Latest Post

VLCĐ: Nghi Thức Cúng Hội CẦU AN ĐẦU NĂM do TT Thích Nhật Tân biên soạn. Ấn hành Tết Bính Thân 2016 - Phật Lịch 2560 - Việt Lịch 4895 - Chùa Pháp Quang, 12 Freeman Road, Durack, QLD 4077. Australia - Tel 07.33721113 ; Mobile 0402.442431. Website: www.phapquang.com.au - Email: thnhattan@yahoo.com.au

Nghi Thức Cúng Hội CẦU AN ĐẦU NĂM
Chùa Pháp Quang
12 Freeman Road, Durack, QLD 4077. Australia
Tel 07.33721113 ; Mobile 0402.442431
Website: www.phapquang.com.au
Email: thnhattan@yahoo.com.au
 
Ấn hành Tết Bính Thân 2016
Phật Lịch 2560 - Việt Lịch 4895
Tỳ kheo Thích Nhật Tân soạn
***

NIỆM HƯƠNG
 
Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo Pháp mây hương
Ngát tỏa khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sinh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ đề kiên cố
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ Giác.
  
 
KỲ NGUYỆN
 
Tư thời đệ tử chúng đẳng, nhất tâm quy hướng Phật tiền, chân thành thiết lễ Cúng Hội Cầu An Đầu Năm, phủ phục thành tâm đảnh lễ cúng dường Thập phương Chư Phật, vô lượng Bồ Tát Thánh Hiền, Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp Tôn Thần, Già Lam Thánh Chúng, thùy từ lân mẫn, chứng minh gia hộ: 
 
Pháp âm phổ chiếu, Phật pháp thân truyền, thiền môn nghiêm tịnh, hải Chúng an hòa, bách gia hộ Đạo, trăm họ quy y, phước duyên tăng trưởng, hạnh nguyện viên dung.
 
Ngưỡng nguyện, thượng chúc: Phật nhựt tăng huy, Pháp luân thường chuyển, phong điều vũ thuận, Quốc thái Dân an.
 
Phổ nguyện:
Chư Thiện nam Tín nữ Phật tử, bá gia bá tánh, thân tâm thường lạc, tứ đại điều hòa, gia đình hưng thạnh, bửu quyến đoàn viên, sao xấu sao khắc tiêu trừ, đại hạn tiểu hạn tiêu vong, Bồ Đề tâm tăng trưởng, Đạo nghiệp viên thành.
 
Âm siêu dương thới, pháp giới chúng sinh, tình dữ vô tình, giai cộng thành Phật Đạo. 
 
Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo.
 
 
TÁN PHẬT
Ðấng Pháp Vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận.
 
Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví Đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin đảnh lễ quy y.

ĐẢNH LỄ
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam Bảo. (1 lạy)
 
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Ðiều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ðương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)
 
Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Ðà Phật, Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)

TÁN LƯ HƯƠNG
Lư hương vừa nhóm Chiên đàn
Khắp xông pháp giới muôn ngàn cõi xa
Lòng con kính ngưỡng thiết tha
Ngưỡng mong Chư Phật thương mà chứng minh.
 
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)

CHÚ ĐẠI BI
Nam Mô Đại  Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
 
Thiên thủ, thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.
Nam mô hắc ra, đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bát ra da, Bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
 
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông, a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đá sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.
 
Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, đồ lô đồ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô rô hô rô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha, Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha, Ta bà ma ha, a tất đà dạ, Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
 
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ gia. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bàn ra da dạ ta bà ha.
 
Án tất điện đô mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)

NIỆM DANH HIỆU PHẬT
Đại Từ Đại Bi thương chúng sinh
Đại Hỷ Đại Xả cứu muôn loài
Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm
Đệ tử chí tâm quy mạng lễ.
 
Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo (3 lần)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (3 lần)
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
 
Sám Hội Cầu An Đầu Năm
Đầu năm Cúng Hội Cầu An
Nguyện cho Quốc thái Dân an mọi nhà
Nhân sinh yên ổn hoan ca
Xã hội tốt đẹp kết hoa tình người
Đi đâu cũng thấy vui tươi
Đến đâu cũng thấy nụ cười hỷ hoan
Hòa trong năm mới điểm son
Hoa khoe sắc thắm lá non đơm chồi
Làm lành phước đức lên ngôi
Lánh dữ nghiệp ác xa rời trần lao
Tu tập hướng thượng vươn cao
Sống đời phụng sự biết bao thanh nhàn
Nguyện cầu năm mới bình an
Mười phương Chư Phật ban ân độ trì
Nhiệm mầu giáo pháp từ bi
Đạo Vàng tỏa rạng đường đi nẻo về
Khơi nguồn mạng mạch Tào Khê
Chảy vào nhân thế đề huề muôn nơi
Dong thuyền Bát Nhã ra khơi
Cứu nhân độ thế chơi vơi đọa đày
Biết cầm đuốc tuệ trên tay
Soi đường chỉ lối đêm ngày mà đi
Đèn tâm tuyệt diệu vô nghì
Đâu còn lặn hụp sầu bi khổ nàn
Tâm an thế giới được an
Tâm bình nhân thế reo vang Đạo Mầu
Xiển dương Pháp Phật thẩm sâu
Rộng ra bốn biển năm châu hành trì
Thấm nhuần đạo lý huyền vi
Mang tâm nguyện lực từ bi cứu đời
Trần sa phiền trược buông trôi
Khổ đau hệ lụy hết rồi thở than
Người người thân thiện bình an
Nhà nhà vui sống nhẹ nhàng thảnh thơi
Trẻ em khôn lớn vui chơi
Người lớn bớt khổ tuổi đời thêm cao
Không còn ưu não trăng sao
Năm xấu tháng hạn đi vào chỗ không
Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông
Mùa nào cũng tốt đẹp trong bốn mùa
Ưu Đàm bát ngát thơm hoa
Tặng cho pháp giới Bửu Tòa Diệu Liên
Hồi hướng khắp chốn mọi miền
Tân Xuân Vạn Hạnh an nhiên thời thời
Cam lồ thắm gội nơi nơi
Đạo Thiêng vĩnh trụ muôn đời Lạc Bang.
 
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ÐA TÂM KINH
Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề Tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha. (3 lần) 
 
TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG THẦN CHÚ
Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẫm, a bát ra để hạ đa xá, ta nẵng nẫm, đát điệt tha, án khư khư, khư hê khư hê, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắt sá để sắt sá, sắt trí rị, sắt trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca, thất dị duệ, ta phạ ha. (3 lần)
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Từ Bi thường gia hộ

Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Tam Bảo thường gia hộ

Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Hộ Pháp thường ủng hộ.
Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát. (3 lần)
 
HỒI HƯỚNG
Cúng Hội Cầu An công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện Pháp giới chư chúng sinh
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ Tát đạo
Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ trung
Cửu phẩm Liên hoa vi Phụ Mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sinh
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhứt thiết
Ngã đẳng dữ chúng sinh
Giai cộng thành Phật Đạo.

PHỤC NGUYỆN
Đầu năm mới đến, nghinh tiếp Tân Xuân, đệ tử chúng con một dạ chí thành, thiết lễ Cúng Hội Cầu An Năm Mới. Ngưỡng nguyện mười phương Chư Phật, Chư Bồ Tát Thánh Hiền, minh chứng hộ trì:  
 
Cửa thiền thường nghiêm tịnh, tứ Chúng mãi thuận hòa, Phật huệ chiếu sáng ngời, mưa Pháp nhuần thắm gội, Phật tử lòng tin sâu, ruộng phước càng tăng trưởng. Chúng sinh sống an lạc, vui hưởng cảnh thái bình, phước huệ trang nghiêm, phúc thọ tăng long, sở nguyện tùy tâm, kiết tường như ý.
 
Phổ nguyện: gia đình hưng thạnh, quyến thuộc đoàn viên, hộ trì Tam Bảo cửu trụ vô biên, năm châu an định, bốn biển thanh bình, pháp giới nhơn thiên, tề thành Phật Đạo.
 
