

Phương pháp đếm hơi chẵn này rất thông dụng, xưa nay người ta vẫn thường dùng, và đếm hơi thở ra dễ hơn, khỏi bịnh tồn khí (chứa hơi lại trong phổi).


3. Ðếm thuận: Nghĩa là đếm theo hai cách trên, cách nào cũng được, nhưng tuần tự từ một đến mười.


4. Ðếm nghịch: Nghĩa là cũng dùng hai cách đếm trên, nhưng đếm ngược từ mười đến một.

Bốn phương pháp này, tùy ý hành giả muốn dùng một phương pháp hay cả bốn phương pháp thay đổi cho nhau cũng được. Miễn sao thuận tiện cho mình và khỏi lộn, là thành công; nghĩa là đối trị được tâm tán loạn.


Những Ðiều Lầm Lộn Thường Xảy Ra Trong Khi Ðếm Hơi Thở  

Những điều lầm lộn mà hành giả thường mắc phải trong khi mới bắt đầu tu phép Sổ tức là:


1. Tăng: Nghĩa là thở ít mà đếm nhiều, đếm nhảy vọt, như ba liền đếm đến năm, hoặc mới năm liền nhảy lên đếm tám v.v…

2. Giảm: Nghĩa là thở nhiều mà đếm ít, đếm thụt lùi, như đến bốn rồi lại đếm ba, hay bảy rồi lại đếm sáu v.v…

3. Vô ký: Nghĩa là không nhớ rõ mình đã đếm đến số mấy rồi.

Mỗi khi lầm lộn như thế, phải bắt đầu đếm lại. Phải tập cho đến khi nào không còn mắc phải những lầm lộn nói trên, thì tâm trí mới được yên tịnh.


PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ:

Định Niệm Hơi Thở là một pháp môn tuyệt vời. Trước khi muốn tu tập pháp môn này quý vị nên chọn một nơi thanh vắng và yên tĩnh, ít có người qua lại. Khi chọn được xong chỗ ngồi, quý vị ngồi xuống, ngồi kiết già hoặc bán già đều được cả, phải giữ gìn lưng thẳng, quay mặt vào vách, hay gốc cây, hai mắt nhìn phớt xuống chóp mũi.


Khi tư thế ngồi yên ổn xong thì quý vị bắt đầu hít vào một hơi thở chậm, dài. Khi nào hít vào hết sức thì quý vị lại thở ra cũng chậm, nhẹ và dài. Khi thở ra hết thì quý vị trở lại hơi thở bình thường, kèm theo pháp hướng tâm: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”.


Khi thở đúng 5 hơi thở thì quý vị lại nhắc tâm: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Rồi lại tiếp tục thở bình thường như trên. Khi thấy hơi thở ra vào đều đều, tâm gom tại nhân trung thì quý vị cứ tiếp tục tu tập vừa tác ý vừa hít thở cho đến tu tập như vậy được 30’ mà không có một niệm nào xen vào, thì đó là kết quả thứ nhất của sự nhiếp tâm trong hơi thở.


Khi tu tập được 30’ không có một niệm nào xen vào trong hơi thở thì không cần phải tác ý câu: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra” nữa, mà phải nhắc bằng những câu khác để xả tâm mình trong khi đang thở.


Thí dụ nhắc tâm bằng câu: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”, rồi quý vị thở 5 hơi thở. Sau đó lại nhắc tâm: “Quán ly sân tôi biết tôi hít vô, quán ly sân tôi biết tôi thở ra”, rồi thở tiếp 5 hơi, và nhắc tâm: “Quán ly si tôi biết tôi hít vô, quán ly si tôi biết tôi thở ra”,rồi quý vị cứ tiếp tục 5 hoặc 10 hơi thì một lần hướng tâm như sau:


“Quán đoạn dứt tâm tham tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm tham tôi biết tôi thở ra”.

“Quán đoạn dứt tâm sân tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm sân tôi biết tôi thở ra”.

“Quán đoạn dứt tâm si tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm si tôi biết tôi thở ra”.


Như thế, cứ cách 5 hơi thở thì một lần hướng tâm (Đừng để cho một niệm khác xen vào trong khi ta thở và tác ý).

Khi tu tập Định Niệm Hơi Thở như vậy độ 30 phút thì quý vị xả nghỉ. Nếu quý vị có sức ngồi tu tập bền lâu thì cũng nên tu tập 30 phút rồi xả nghỉ, không nên tăng hơn suốt trong ngày đêm Thọ Bát Quan Trai Giới. Quý vị cứ tu tập từng hành động, trong công việc làm, hay lúc đi kinh hành, luôn luôn tu tập Định Niệm Hơi Thở kèm theo pháp hướng để xả tâm thì tâm hồn quý vị sẽ được thanh thản.

Đây là bài tham khảo thêm về Giới Niệm Hơi Thở, hơi thở ra, hơi thở vô để quý Phật tử nghiên cứu. Pháp môn Giới Niệm Hơi Thở Ra, Hơi Thở Vô là một pháp môn mang lại lợi ích rất lớn cho công cuộc chiến đấu với mặt trận sinh tử luân hồi của nhân quả.


VLCĐ: Thời Đức Phật còn tại thế, Bà-la-môn giáo coi việc nghi lễ tế tự là hàng đầu. Nghi lễ là đặc quyền của tu sĩ. Ý nghĩa của nghi lễ là sự giao tiếp giữa các tu sĩ với Thượng đế, Thần linh, điều mà mọi người bình thường không với tới được.

Đức Phật là người đả kích một cách mạnh mẽ vào thành trì nghi lễ ấy, rõ ràng từ thuở ban đầu đạo Phật đã từ bỏ một ý nghĩa nghi lễ như vậy.

Sau khi Đức Phật nhập diệt, đời sống của Tăng đoàn có thay đổi, do sự thích nghi với phong tục tập quán, đáp ứng nhu cầu của quần chúng để tồn tại và phát triển, vấn đề nghi lễ được đặt ra.
Các nhà nghiên cứu tôn giáo cho rằng một tôn giáo phải có đủ ba yếu tố : Triết học, nghi lễ, và thần thoại. Phật giáo là một tôn giáo nên cũng có đủ ba yếu tố trên. Tuy nhiên, là một tôn giáo không có thượng đế nên yếu tố nghi lễ và thần thoại của đạo Phật mang sắc thái và ý nghĩa khác. Mặt khác, hai yếu tố này đối với Phật giáo không được nhấn mạnh.

Đạo Phật Việt Nam chịu sự ảnh hưởng đạo Phật Trung Hoa và chế độ phong kiến nên đã du nhập học thuật của Khổng, Lão và tín ngưỡng dân gian. Do đó, khía cạnh nghi lễ của Phật giáo khá phức tạp và phát triển khá mạnh mẽ. Nhất là thời kỳ phong kiến kéo dài, nghi lễ tế tự được ưa chuộng khuyến khích. Vì vậy, triết lý đạo Phật cao siêu và trong sáng mà vẫn không khống chế hay giới hạn nổi sự phát triển của nghi lễ. Nói cho công bằng thì nghi lễ cũng là góp phần một cách thiết thực và hiệu quả trong công cuộc hoằng pháp lợi sanh, điều mà bậc tiền bối, Tổ sư thường nhấn mạnh rằng : Nghi lễ dù quan trọng vẫn chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sinh vào đạo, chứ không phải là con đường thật sự đạt đến giác ngộ.

Sự cần thiết của nghi lễ Phật giáo Thích Viên HảiNghi lễ không chỉ là một phương tiện để chuyển hóa tâm linh, đưa người vào Đạo mà còn là một pháp môn tu học để đạt ngộ chân như phật tính bằng sự rung cảm tâm linh. Nghi: là dáng, mẫu bên ngoài, nghi thức, nghi lễ, khuôn mẫu để người noi theo, là hình thức bên ngoài, cách sắp xếp trong một tổ chức, cách bài trí trong một ngôi chùa, nhất thần phù nhì thần tướng, nghi dụng biểu đạt của một vị tu sĩ, công phu tu tập thể hiện qua hình tướng để mọi người kính nể ….Còn lễ: là lễ giáo, thể bên trong, lễ nhạc, lễ bái, lễ tụng, lễ ký, lễ nghi, lễ phục, lễ đường, cúng tế, tôn thờ, cung kính… Nghi lễ Phật giáo đóng vai trò quan trọng làm nên nét đẹp văn hoá Phật giáo và góp phần tô điểm thêm nét đặc sắc trong vườn hoa văn hoá tín ngưỡng Việt Nam. Nghi lễ không chỉ là một phương tiện để chuyển hóa tâm linh, đưa người vào Đạo mà còn là một pháp môn tu học để đạt ngộ chân như Phật tính bằng sự rung cảm tâm linh. Do vậy, sự cần thiết của nghi lễ Phật giáo Việt Nam đến sự nghiệp truyền bá Phật pháp phải thông qua các hình thức như sau:

1. Qua dân gian Nghi lễ Phật giáo là một trong những pháp môn hành đạo, tự lợi, tự tha. Khi Phật giáo đã trở thành Phật giáo Việt Nam thì nghi lễ Phật giáo là nghi lễ có sự hòa nhập của nghi lễ dân gian, nghi lễ cung đình (nhất là phần âm nhạc) mang sắc thái của ba miền Bắc, Trung, Nam.