TAM TỰ QUY
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo Đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lạy)
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lạy)
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)

Tối hôm nay,ngày 16 tháng 11 năm Ất Mùi - 2015, tại chùa Hoa Khai, xã Đạo Nghĩa, huyện Đăk R'lấp, tỉnh Đăk Nông, đã long trọng tổ chức đêm hoa đăng vía đức Phật A Di Đà.

Buổi lễ lung linh sắc màu rất chân quê của Đạo Nghĩa năm nay thêm phần ý nghĩa và  trang trọng là nhờ sự chứng minh của chư tôn thiền đức trong tỉnh nhà; chính quyền các cấp địa phương, sự góp mặt của anh chị em ca nghệ sĩ cùng đông đảo bà con Phật tử xa gần.

Có thể nói, đêm nay, dưới ánh trăng rằm, bao tâm hồn, bao con tim, bao giọng ca trầm ấm đã thể hiện tâm thành của người con Phật hướng về đức Phật A Di Đà nhân ngày vía của Ngài.

Xin thành kính đốt nén tâm hương, chấp đôi hoa sen, cầu nguyện sự bình yên và hạnh phúc đến cho quê hương và đất nước. Xin giới thiệu clip ngắn tại khu vực tôn trí Đức Phật Di Đà tại chùa Hoa Khai.

Clip do Nguyên Điền thực hiện



 VLCĐ: Pháp khí là những dụng cụ dùng để thực hành các loại pháp sự, để dâng cúng lên chư Phật hoặc các đạo tràng nghiêm trang, hoặc làm dụng cụ trợ ích trong tu tập.Sinh hoạt trong đạo Phật có rất nhiều pháp khí như: Chuông, trống, bảng, khánh, tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v… mỗi thứ đều có một công dụng và ý nghĩa khác nhau.

I/ Những pháp khí thông thường:
1/ CHUÔNG:Theo kinh Tăng A Hàm, quyển 24 Ðức Phật bảo ngài A Nan: “hãy đánh chuông lên để tập họp chúng, nhân ngày rằm tháng 7”. Vậy chuông là một pháp khí để tập họp Tăng Chúng và thức tỉnh Chúng Sinh đã có từ thời Phật tại thế.

Ở Trung Quốc, chuông đã được xử dụng tại các tự viện từ đời nhà Chu (557 trước tây lịch), nhà Tùy (609) “Tục Cao Tăng Truyện: ngài Trí Hưng nhận lo việc chuông tại chùa Thiền Ðịnh ở kinh đô Trường An”. Thế kỷ thứ VI, Hòa Thượng Chí Công khởi xướng, vua Lương Vũ Ðế thực hiện “Hồng chung” cầu nguyện cho các thần thức bị đọa trong chốn U Minh (địa ngục).

Phật Giáo Việt Nam từ trước đến nay thường xử dụng 3 loại chuông:

A- Hồng Chung: Cũng còn gọi là Phạn chung, Hoa chung, Cự chung, Ðại chung. Chuông này được đúc bằng đồng xanh pha ít sắt. Thông thường chuông cao khoảng 1.50m, đường kính khoảng 6 tấc. Loại này treo trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêu tập đại chúng hoặc báo thời sớm tối. Người Việt Nam thường dùng từ “Ðại hồng chung” chỉ cho loại chuông thật lớn, gần như không còn có quy định, có nơi được tính theo tiếng ngân dài của chuông. Như ở Huế: đánh chuông lên, dùng hai tay dăng ra và gập lại vào ngực gọi là một “sải”, làm như vậy cho đến khi tiếng ngân của chuông chấm dứt, được bao nhiêu lần là chuông lớn bấy nhiêu “sải”.

Ðại hồng chung:1- dùng công phu khuya sớm. Người thỉnh chung: tay đánh chuông, miệng đọc bài kệ: Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới Thiết vi u ám tất giai văn. Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác. (Hòa thượng Thích Trí Quang dịch: Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới, Thiết vi u ám cũng nghe được. Căn cảnh thanh tịnh chứng viên thông, Hết thảy chúng sanh thành chánh giác). 2- chuông trống Bát Nhã (đánh theo bài kệ ở sau). 3- và trong các đại trai đàn chẩn tế, thường gọi là Chuông U Minh.