Tất cả hòa nhập một cách hài hòa, nhuần nhuyễn, tinh tế, ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt, tư tưởng, tình cảm của đa số quần chúng. Nghi lễ Phật giáo Việt Nam có bị ảnh hưởng của Nghi lễ Phật giáo Trung Quốc, nhưng với lòng tự hào dân tộc, các liệt vị Tổ sư Phật giáo Việt Nam đã vận dụng, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của Phật giáo nước bạn để chế tác ra bộ môn Nghi lễ mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, tức là nghi lễ đã được Việt hóa từ âm điệu, pháp phục, pháp cụ …

2. Qua hàng cư sĩ phật tử Việt Nam chúng ta, từ ngàn xưa, nghi lễ đã là nhu cầu không thể thiếu trong việc thờ phượng tổ tiên ông bà và tín ngưỡng dân gian, nó là một bộ phận không thể tách rời trong cuộc sống và trở thành nét đẹp văn hóa tín ngưỡng dân gian. Khi đến với đạo Phật, nhu cầu nghi lễ của quần chúng tăng cao hơn, phát triển mạnh hơn, chính vì vậy mà nghi lễ Phật giáo mặc nhiên trở thành phương tiện hành đạo, tiếp chúng độ sinh phổ biến và thiết thực hơn cả. Phần đông hàng cư sĩ đến với đạo Phật qua nhu cầu nghi lễ, nghĩa là đến với đạo bằng con đường tình cảm. Một khóa lễ đúng mức có tác dụng cảm hóa rất lớn không thua một thời pháp hay. Có nơi nghi lễ lại có tác dụng hơn sự thuyết giảng. Nhu cầu phục vụ nghi lễ vừa cao rộng vừa gắn bó với các sinh hoạt tinh thần, tình cảm, ước muốn của nhân dân. Mối liên hệ của con người trong xã hội rất phức tạp. Trong đó, các mối liên hệ tình cảm chiếm phần lớn như là: Cúng kỵ ông bà cha mẹ tổ tiên, ma chay, hiếu hỷ, âm binh cô hồn, thờ cúng thần thánh, cầu an, cầu siêu, cưới hỏi, xây dựng nhà cửa, chúc thọ … Các nghi lễ tôn giáo và lễ hội truyền thống như: Tết Nguyên đán, Rằm tháng Giêng, lễ Phật đản, lễ vía Phật, Bồ tát, Tổ sư, lễ Vu lan, Rằm tháng Mười …

Những lễ như vậy chi phối mạnh mẽ đến các sinh hoạt tinh thần, văn hóa của đời sống nhân dân. Chư Tăng được quần chúng coi trọng và ngôi chùa là nơi diễn ra hầu hết các buổi lễ ấy. Thông qua nhu cầu nghi lễ, thông qua nghi lễ Phật giáo đã tạo được mối quan hệ gắn bó giữa đạo và đời, giữa người tu hành với hàng cư sĩ. Qua đó, chúng ta có thể chuyển hóa họ bỏ ác làm lành, sống có đạo đức, an lạc.

3. Qua Tăng Ni
a. Oai nghi tế hạnh Theo truyền thống nghi lễ Phật giáo Việt Nam, người mới vào chùa phải xin đồ cũ của mấy vị tu trước mà mặc để tăng trưởng phước đức. Trước và sau khi thọ giới Tỳ Kheo phải sám hối 3 tháng để tăng phước đức và tiêu nghiệp. Bỏ tất cả cha mẹ anh em, tiền tài vật chất với mục đích hoằng dương đạo pháp:
“Hủy hình thủ thiết ý Cát ái từ sở thân Xuất gia hoằng thánh đạo Thệ độ nhất thế nhân”

b. Nền tảng của nghi lễ Phật giáo là đạo đức và trí tuệ - Tinh thông tam tạng Kinh điển (Kinh – Luật – Luận) Sau khi đức Phật nhập diệt đã để lại tam tạng kinh điển bao gồm những gì Ngài đã chế định khi chư Tăng cộng trú lúc đức Phật còn tại thế. Ngài đã dạy về sự giác ngộ và giải thoát, hàng đệ tử xuất gia cần phải tinh thông tam tang kinh điển. Kinh tạng là kiến thức của người để tử Phật đã nhận lời sống xuất gia, Luật tạng là vòng thành bảo vệ người đã phát tâm xuất gia đi theo con đường của đức Phật, Luận tạng là triển khai những lời dạy của đức Phật và chư vị Thánh tăng, đúc kết lại những kinh nghiệm của chư vị Tổ sư.

- Phương pháp tu tập Hàng đệ tử xuất gia muốn tự trang nghiêm mình trước phải hiểu lễ giáo rồi qua quá trình thực hành tu tập. Sự sinh hoạt hằng ngày là phục vụ cho mục đích giữ gìn thanh quy, xiển dương giáo pháp. Là đệ tử xuất gia cần phải nghiên cứu giáo lý và hành trì giới luật, tụng kinh, niệm Phật…

Những hàng động trong cuộc sống tăng đoàn chính là xiển dương giáo Pháp và cũng chính là nghi lễ như: những thời khóa tụng kinh hàng ngày, hàng tháng phải bố tát, hàng năm phải an cư kiết hạ… Nghi lễ dùng để giữ quy định trong chốn thiền môn, giữ vững đoàn thể Tăng già, có nghi lễ thì dù không có người lãnh đạo thì hành giả vẫn tu tập bình thường vì nghi lễ là kỷ cương giới luật, thau thế người lãnh đạo.

- Thực hành Bồ tát đạo Thực hành Bồ tát đạo thông qua việc thọ trì giới luật của tăng ni được đặt nền tảng trên tình thương và sự hiểu biết của trí tuệ, từ bi, tự giác, tự nguyện, hoàn toàn vắng bóng tính gượng ép, bắt buộc. Không những vậy, việc gìn giữ giới luật để nhiếp phục thân khẩu ý được tiến hành một cách miên mật trong bốn oai nghi: Hành, Trụ, Tọa và Ngọa.

Đúng như lời các bậc cổ đức trong chốn tòng lâm thường dạy: “Đi cũng thiền, nằm cũng thiền - Động tịnh nói nín thảy an nhiên”. Mỗi bước đi của người xuất gia đều nhẹ nhàng, khoan thai, thảnh thơi và tự tại. Trong lúc ngồi thì an ổn, vững chãi như núi Tu di. Khi đứng thì đoan nghiêm, tề chỉnh và lúc nằm thì kín đáo, thanh tao. Như vậy, chính đời sống đạo hạnh thực hành Bồ tát đạo, khéo hộ trì thân khẩu ý trong bốn oai nghi, mà thân và tâm của nguời xuất gia luôn được thuần tịnh, an lạc và giải thoát:

“Lành thay phòng hộ thân Lành thay phòng hộ lời Lành thay phòng hộ ý Lành thay phòng tất cả Tỳ Kheo phòng tất cả Thoát được mọi khổ đau.”

Đạo hạnh của tăng ni là hệ quả của quá trình thanh lọc, điều phục thân khẩu ý trong tứ oai nghi hằng ngày của đời sống. Chính những lời nói thanh tao, những hành động hướng thiện, những ý nghĩ chơn chánh của người xuất gia, đã làm nên nét đẹp văn hóa đặc thù của nghi lễ Phật giáo. Nó là đường vẽ chấm phá tuyệt hảo trong bức tranh văn hóa muôn màu của đạo Phật.