B-Chuông báo chúng: Cũng còn gọi là Hoán chung, Tiểu chung, Bán chung, kích thước bằng ½, hình dáng giống như Hồng Chung, thường để một góc trong chánh điện, được treo trên giá và di chuyển dễ dàng, để báo hiệu cho quý vị Tăng Chúng biết sắp đến giờ hành lễ và xử dụng trong các buổi pháp hội. Về sau kích thước cũng tùy nghi không hạn định. Về việc thỉnh chung cũng tùy theo địa phương và tông phái, nhưng chung quy cũng biểu thị sự thanh lọc căn trần, vơi đi phiền não, hướng về giải thoát.

A-    Chuông gia trì: Là loại chuông xử dụng chung với mõ để tụng kinh, hành lễ hằng ngày trước bàn Phật. Hình dáng như ½ quả cầu hay một cái tô để ngửa. Việc thỉnh chung:(xem bài khai chuông mõ).

2/ TRỐNG: Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng .v.v . xưa tại Ấn độ, dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp Tăng chúng, Bồ tát nghe pháp . . .Ngũ Phần Luật có ghi “Chư Tỳ Kheo Bồ Tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chùy, nhược đả cổ . . .”Trung Quốc ngày xưa dùng nó trong các lễ lộc, vũ hội. Loại hình có lớn, nhỏ, treo hoặc để trên giá. Lớn gọi là “trống tẩu”, nhỏ gọi là “trống ứng”, treo để đánh gọi là “trống treo”.Từ đời nhà Ðường, theo thanh quy thiền môn, trống chỉ là loại pháp khí làm hiệu lệnh để báo thời sớm tối. Về sau Phật Giáo Trung Quốc phối hợp nhịp điệu, âm thanh của trống hoà cùng lời tán tụng phổ thành nhạc điệu gọi là “kỹ nhạc cúng dường, trang nghiêm đạo tràng”. Thời Ðường Hiến Tông năm 820, chuông trống đã được xử dụng rộng rãi trong nghi lễ Phật Giáo (Căn cứ theo bản dịch bài Thiền sư Ðại điên và Hàn Dũ). Việt Nam, trong các chùa thuộc tông phái Ðại Thừa cũng xử dụng trống vào nghi lễ gần giống như Trung Quốc, nhưng âm hưởng, sắc thái thuần túy dân tộc Việt Nam. Có nhiều loại trống, nghi lễ Phật Giáo thường xử dụng hai loại phổ thông:

A-    Trống lớn (Ðại cổ): 1- Ðánh chuông trống Bát Nhã: a-Khai: Nhập cùng với chung, bảng (nếu có); Cách đánh trong CD khai kinh Huế: -3 hồi chuông gia trì (gt).- Mộc bảng(M), trống(T)- M T- MT- MTMT- MT-M ( 7M và 6T )- cgt, M, T- HồngCh, cgt, cgt, M, T- HồngCh, cgt, M, T- xxxx (gõ vành), T- xxxx (gõ vành), T  ttttttttt(trống luôn). Hoặc đánh- nhập hai tiếng (nhị đế dung thông). -3 tiếng tiếp (mỗi lần một tiếng): Quy y Tam Bảo, dứt tam độc (tham, sân, si) -7 tiếng. (Thường gọi chung là một hồi luôn).

b-Bài kệ:    Bát Nhã hội (3 lần) Thỉnh Phật thượng đường Ðại chúng đồng văn Bát Nhã âm Phổ nguyện pháp giới Chúng hữu tình Nhập bát Nhã Ba La Mật Môn (5 lần, 10 lần) Bài kệ được Ðệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và quí Hòa Thượng đồng thời xác tín, chứng minh. c-Ðánh dứt 4 tiếng (chứng nhập Tứ Ðế): xxxx C-T    xxxx C-TT    xxxx C-T    C 2- Ðánh trống thỉnh Phật, Tổ, Thần (Ðả cổ thông tam giới…) 3- Ðánh trống rước Phật, Xá Lợi, Thần sắc. B- Trống nhỏ (trống kinh): Ðánh trong lúc tán, tụng kinh…;mới trông qua giống cái trống Cơm, nhưng hơi khác : tiếng dòn và trong hơn, cái đùi đánh trống gọi là roi trống

3/ MÕ: Theo sách Tam Tài Ðô Hội của Vương Tích đời Ðường có đoạn: “Mõ là loại mà dùng cây khắc thành hình con cá, rỗng bên trong, gõ nó sẽ phát ra tiếng, các hàng Phật tử khi tán tụng đều dùng đến nó”. Mõ có hai loại: A-    Loại dài hình con cá dựng đứng hoặc treo ở các nhà kho, dùng để báo hiệu giờ ăn cơm, tập họp, phổ thỉnh Tăng chúng tại các chùa ngày xưa (sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, chương pháp khí).Loại mõ dài còn thấy xử dụng tại một số đình làng ở miền Trung, Việt Nam để triệu tập dân làng khi cần. (Hiện thấy tại đình làng Dương Nổ, sau năm 1975). B- Loại hình tròn như vảy cá, trên mõ có khắc chạm hình con cá; dùng để gõ nhịp lúc tụng kinh. Loại này được nói là xuất hiện vào triều đại nhà Minh (Trung Hoa). Theo sách Tham thiền Ngũ Ðài Sơn ký (quyển 3) Tống Thần Tông, Hy Ninh năm thứ 5 ngày 8 tháng 8 ghi: Trong chùa Thanh Thái có thờ tượng Ngài Phó Ðại Sĩ. Mỗi khi ngài muốn gặp các vị tu hạnh Ðầu Ðà nơi cao sơn chỉ gõ mõ, chư vị sau khi nghe mõ ấy liền đến. Sau đó các tự viện dưới chân núi đều dùng mõ để tập họp đại chúng. Sách Tăng Tu Giáo Uyển Thanh Quy (quyển 3) phần pháp khí, có ghi lại truyền thuyết rằng: “có một vị Tăng do phản thầy, huỷ pháp nên bị đọa làm thần cá, trên lưng con cá ấy lại mọc mấy cái cây, mỗi khi sóng to gió lớn, khiến thân ra máu, thật thống khổ vô cùng. Một lần nọ, vị Thầy Bổn Sư qua biển, nhân đó nó muốn đòi nợ, liền nói rằng: Thầy không dạy bảo nó, nên nó mới phải bị đọa làm thần cá như thế này, do đó nay nó muốn báo oán. Thế rồi, vị thầy ấy bảo cá nên ăn năn sám hối, Thầy ấy cũng vì con cá mà cầu siêu, chú nguyện và ngay đêm đó nó được hóa kiếp. Vị Thầy Bổn Sư liền đem cây ấy đẽo thành hình con cá và treo lên để cảnh tỉnh đại chúng”. Ðó là một lẽ mõ mang hình cá. Trong Sắc Tu Thanh Quy, chương Pháp Khí nói: “tương truyền cá là loại thức tỉnh  suốt ngày đêm, nên khắc hình con cá mà gõ để thức tỉnh những kẻ hôn trầm lười nhác”. Sách Gia Ngôn nói rằng: “có một người taị gia hỏi một vị Trưởng Lão Thiên Trúc rằng: “Tăng xá đều treo mõ cá là nghĩa làm sao?”. Ðáp: “dùng để cảnh tỉnh đại chúng”. Người tại gia đó lại hỏi: “nhưng vì sao lại cứ phải khắc thành hình con cá?”. Vị Trưởng Lão đó không giải đáp được bèn đến hỏi Sư Ngộ Biện. Sư đáp: “cá đêm ngày không hề nhắm mắt, đó cũng là muốn người tu hành quên ngủ để đến với đạo”.