Nói theo thuật ngữ của ngành Mỹ học, thì đạo hạnh của người xuất gia chính là “Cái Đẹp”, “Cái Cao Cả”. Nói theo ngôn từ nhà Phật, thì đó là đời sống “Chân, Thiện, Mỹ”. Đạo hạnh của tăng ni như đóa hoa ưu đàm bát la tươi mát, cứ mãi lung linh, trôi chảy trong dòng văn hóa Phật giáo nói cung và nghi lễ Phật giáo nói riêng, tỏa hương thơm an lành, giải thoát khắp muôn phương:

“Hương các loài hoa thơm, Không ngược bay chiều gió. Nhưng hương người đức hạnh, Ngược gió khắp tung bay”

- Hoằng Pháp lợi sinh Là một nhà Hoằng pháp hay trong cương vị của một người trụ trì, cần phải vững chãi về nghi lễ, thông suốt cả sự và lý trong việc dùng nghi lễ Phật giáo, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh như là một phương tiện tiếp cận quần chúng và hướng họ về đời sống thánh thiện. Đây là một trong vô lượng pháp môn tối cần mà đức Phật cũng như chư vị Tổ sư đã chỉ dạy, nếu hành giả quán triệt được tính chất “tuỳ duyên bất biến” của hoằng pháp, thì nghi lễ là phương tiện tối ưu để thành tựu đạo nghiệp. Người dân phương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng sống nặng về tình cảm và có nhu cầu tín ngưỡng cao. Nhất là trong cuộc sống vật chất ngày càng phát triển như hiện nay, đòi hỏi nhu cầu đời sống tâm linh của người dân càng cao. Khi họ tiếp xúc với Đạo Phật thông qua nghi lễ sẽ làm cho nhu cầu tín ngưỡng được nâng lên, trong sáng hơn, đời sống tâm linh sẽ thánh thiện hơn. Nhờ vậy mà nghi lễ Phật giáo mặc nhiên trở thành phương tiện hành đạo, tiếp chúng độ sanh phổ biến và thiết thực hơn cả. Trong thực tế, đông đảo quần chúng đến với Đạo Phật bằng những nhu cầu tín ngưỡng như: Cầu an, Cầu siêu, Ma chay, Cưới hỏi… Có những gia đình chưa hề đến Chùa nhưng khi gặp hữu sự như có người thân qua đời, họ đến Chùa thỉnh Tăng, Ni giúp lo việc hiếu sự và sau đó trở thành tín đồ nhà Phật. Phần đông những người bình dân đến cửa Chùa không phải để học hỏi giáo lý mà để tu tập, mà vì nhu cầu về tín ngưỡng cúng tế, làm pháp sự.

Vì vậy, đối với họ, một tu sĩ cần thiết là một vị đáp ứng được nhu cầu lễ nghi cúng tế, rồi mới kể đến trình độ học vấn về giáo lý của chư Tăng, Ni. Nói như vậy, không phải coi khinh cái học giáo lý mà chúng ta phải biết vận dụng cái phương tiện để đưa đến cứu cánh, và để đánh đổ những tư tưởng lệch lạc, thành kiến đối với nghi lễ, ứng phú đạo tràng. Vấn đề là ở chỗ ta xem nghi lễ là phương tiện vì độ sanh hay là cứu cánh vì lợi dưỡng. Như vậy nghi lễ là sự biểu hiện lòng tôn kính và tin tưởng của mọi người đối với Tam Bảo một cách có hệ thống, có bài bản. Tùy theo tập quán của mỗi địa phương mà hình thành nghi lễ. Đây cũng là một phương tiện không thể thiếu trong việc hoằng pháp lợi sanh và trang nghiêm thêm cho công hạnh tu học, tụng niệm, lễ bái, thờ phụng đúng Chính pháp. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng: Phương tiện bao giờ cũng giống như con dao hai lưỡi, nó có công dụng tốt, cũng có công dụng không tốt. Nếu chúng ta biết sử dụng nghi lễ để tuyên dương Chánh pháp, lợi lạc quần sanh là phước báo cho chư Thiên và loài người, ngược lại mượn nghi lễ để mưu cầu lợi dưỡng thì tai hại vô cùng. Có sự ý thức về những nguyên lý Phật học thì những hình thức nghi lễ sẽ phục vụ đạo pháp và cho con người một cách tốt đẹp, đem đến sự an lạc. Nhưng vắng mặt tinh thần đạt đạo và không ý thức được những nguyên lý Phật học thì những hình thức sinh hoạt này lập tức biến thành nguy hại, những phương tiện bị chấp chặc và coi như là cứu cánh. Cho nên người Phật tử không thể không thâm nhập kinh tạng, thâm nhập hành trì để nắm bắt những nguyên lý căn bản của nền triết học Phật giáo, từ đó mới có thể buông bỏ những hình thức được mệnh danh là Đạo Phật nhưng kỳ thực tác hại cho đạo Phật.
Thích Viên Hải


VLCĐ: Việt Nam Thi Sử Hùng Ca là một tác phẩm thơ mang tính dân tộc và hiện đại. Chất thi vị của thơ thâm trầm mà tươi sáng, nồng nàn tình yêu quê hương đất nước, cảm hoài thế sự thương đau. Rất mong được sự ủng hộ nhiệt tình của bạn đọc yêu thơ. Dù sao, đây cũng là một nổ lực của chính nhà thơ Mặc Giang trên bước đường sự nghiệp văn chương .





Mục Lục
01. Lời giới thiệu SG Phạm Trần Quốc Việt
02. Một cái nhìn về Thi Sử Hùng Ca Nhật Thu
03. Dẫn nhập Tác giả
04. Non nước Việt Nam (về địa lý)
05. Mở lối (vào Sử)
06. Từ Nguồn Cội đến Bắc Thuộc
07. Thời kỳ Bắc Thuộc, cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng - Bà Triệu
08. Cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế - Mai Hắc Đế
09. Cuộc khởi nghĩa của Bố Cái Đại Vương
10. Cuộc khởi nghĩa của Họ Khúc - Họ Dương
11. Ngô Quyền - Chiến thắng Bạch Đằng, chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc
12. Triều đại Nhà Đinh (968-980)
13. Nhà Tiền Lê (980-1009)
14. Triều đại Nhà Lý (1010-1225)
15. Triều đại Nhà Trần (1225-1400)
16. Nhà Hồ và Hậu Trần (1400-1413)
17. Lam Sơn Lê Lợi và Triều đại Lê Sơ (1428-1527)
18. Nam - Bắc Triều, Trịnh - Nguyễn phân tranh (1527-1788)
19. Triều Nguyễn Tây Sơn (1778-1802)
20. Triều Nguyễn Gia Long (1802-1945)
21. Một cái nhìn về Phương Tây
22. Việt Nam trăm năm Pháp Thuộc
23. Năm năm Nhật xuất hiện và 9 năm Pháp quay lại
24. Một mốc thời gian
25. Em tôi, còn đó quê hương - Lịch sử nối dài.

Thêm 20 bài cũng của tác giả vào cuối Thi Sử:
01. Ta đi trên nước non mình
02. Tình ca muôn thuở của Người Việt Nam
03. Điệp khúc Quê Hương
04. Dệt mộng Mười Đi
05. Người Cha Việt Nam
06. Ông Cha của ta
07. Bài ca Mẹ Việt Nam
08. Hồn Non Nước
09. Tuyên ngôn của Nước Việt Nam
10. Tâm hồn Việt Nam
11. Anh hùng rơi lệ
12. Nặng tình Nước Non
13. Anh về thăm lại tình quê
14. Em về thăm lại quê xưa
15. Cha về thăm lại quê nhà
17. Mẹ về thăm lại quê nghèo
18. Trả ta Sông Núi
19. Dõng dạc Tuyên Ngôn
20. Ta bước đi.
**************
 T/g: Thích Nhật Tân - Mặc Giang
Lời Giới Thiệu

 Tình cờ tôi được cầm quyển Việt Nam Thi Sử Hùng Ca của Mặc Giang do một người bạn trao tay, tôi cảm thấy hạnh phúc - hạnh phúc của sự đồng cảm tự tình dân tộc, vì ở thời buổi này vẫn còn có những người thiết tha với sự hưng vong của đất nước. Chính vì vậy tôi không ngại ngùng gì khi giới thiệu nhà thơ Mặc Giang với tác phẩm Việt Nam Thi Sử Hùng Ca.
Mặc Giang là một nhà thơ tư duy sâu sắc, một nhà thơ của thời đại với những thao thức về thân phận con người, những trăn trở về vận mệnh dân tộc, . . . Tất cả đã được Mặc Giang thể hiện trong Việt Nam Thi Sử Hùng Ca trong sáng và xúc tích, tràn đầy lòng tự hào dân tộc khi được mang cái gène “Con Rồng Cháu Tiên” luân lưu trong huyết quản. 
Tôi xin trân trọng giới thiệu và xin mời quí vị, chúng ta cùng đi trên khắp nẻo đường đất nước để tâm tư lắng đọng cùng nhìn lại ngọn nguồn dân tộc, từ nguồn cội đến thời kỳ Bắc Thuộc “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, ba mươi năm . . .” như lời một bài hát của nhạc sĩ tài danh Trịnh Công Sơn.
Em tôi ơi, xin đừng buồn vì quê hương còn đó, dòng vận mệnh lịch sử sẽ nối dài tiếng gọi Việt Nam như Mặc Giang đã viết :
“Việt Nam non nước một nhà
Muôn ngàn năm nữa vẫn là Việt Nam”

Sài Gòn lập thu Ất Dậu 2005
SG PHẠM TRẦN QUỐC VIỆT
*****
 
Một cái nhìn về Thi Sử Hùng Ca
      Lục bát là thể thơ đặc biệt của người Việt Nam, từ thuở còn nằm nôi, vầng thơ Lục Bát qua tiếng ru của mẹ đã thấm vào tâm hồn. Lớn lên, khi tiếp xúc với văn hóa, được hai tác phẩm thơ Lục bát là Kim Vân Kiều của Thi hào Nguyễn Du và Lục Vân Tiên của Cụ Đồ Chiểu soi sáng. Vì vậy, thơ Lục bát đã thấm sâu trong mỗi tâm hồn của người Việt.
Hôm nay, đọc Việt Nam Thi Sử Hùng Ca của nhà thơ Mặc Giang, thật sự tôi vô cùng thán phục. Bởi ngoài hai tác phẩm vĩ đại, Lục Vân Tiên và Kim Vân Kiều, còn một số tác phẩm đồ sộ xa xưa không danh tác giả nhưng bút trụ trong nền văn học như Phan - Trần, Quan Âm Thị Kính, Bích Câu Kỳ Ngộ, Nhị Độ Mai. Như vậy, thể thơ Lục bát trường thiên (một vài ngàn câu), ít có thi nhân nào thực hiện. Thông thường chỉ vài ba hoặc năm bảy chục câu mà thôi. Như vậy, viết thơ Lục bát trường thiên là một thách thức khó khăn. Ở Kim Vân Kiều và Lục Vân Tiên  thì tác giả dựa vào cốt chuyện Trung Hoa, còn Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, Mặc Giang dựa chính vào lịch sử dân tộc Việt Nam trải dài và xuyên suốt qua các triều đại. Quả thật đây là khó khăn rất lớn khi vận dụng âm sắc thơ Lục bát để chuyển tải đề tài lịch sử.
Thi Sử Hùng Ca sau khi đọc kỹ càng, cẩn trọng, tôi vô cùng xúc động. Nhà thơ Mặc Giang đã khéo léo vận dụng một cách linh hoạt bút pháp của thể thơ Lục bát, để chuyển tải nội dung từng giai đoạn lịch sử, lúc thì hùng tráng, lúc thì tủi hận đau thương v.v. Chỉ với hai câu sáu và tám liên kết nhau thành chuỗi xích dài vô tận. Việt Nam Thi Sử Hùng Ca là một tác phẩm thơ mang tính dân tộc và hiện đại. Chất thi vị của thơ thâm trầm mà tươi sáng, nồng nàn tình yêu quê hương đất nước, cảm hoài thế sự thương đau.
Rất mong tác phẩm Việt Nam Thi Sử Hùng Ca sẽ được sự ủng hộ nhiệt tình của bạn đọc yêu thơ. Dù sao, đây cũng là một nổ lực của chính nhà thơ Mặc Giang trên bước đường sự nghiệp văn chương .
Ngày 30 tháng 12 năm 2005
Nhật Thu
 
DẪN NHẬP
Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, là Thi Tập có tính sơ lược, tổng quát, đại cương xuyên suốt chiều dài 5000 năm lịch sử dân tộc, từ Hồng Bàng, các quốc tổ Hùng Vương, cho đến thời cận và hiện đại, tức cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, được soạn vào năm 2003 bằng thi ca, căn cứ theo các tài liệu :

1. Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
2. Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn
3. Việt Sử của Nguyễn Văn Bường
4. Các Triều Đại Việt Nam của Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng
5. Tóm tắt Niên biểu Lịch sử Việt Nam của Hà Văn Thư – Trần Hồng Đức
6. Địa lý Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ – Phạm Đình Tiếu
7. Bản đồ địa lý Việt Nam, theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê năm 1999

Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, được dẫn nhập bài Non Nước Việt Nam, bằng 16 câu thơ biến thể tự do, và tiếp theo 80 câu theo thể lục bát, nói về địa lý Việt Nam, nhưng chỉ liệt kê tên tất cả mọi Tỉnh, Thành của đất nước, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, để tất cả mọi người Việt Nam dù được sinh ra ở bất cứ nơi đâu, xuyên qua mọi không gian, thời gian, nhưng khi nói về nguyên quán, là để nhớ đến vùng đất đầu đời, và nhớ đến toàn cõi Việt Nam.

Sau đó, để có cái nhìn tổng quát và khái lược 5000 năm lịch sử huy hoàng của dân tộc, dọc theo chiều dài mở nước, dựng nước, giữ nước, từ Tổ Tiên, qua các triều đại, cho đến từng thế hệ hôm nay, được diễn theo Thi Sử Hùng Ca, mở lối bằng 14 câu thơ biến thể tự do, và tiếp theo 722 câu theo thể thơ lục bát.
Hình dung bản đồ Việt Nam trước mặt, như chính mình đang đi, đang nhìn, đang thấy khắp Ba Miền, đi từ Bắc vào Nam, từ cao nguyên cho tới đồng bằng, qua sông qua suối qua đèo, băng rừng băng núi băng non, qua mọi Tỉnh, Thành của quê hương đất nước :

“Tôi xin mở bản dư đồ Hình cong chữ S
Ngắm từng Tỉnh, từng Vùng
Của nước Việt dấu yêu
Của giang sơn cẩm tú mỹ miều...
... Mở đầu, Miền Bắc khai nguyên
... Anh lên Miền Ngược, em về Miền Xuôi
Xuôi về Hà Nội mới thôi
Thăng Long hoài cổ, đổi dời Thành Đô
... Sài Gòn chưa vẹn câu thề
Em đi, đi nữa xuôi về Miền Nam
... Em đi, đi nữa em ơi
... Hình cong chữ “S” nơi nơi
Non non nước nước của Người Việt Nam”.

Khi từng miền đất nước, như đã cấu thành cho con người Việt Nam máu đỏ da vàng, cho tình tự yêu thương chạy dài từ thành thị đến thôn trang. Thật vậy, từng nẻo đường quê hương như phảng phất : Kia bóng cờ bay “Những lối đi, chạy ngang qua đất đỏ”. Reo khúc khải hoàn với “Những lối về, chạy dọc dưới trời xanh”. Và mỗi bước đi như có hồn thiêng khói quyện, hồn sử lung linh, máu lệ đầy vơi nhưng lẫm liệt oai hùng, hy sinh gian khổ nhưng huy hoàng bất khuất. Mỗi chúng ta hãy lần theo từng trang sử qua từng thời kỳ của 5000 năm văn hiến của đất nước Việt Nam, đang được mở ra :

“Tôi xin mở bản đồ đất nước Việt Nam
... Tổ quốc, giang sơn, giòng giống Tiên Rồng”
“Quê hương từ độ khơi dòng
Mở trang Sử Việt oai hùng ngàn năm
Đi từ huyền sử xa xăm
Hồn thiêng sông núi Việt Nam muôn đời
... Em đi trong mộng trong mơ
Năm ngàn năm đã đợi chờ thật lâu...
  Và cuối cùng, đi vào kết thúc lịch sử 5000 năm, rồi lại mở ra 5000 năm nữa ...
“Nước là nước, nhà là nhà
Nhà là của nước, nước là của sông
Em ơi, con cháu Lạc Hồng
Em ơi, dòng dõi con Rồng cháu Tiên
Quê hương còn đó, Ba Miền
Việt Nam còn đó, núi liền với sông
Trường Sơn có thấu Biển Đông !
Thái Bình có thấu Sông Hồng, Cửu Long !
Đồng Nai đứng đợi cuối dòng
Nước bao nhiêu nữa, cũng nguồn mà ra
VIỆT NAM, NON NƯỚC MỘT NHÀ
NĂM NGÀN NĂM NỮA CŨNG LÀ VIỆT NAM”.

Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, được soạn thảo bằng cách, nhìn vào bản đồ Việt Nam và cuốn Địa lý Việt Nam từ Bắc vào Nam ; đọc, lược, đối chiếu qua 5 bộ sách lịch sử, qua thời gian, qua từng thời kỳ và các triều đại, cảm tác suốt một tuần lễ, tổng cộng qua 832 câu thơ, gồm 30 câu biến thể tự do, 802 câu theo thể lục bát. Sau đó, tự tác giả đọc lại, sửa, đánh máy, bình chú cũng xuyên suốt trong một tuần lễ.
Như vậy, cả hai hai tuần lễ của tháng 9 năm 2003, Thi Tập VIỆT NAM THI SỬ HÙNG CA, một sản phẩm của con tim, khối óc, tình tự, trí tuệ được thành hình. Thi tập này chưa nhưng sẽ được tác giả tự ấn hành trong nay mai.

Rất mong những bậc cao minh góp ý hoặc mách bảo những sai sót, khiếm khuyết, nhất là về sử, hay tự chính tác giả khi phát hiện được, sẽ sửa chữa, đính chính, trước khi in ấn, hoặc vào những lần tái bản, để Việt Nam Thi Sử Hùng Ca được hoàn thiện hoàn mỹ, không phải của riêng tác giả mà của tất cả mọi người.
Rất mong, Việt Nam Thi Sử Hùng Ca sẽ được chân thành gởi đến, và như một cống hiến dâng tặng đến tất cả mọi người Việt Nam, qua mọi không gian thời gian, và ao ước mọi người Việt Nam đều mang tình tự quê hương đậm đà, đều có những nỗi niềm khắc khoải nhưng tràn đầy diễm phúc tự hào, qua âm hưởng Việt Nam Thi Sử Hùng Ca 5000 năm dân tộc và Ba Miền nước Việt dấu yêu.

Ngày 06 tháng 8 năm 2005
Trân trọng và cẩn chí
TNT Mặc Giang
********

VLCĐ Quả báo của ăn mặc hở hang gây ý niệm tà dâm cho người chính là địa ngục, xin hãy lưu ý. Lời chân thật tuy làm phật ý bạn, nhưng nếu bạn chịu lắng nghe và chỉnh sửa thì chính bạn là người không bị mắc phải ác nghiệp này. Khi đó sự tri ân còn không hết nữa là khác (bài viết của cư sĩ Quả Hồng)

Trước khi vào bài, xin được nói một chút về Cư sĩ Quả Hồng. Cô ban đầu theo thọ giáo cư sĩ Quả Khanh, được Quả Khanh hướng dẫn dìu dắt…cô chí thành hành trì pháp Phật và trở thành đệ tử của Hòa thượng Tuyên Hóa.
 
Tuy là cư sĩ tại gia, còn trẻ, nhưng nhờ cô nghiêm trì giới luật miên mật nên đã khai mở tuệ nhãn, được túc mệnh minh, có khả năng nhìn thấu ba thời. Tuy là vậy, nhưng cô không dùng nó để khoe khoang, mà tùy duyên gỡ rối, giúp người đoạn trừ tập khí xấu, tu tiến bộ hơn.
 
Trong lời tâm sự, tự thuật, Quả Hồng không nói nhiều về khả năng của mình. Nhưng theo tôi biết thì mỗi khi ai đến với cô và nêu lên thắc mắc…thì tất cả những gì họ đã làm trong quá khứ hoặc nhiều kiếp trước, sẽ hiện ra trước mắt cô như một cuộn phim…Và cô thấy rõ những hành vi lỗi lầm trong quá khứ hay hiện tại của họ sẽ khiến cho họ phải chịu Báo ứng trong tương lai như thế nào. Thậm chí có những lỗi cần khắc phục ngay để hoàn thiện viên mãn hơn nhưng đương sự không biết, không nhận ra…thì cô chỉ giúp cho họ sửa. Do vậy mà những lời chỉ bảo của cô thường trang nghiêm, thẳng thắn, dứt khoát. Cô không hề nói lấy lòng mà nhằm chỉ ra điều sai để đương sự tự sửa
.
Dưới đây cũng là bài viết của cư sĩ Quả Hồng – Quả báo của ăn mặc hở hang gây ý niệm tà dâm cho người chính là địa ngục, xin hãy lưu ý. Lời chân thật tuy làm phật ý bạn, nhưng nếu bạn chịu lắng nghe và chỉnh sửa thì chính bạn là người không bị mắc phải ác nghiệp này. Khi đó sự tri ân còn không hết nữa là khác:
 
Hiện nay, trên áp phích quảng cáo, báo chí, tạp chí, các trang Web, thậm chí cả điện thoại….thường cho mỹ nữ ăn mặc hở hang để quảng cáo sản phẩm cho họ, mà không hề biết rằng đây một hành vi sai lầm hại mình, hại người
.
Tôi hàng ngày làm việc, thường đi tàu điện ngầm. Hôm đó, trong lúc đợi xe, thấy một tấm áp phích quảng cáo nội y, in hình một người phụ nữ ngoại quốc ăn mặc hở hang. Có anh thanh niên tuổi chưa tới hai mươi, cứ đứng dán chặt mắt vào tấm hình, cách ăn mặc khêu gợi trong áp phích đã khiến cho tâm tư anh ta vọng động….
 
Điều này thật đáng lo, những cậu bé trong tương lai sẽ là rường cột quốc gia, đang độ tuổi học hành, lẽ ra phải được tiếp thu những điều hay, lẽ phải…cần được đào tạo hun đúc nhân sính quan, thế gian quan chính xác. Nếu bị những hình ảnh ô nhiễm này trưng bày khắp nơi, liên tục đập vào mắt, tâm rất dễ bị lôi cuốn sa vào nẻo sai lầm, dẫn đến hành động hại mình hại người, thật rất đáng tiếc…
.
Tôi lại nhìn vào bức hình quảng cáo kia, cô gái trong hình nhan sắc yêu kiều quyến rũ, nhưng ăn mặc hở hang như vậy sẽ khơi gợi dục niệm trong lòng người. Thế thì tương lai, cô sẽ phải lãnh quả báo như thế nào?….
 
Vừa nghĩ đến đây, trong đầu tôi lại lóe sáng và thấy ngay dưới tấm áp phích to đùng, bỗng hiện màn ảnh như thế này:
“Có một cái giường sắt, dưới giường lửa cháy hừng hực, cô gái quảng cáo này đang nằm trên đó, lưng bị đốt cháy bỏng…Bên cạnh cô có hai vị áo đen cao to, tay cầm dao sắc bén, ra sức rạch vào bụng cô gái…lúc này ruột, phân, nước tiểu, máu mủ hỗn độn…trào ra ngoài”…
Nhìn thấy cảnh tượng đó, tôi không ngăn được hoảng kinh, thầm nghĩ: “Đây há chẳng phải là hình phạt “Nam ôm cột đồng, nữ nằm giường sắt sao?”. Phạm tội tà dâm, khiêu dâm, kích dục…thì phải thọ báo ở địa ngục mà!….
 
Con rửa chân, chăm sóc mẹ lúc tuổi già - Mịnh Họa

Đồng thời, tôi cũng cảm nhận được cô người mẫu quảng cáo nội y này hiện thời tuy đang trẻ trung xinh đẹp, nhưng thân thể đang mắc rất nhiều bệnh, trong đó có chứng Lậu – một căn bệnh phụ khoa nan y hiểm nghèo…Lúc này trong đầu tôi vang lên câu xác nhận: “Người phụ nữ này do tạo tội tà dâm tất sẽ đọa địa ngục, kể cả người chụp hình và ê kíp thiết kế ấn loát cho ra những bức ảnh gợi dục kia, thảy đều sẽ lãnh quả báo đáng sợ. Phải đợi đến người cuối cùng trên thế gian này – người mà thấy hình chụp kia rồi nổi tâm dâm mà đọa ác đạo, rồi từ tam ác đạo thoát ra khỏi luân hồi, trở lên tu hành đến không còn niệm dâm dục nữa – thì cô gái này cùng nhóm người có liên quan đến việc chụp ảnh, sản xuất hình kia mới có thể thoát khổ địa ngục, ra khỏi ác đạo….”. “Vạn ác, dâm đứng đầu”. Thật là khủng khiếp!
 
Họa phúc không cửa, do người tự chiêu. Báo ứng thiện ác, như bóng tùy hình, phải biết Nhân quả báo ứng rất đáng sợ vậy.
Xin cảnh báo thế nhân, bất kể là nữ hay nam, đều không nên ăn mặc hở hang rồi chụp ảnh quảng cáo tự khoe lấy mình, phô diễn thân thể, quảng cáo ảnh sex, hay diễn phim gợi dục…v.v…Quý vị nếu không muốn tạo ra Nhân xấu địa ngục thì những hành vi ăn mặc, cử chỉ cần nên cao quý, đứng đắn, đoan trang, hành vi đừng cẩu thả phóng túng. Đừng chạy theo trào lưu, khoái một chút khen ngợi mà quả báo chính mình phải chịu.
 
Nếu như Quý vị thích ăn mặc hở hang để quyến rũ nhãn quan ưa nhìn của người khác phái, thậm chí kích động họ khởi lên dâm niệm, thì quả báo do ác nghiệp này tạo ra rất đáng sợ! Đôi khi chỉ vì một chút vô ý của quý vị, sai lầm, thiếu hiểu biết nhất thời mà chiêu hận thiên thu. Mong quý vị cẩn trọng ghi nhớ kỹ, thường cảnh giác để không tự hại mình…
Riêng hàng tu sĩ cần phải khắc ghi lời Phật dạy: “Xa lìa cảnh khiêu dâm! Mắt chẳng nhìn, tai chẳng nghe, miệng chẳng nói lời tà…
.
Người giữ giới bất dâm có năm công đức, quá khứ, hiện tại, vị lai Chư Phật đều tán thán. Người bất dâm, hằng trụ trong uy nghi Phật, thân tỏa hương thơm như Phật.
Các tu sĩ cần giữ mắt, tai, mũi, lưỡi tâm ý thanh tịnh…Mắt không nhìn sắc dâm, tai không nghe khúc hát gợi tình, lưỡi chẳng bàn chuyện thế tục, chẳng khen dâm sự, miệng vĩnh viễn chẳng ca ngợi dâm ái xúc lạc, chẳng nói những lời làm tăng nghiệp xấu ái vô minh. Tâm chẳng trụ cảm giác cuồng si. Ý luôn thanh tịnh, không khởi nghĩ hay nhớ đến dâm, không tự hành tà hạnh.
 
Học theo hạnh Phật, hằng trụ tâm Phật như vậy là trụ nơi chân như, sẽ được năm công đức, thân thường thanh tịnh như hoa sen, trinh khiết trong sạch. Thế nên, giới bất dâm rất thù thắng thanh tịnh có đầy đủ công đức, lợi ích vô thượng…Đây là nhân giải thoát, dù tán thán ngợi khen mấy cũng không sao nói hết. Dâm là phiền lụy trói buộc cực nặng, là tội trọng căn bản. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tâm dâm chẳng trừ, trần lao khó xuất”.
 
Riêng quý vị tại gia, cư sĩ nên mặc y phục đứng đắn, rộng thoáng, không nên ăn mặc hở hang thái quá. Đặc biệt khi đến chùa chiền, quý vị không nên quấy nhiễu sự trang nghiêm thanh tịnh nơi đây. Trong Phật môn luôn nhắc nhở: “Thà khuấy động ngàn sông, chẳng nên làm động tâm người tu”. Nếu cố tình khiến người trì giới khởi tâm động niệm phiền não, là quý vị đang mắc tội phá giới thanh tịnh của người, lỗi này cực lớn, mong quý vị hiểu rõ để tự bảo vệ, răn dè.

Cư sĩ Quả Hồng (Hạnh Đoan dịch từ quyển Báo ứng hiện đời) 

VLCĐ: Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử - người được xem là “khai sáng” của Nho giáo. Sự hình thành các Văn Miếu chính là biểu thị của tư tưởng chủ đạo trong việc tôn vinh truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc ta. Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội

Đây là Văn Miếu đầu tiên của nước ta, được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng tháng 10/1070. Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu, có thể coi đây là trường Đại học đầu tiên ở Việt Nam. Văn Miếu Quốc Tử Giám được xem như là biểu tượng của tri thức, của nền giáo dục Việt Nam. Đây là nơi thờ phụng các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An - người thầy tiêu biểu về đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Quần thể di tích gồm: Hồ Văn, Vườn Giám và Khu nội tự. Văn Miếu - Quốc Tử Giám thiết kế bởi nhiều lớp nhà và lớp cửa cách nhau 5 cái sân: Tam quan qua sân thứ nhất. Đại trung môn có hai cổng nhỏ vào sân thứ hai. Khuê Văn Các có hai cổng nhỏ vào sân thứ ba. Tiếp đến là Hồ Thiên Quang Tĩnh và Cửa Đại Thành vào sân thứ tư. Khu chính của Văn Miếu gồm hai nếp nhà chính cách nhau cũng bằng cái sân, mái lợp ngói cổ. Nếp nhà trong là Chính tẩm thờ Khổng Tử và học trò. Khu nhà Đại Bái hai bên tả, hữu treo thờ tranh vẽ tiên hiền, tiên Nho. Qua sân thứ năm là nhà Thái Học (thờ cha, mẹ Khổng Tử). Đây là nơi lưu danh các bậc hiền tài qua các khoa thi, thể hiện ở 82 tấm bia tiến sĩ (được UNESCO công nhận là Di sản Ký ức nhân loại năm 2010). Cứ sau mỗi khoa thi từ năm 1442 đến 1779, người xưa lại dựng lên các tấm bia đá trên lưng rùa, khắc tên những người đỗ đạt. Ngày nay, đây là nơi Nhà nước tổ chức trao các học hàm, học vị giáo sư, viện sĩ, tiến sĩ cho những trí thức, là nơi khen tặng cho học sinh, sinh viên xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày Rằm tháng Giêng. Đặc biệt, trước mỗi kỳ thi, các sĩ tử đến đây “xin lộc”, “cầu may” . Mỗi dịp Xuân về, người dân khắp nơi háo hức đến dâng hương tại Văn Miếu với mong muốn học hành tấn tới, “công thành, danh toại”, xin chữ lấy may trên phố "ông đồ" bên khu vực Văn Miếu. Với kiến trúc cổ xưa và những giá trị nhân văn độc đáo, Văn Miếu - Quốc Tử Giám chính là gạch nối lịch sử của Hà Nội xưa và nay, góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hóa của dân tộc.

1. Văn Miếu – Quốc Tử Giám (còn gọi là Văn Miếu Thăng Long - Hà Nội)

Có lẽ ai trong chúng ta cũng đều biết về quần thể di tích văn hóa, lịch sử độc đáo nhất của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung này đúng không các bạn?

Khuê Văn Các – Thiên quang tĩnh, nơi giao hòa của đất trời. Đây chính là biểu tượng cho truyền thống hiếu học của cả nước đấy các bạn.
 
Văn Miếu được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng tháng 10/1070 để thờ Khổng Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên sư của Nho học. Năm 1076, Lý Nhân Tông (con trai vua Lý Thánh Tông) cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu, có thể coi đây là trường Đại học đầu tiên ở Việt Nam.

Văn Miếu Môn, cổng dẫn vào khu thứ nhất.
 
Hiện nay, Văn miếu – Quốc Tử Giám được xem như là biểu tượng của tri thức, của nền giáo dục Việt Nam. Ngoài các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, ở đây còn ghi dấu Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An – người thầy tiêu biểu về đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam.

Thiên Quang Tĩnh
 
Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám có diện tích 54.331m2 bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám. Dĩ nhiên, tiêu biểu và quan trọng nhất là Văn Miếu, nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam. Tọa lạc, ở phía Nam thành Thăng Long, Hà Nội. Cổng chính là phố Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu.

Bia tiên sĩ trong Văn Miếu Quốc Tử Giám.
 
Ngày nay tại Văn Miếu, Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao Khuê, chủ đề văn học) và 82 Bia Tiến sĩ (UNESCO công nhận là di sản Ký ức nhân loại) được xem như là một nét kiến trúc, văn hóa, di sản tiêu biểu nhất.

Các sĩ tử với truyền thống sờ bia tiến sĩ trước mỗi kỳ thi để cầu may mắn.
 
Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám hiện là nơi thu hút rất đông sự tham quan của du khách trong và ngoài nước. Đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc, các sân chơi tri thức (Gala chung kết: Rung Chuông Vàng…) và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử đến “xin lộc”, “cầu may” trước mỗi kỳ thi.

2. Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương)
 
Văn Miếu Mao Điền – (Mao: cỏ lau, Điền: ruộng cấy, như vậy: Mao Điền là một vùng đất bằng phẳng có nhiều cỏ lau).
Đường vào Văn Miếu Mao Điền rợp màu xanh của lúa. Một khung cảnh đẹp lunh linh như tranh thủy mặc ấy đúng không các bạn?

Di tích lịch sử cấp Quốc gia (công nhận xếp hạng năm 1992). Văn Miếu được xây dựng từ thời Lê Sơ (Thế kỉ XV) tại làng Mậu Tài, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Cổng Văn Miếu.
 
Văn Miếu được hợp nhất với trường thi Hương của tỉnh Hải Dương (nay là Văn miếu Mao Điền và cánh đồng Tràng) vào thời Tây Sơn (1788 – 1802). Công trình rộng 3,6 ha này được xây dựng theo hướng Nam gồm các hạng mục: Bái đường, Hậu cung mỗi toà 7 gian, xây theo kiểu chữ Nhị, Đông vu, Tây vu, gác Khuê văn, gác Chuông, gác Khánh, đài Nghiên, tháp Bút, Nghi môn, Thiên Quang tinh và Khải thánh thờ thân Phụ và thân Mẫu của Khổng Tử.

Toàn cảnh Văn Miếu Mao Điền.
 
Hiện nay Văn Miếu Mao Điền dùng để thờ Khổng Tử và các bậc đại nho theo truyền thống của Việt Nam, Trung Quốc và một số nước Đông Á khác. Hàng năm, từ xưa đến nay, trấn Hải Dương đều tổ chức lễ tế Khổng Tử, các quan đầu trấn, đầu phủ cùng cử nhân, tiến sỹ về làm lễ trọng thể, nêu cao truyền thống hiếu học của tỉnh.

Cầu đá dẫn vào Văn Miếu.
 
Văn miếu và trường thi Hương trấn Hải Dương từng có một lịch sử vẻ vang. Tại đây đã đào tạo hàng ngàn cử nhân, tiến sỹ nho học đứng vào hàng đầu cả nước. Nếu chỉ tính số người đỗ Đại khoa trong 185 kỳ thi (từ năm 1075 – năm 1919), cả nước có 2.898 tiến sỹ thì trấn Hải Dương có 637 vị, trong số 46 Trạng nguyên, Hải Dương có l2 người.

Ngay giữa sân có sự hiện diện của cây gạo cổ thụ, tương xứng với giá trị mà Văn Miếu đã lưu giữ qua thời gian.
 
Đặc biệt, trong kì thi Ất Mùi năm Đại Chinh thứ 6 (năm 1535), trấn Hải Dương có Nguyễn Bỉnh Khiêm, người nổi tiếng Thủ khoa cả ba kỳ thi: Hương - Hội - Đình, được triều đình phong tặng Trạng nguyên.

Khung cảnh như chốn bồng tiên ấy nhỉ?


Rất đông du khách đến viếng Văn Miếu vào các dịp lễ hội hàng năm.

Văn miếu Mao Điền hiện nay chính là niềm tự hào về quá khứ vẻ vang, nơi đại diện cho tri thức và tinh thần hiếu học của tỉnh Hải Dương. Không chỉ thế, nơi đây còn thu hút rất đông khách du lịch đến tham quan hàng năm.

VLCĐ:Nghi Thức Tụng Niệm LỄ GIAO THỪA do Chùa Pháp Quang ấn hành nhân dịp Xuân Ất Mùi 2015. Văn Kinh đã được dịch chuyển thành Việt ngữ. Xin trân trọng giới thiệu đến Chư Tôn Đức Tăng, Ni cùng toàn thể Phật tử

NIỆM HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo Pháp mây hương
Ngát tỏa khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sinh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ đề kiên cố
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ Giác.
 
KỲ NGUYỆN
Tư thời đệ tử chúng đẳng, nhất tâm quy hướng Phật tiền, chân thành thiết lễ Giao Thừa Nguyên Đán Minh Niên, phủ phục thành tâm đảnh lễ cúng dường Thập Phương Chư Phật, vô lượng Bồ Tát Thánh Hiền, Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp Tôn Thần, Già Lam Thánh Chúng, thùy từ lân mẫn, chứng minh gia hộ: Pháp âm phổ chiếu, Phật Pháp thân truyền, Thiền môn nghiêm tịnh, Hải Chúng an hòa, Bách gia hộ Đạo, Trăm họ quy y, Phước duyên tăng trưởng, Hạnh nguyện viên dung.
 
Ngưỡng nguyện:
Thượng chúc Phật nhựt tăng huy, Pháp luân thường chuyển, Thượng hoằng Phật đạo, Hạ hóa chúng sanh, Hiển phát Như Lai, Hưng long Tam Bảo, phong điều vũ thuận, Quốc thới Dân an.
 
Phổ nguyện:
Chư Thiện nam Tín nữ Phật tử, bá gia bá tánh, thân tâm thường lạc, tứ đại điều hòa, gia đình hưng thạnh, bửu quyến đoàn viên, Bồ Đề tâm tăng trưởng, Đạo nghiệp viên thành.
 
Âm siêu dương thới, Pháp giới chúng sinh, Tình dữ vô tình, Giai cộng thành Phật Đạo.
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.
 
TÁN PHẬT
Ðấng Pháp Vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận.
 
Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví Đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin đảnh lễ quy y.
 
ĐẢNH LỄ
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam Bảo. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Ðiều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ðương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Ðà Phật, Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)
 
TÁN LƯ HƯƠNG
Lư hương vừa nhóm Chiên đàn
Khắp xông pháp giới muôn ngàn cõi xa
Lòng con kính ngưỡng thiết tha
Ngưỡng mong Chư Phật thương mà chứng minh.
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
 
Bài tựa CHÚ LĂNG NGHIÊM
Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)
 
Tâm chánh định như như bất động
Phật Ba Thân nhân thế khó tìm
Trăm ngàn muôn kiếp đảo điên
Vô minh dứt sạch chứng liền Pháp Thân
Nay con nguyền chứng ngôi Chánh Giác
Độ chúng sinh như cát Sông Hằng
Thân tâm này nát như trần
Hồng Ân Chư Phật chút phần báo ân
Cung thỉnh Thế Tôn lại chứng minh
Đời năm trược con xin vào trước
Một chúng sinh quả Phật chưa thành
Con nguyền không chứng Vô Sanh Niết Bàn
Đại hùng Đại lực Đại từ bi
Giúp con dứt sạch si mê buồn phiền
Để sớm được lên miền Thượng giác
Ngồi Đạo tràng bát ngát Mười phương
Hư không có thể tiêu tan
Nguyện con kiên cố không hề lung lay
 
Nam Mô Thường Trụ mười phương Phật
Nam Mô Thường Trụ mười phương Pháp
Nam Mô Thường Trụ mười phương Tăng
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Kim Cang Tạng Bồ Tát
 
Lúc bây giờ từ nhục kế của Phật, phóng ra một đạo hào quang trăm báu, với hoa sen ngàn cánh, trong mỗi hoa sen, có hóa Phật ngồi, từ đảnh Hóa Phật, phóng ra mười đạo hào quang trăm báu, mỗi đạo hào quang, hiện ra nhiều Thần Kim Cang Mật Tích, ông bưng núi, ông cầm sử, biến khắp cõi hư không, đại chúng trông thấy, vừa mừng vừa sợ, đều cầu Phật thương xót che chở, một lòng lắng nghe Phật nói Thần chú:
 
Án, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạt xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn. Hổ hồng, đo lô ung phấn, ta bà ha. (3 lần)
 
CHÚ ĐẠI BI
Nam Mô Đại  Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
 
Thiên thủ, thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.
Nam mô hắc ra, đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bát ra da, Bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông, a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đá sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.
Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, đồ lô đồ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô rô hô rô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha, Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha, Ta bà ma ha, a tất đà dạ, Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ gia. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bàn ra da dạ ta bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)
 
NIỆM DANH HIỆU PHẬT
Đại Từ Đại Bi thương chúng sinh
Đại Hỷ Đại Xả cứu muôn loài
Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm
Đệ tử chí tâm quy mạng lễ.
 
Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo (3 lần)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (3 lần)
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
 
SÁM NGUYỆN GIAO THỪA
Giao Thừa giây phút uy linh
Nguyện cầu Chư Phật chứng minh hộ trì
Nhân loại thấm nhuận từ bi
Thế giới hòa ái thiết thi Đạo mầu   
Trên thời đền đáp Ân sâu  
Dưới thời tế độ hàm thâu muôn loài
Tiễn đưa năm cũ qua rồi
Đón mừng năm mới rạng soi gương lành
Thiện nghiệp nỗ lực tri hành
Ác nghiệp đoạn tuyệt tơ mành không vương
Giao Thừa Nguyên Đán niêm hương
Nguyện cầu muôn hướng ngàn phương thanh bình
Không còn khói lửa đao binh
Tiêu tan cừu hận bất bình can qua
Bất luận chủng tộc quốc gia
Bất luận oán kết trầm kha não lòng
Hận thù thù hận chất chồng
Từ Bi xóa sạch đẹp trong chan hòa
Bắc cầu Đạo Lý giao thoa
Chúng sinh thân thiện kết tòa sen tươi
Vị tha chín bỏ làm mười
Tự tu tự độ thời thời an khương
Thôn quê thành thị phố phường
Người người hoan hỷ thanh lương đậm đà
Chúc Mừng Năm Mới hoan ca
Tân Xuân Vạn Hạnh nhà nhà thơm hoa
Cầu cho mưa thuận gió hòa
Thu, Đông, Xuân, Hạ bốn mùa an vui
Thiên tai chấm dứt lở bồi  
Hạn hán kết thúc, không thời nhiễu nhương
Cơm ngon gạo trắng ngát hương
Ấm no hạnh phúc tư lường muôn dân
Giàu nghèo san sẻ tương lân
Tình người nhân loại lượng phần thắm tô
Phân chia kỳ thị cuốn cờ
Văn minh chậm tiến trôi bờ cách ngăn
Nơi đâu cũng có trăng rằm
Đẩy đưa nguyệt khuyết nặng oằn mà chi
Đời người ngắn ngủi qua đi
Trăm năm thử hỏi đáng gì hay sao
Sống cho đạo đức thanh cao
Xấu xa ích kỷ đổ vào hố sâu
Lục độ vạn hạnh làm đầu
Cứu nhân độ thế là câu trau mình
Sống đời cống hiến hy sinh
Sống đời phụng sự quang minh tuyệt vời
Bảo ban con cháu nên người
Lục thân quyến thuộc mỉm cười an nhiên
Giao Thừa Nguyên Đán minh niên
Phật Từ gia hộ mọi miền trần gian
Năm châu bốn biển hòa vang
Chúng sinh quy hướng Đạo Vàng Pháp Vương
Nam Mô Tam Bảo mười phương
Chứng minh gia hộ cát tường lạc bang.
Nam Mô Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật
Nam Mô Hiện Tại Hiền Kiếp Thiên Phật
Nam Mô Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật.
 
GIAO THỪA QUY NGUYỆN
Đệ tử chúng con lòng thành kính
Trước Phật đài thiết lễ trang nghiêm
Cúng Giao Thừa Nguyên Đán minh niên
Nguyện Tam Bảo từ bi gia hộ
Nén tâm hương chí thành hiển lộ
Dâng cúng dường Chư Phật mười phương
Chư Bồ Tát Thánh Chúng Long Thiên
Ứng Hóa Thân lai lâm chứng giám
Cõi Ta Bà trầm luân khổ nạn
Đã từ lâu vất vưởng lang thang
Nay chúng con nương Ánh Đạo Vàng
Nguyện Chư Phật thùy từ lân mẫn
Nước cành dương xóa tan nghiệp chướng
Thuyền Bát Nhã chuyên chở thanh lương
Vượt Lục Đạo chìm đắm tang thương
Thoát Tam Đồ hồi đầu Bỉ Ngạn
Một năm cũ oan khiên ta thán
Chất chồng cùng phiền trược đã qua
Vụng tu trì bỉ thử trầm kha
Vô minh phủ lầm đường lạc lối
Năm Mới đến cải tà quy hối
Thức tỉnh mau lửa cháy trên đầu
Kiếp con người cửa sổ bóng câu
Dìu dắt nhau trên đường hóa độ
Ta Bà khổ nguyền xin cứu khổ
Cứu chúng sinh thoát cảnh điêu linh
Hạnh Độ tha phụng hiến quên mình 
Nguyện Tự độ chuyên cần tinh tấn
Phút thiêng liêng Giao Thừa Nguyên Đán
Xin kiền thiền đảnh lễ thập phương
Đấng Từ Nghiêm vô thượng Pháp Vương
Chư Bồ Tát Thánh Hiền vô lượng
Gia hộ cho muôn phương ngàn hướng
Khắp năm châu bốn biển an lành
Không nhiễu nhương tao loạn chiến tranh
Dứt nghiệt ngã thiên tai hạn hán
Xin trời yên mưa hòa gió thuận
Xin biển lặng sóng nước reo vang 
Nơi nơi đều thịnh vượng an khang 
Đâu đâu cũng no cơm ấm áo
Hỡi nhân loại sống trên thế giới
Biết thương yêu mở cửa từ tâm
Lấp hố thẳm phân biệt cách ngăn
Bắc nhịp cầu giao hòa thiện mỹ
Mọi quốc gia thông thương hiệp ý
Mọi chủng tộc thân ái tuyệt vời
Trao tin yêu trân trọng tình người
Hòa điệu sống cùng nhau xây dựng
Giao Thừa tất nhất tâm hồi hướng
Phật thân truyền nhựt nhựt tăng huy
Đại hải Chúng đức độ từ bi
Chúng sinh nhuận thanh lương pháp vũ
Hồi hướng khắp tứ sanh vạn loại
Đều hưởng nhờ vô lượng Phật ân
Phát Bồ Đề dưỡng tánh tu tâm
Tịnh giới đức tăng long phước huệ
Đoạn phàm trược hòa chơn tánh thể
Nhập Thánh Lưu độ tận chúng sinh
Phật Pháp Âm vô thượng uy linh 
Đồng Giác ngộ chứng thành Phật quả.
 
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ÐA TÂM KINH
Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề Tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha. (3 lần) 
 
TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG THẦN CHÚ
Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẫm, a bát ra để hạ đa xá, ta nẵng nẫm, đát điệt tha, án khư khư, khư hê khư hê, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắt sá để sắt sá, sắt trí rị, sắt trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca, thất dị duệ, ta phạ ha. (3 lần)
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Từ Bi thường gia hộ
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Tam Bảo thường gia hộ
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Hộ Pháp thường ủng hộ.
Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát. (3 lần)
 
HỒI HƯỚNG
Giao Thừa công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện Pháp giới chư chúng sinh
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ Tát đạo
Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ trung
Cửu phẩm Liên hoa vi Phụ Mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sinh
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhứt thiết
Ngã đẳng dữ chúng sinh
Giai cộng thành Phật Đạo.
 
PHỤC NGUYỆN
Giao Thừa năm mới, Nghinh tiếp Tân xuân, Lễ Phật đầu năm, Cung đón Bố Đại Hòa Thượng, Đức Phật Di Lặc hóa thân. Đệ tử chúng con một dạ chí thành quỳ trước Phật đài, kiền thiền dâng nén tâm hương cúng dường ba ngôi Tam Bảo.
 
Ngưỡng nguyện: Cửa thiền thường nghiêm tịnh, tứ Chúng mãi thuận hòa, Phật huệ chiếu sáng ngời, mưa Pháp nhuần thắm gội, Phật tử lòng tin sâu, ruộng phước càng tăng trưởng. Chúng sanh sống an lạc, vui hưởng cảnh thái bình, Phước huệ trang nghiêm, phúc thọ tăng long, sở nguyện tùy tâm kiết tường như ý.
 
Phổ nguyện: Gia đình hưng thạnh, quyến thuộc đoàn viên, Hộ trì Tam Bảo cửu trụ vô biên, năm châu an định, bốn biển thanh bình, Pháp giới nhơn thiên, tề thành Phật đạo.
 
TAM TỰ QUY
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo Đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lạy)
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lạy)
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.