4/ LINH: Linh là một pháp khí làm bằng đồng  thau hay đồng đỏ, dùng để gõ hoặc rung lên khi tụng kinh trước Phật đài. Linh có hai loại: A-    Hình giống như cái bát. Mật tông gọi là Bát Vàng, là loại Thiền tông xử dụng sớm nhất B-    Hình giống như cái chuông nhỏ, bên trong có buộc một viên đồng, có cán có lưỡi, rung lên thì kêu vang. Cán của nó hình từ 1 đến 5 vòng gọi là Linh Chử. Là một loại pháp khí thường xữ dụng để chấn khai địa ngục trong trai đàn chẩn tế và giữ nhịp trường canh trong các buổi tụng kinh. Loại này có tên là Kim Cương Linh. Khi xử dụng có hai cái: một âm và một dương.

5/ KHÁNH DẪN: Hình tròn như cái chén nhỏ, có cán để cầm và dùi để đánh. Thường dùng để thỉnh sư, dẫn chúng niệm Phật kinh hành và giữ nhịp trường canh lúc mới bắt đầu làm lễ.

6/ TANG: Là một pháp khí làm bằng đồng thau, hình tròn, nhỏ bằng cái chén ăn cơm, sâu khoảng 1.50 cm đến 2 cm; phỏng theo hình dáng cái phèn la, buộc thòng vào một vành tròn có cán để cầm bằng 3 sợi dây ở 3 góc đều nhau, dùng một cái dùi bằng tre uốn cong 90 độ để đánh lên khi tán tụng, tang  thường thấy xử dụng ở miền trung Việt Nam (Huế).

7/ ÐẨU: Hình thể hoàn toàn giống như Tang, nhưng không có cán cầm, mà chỉ nắm trong lòng bàn tay, cái dùi để đánh hình dáng như một chiếc đũa. Thường xử dụng 2 cái: một âm (trầm), một dương (bổng). Loại này thường thấy ở các tỉnh phía nam Trung phần (Bình Ðịnh trở vào) và Nam phần Việt Nam.

8/ PHÁP LOA: Thường goị là Tù Và làm bằng loại vỏ ốc lớn, phiên âm từ tiếng Phạn là Thương Khu dịch nghĩa là Kha Bối (vỏ con Kha nói tắt của chữ Sankha) tức là vỏ ốc, vỏ sò. Tiếng thổi vào vỏ ốc vang đi rất xa, lấy đó để ví với tiếng thuyết pháp của Ðức Phật vang xa bao trùm khắp đại chúng, tiếng thổi vỏ ốc nghe mạnh mẽ, biểu hiệu sự hùng mạnh của đại pháp. Thế tục dùng vỏ ốc thổi làm hiệu lệnh ba quân, cũng ví như lời thuyết pháp của Ðức Phật có sức mạnh hàng phục ma quỷ. Còn như nghi thức thổi vỏ ốc trong Phật sự; Theo Mật Tông giải thích: vỏ ốc có hình Tam Muội Da cuả Ðức Vô Lượng Âm Phật Ðỉnh Tôn là chẩn mực pháp âm của Ðức Phật, nghe tiếng thổi vào vỏ ốc thì Thiên Thần, Chư Thiên đều hoan hỉ mà hưởng ứng, người thế tục nghe tiếng ốc thì diệt trừ được các tội chướng. Do đó trong hình Ðức Phật Quan Âm nghìn cánh tay, có một tay cầm Pháp Loa. Tại các chùa ở Huế-Việt Nam thấy còn xử dụng Pháp Loa (Tù Và: vỏ ốc) vào các tang lễ của quý vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Trú Trì… Phật giáo Tây Tạng thường dùng Pháp Loa khi hành lễ.

9/ KHÁNH: Khánh làm bằng đá, có giá hoặc dây treo, dùng để báo hiệu lệnh trong chuà, hiện tại vẫn còn xử dụng tại các chùa ở Việt Nam.

10/ MỘC BẢN: Làm bằng một miếng gỗ, dùng dùi đánh phát ra tiếng để thông báo giờ giấc. Thường treo ở phòng ăn của các chùa

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 01- voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 03- voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 05- voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 06- voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 08- voluongcongduc.com

II/ Pháp khí dành riêng cho Chủ Sám và Chứng Minh.

1/ THỦ XÍCH: Là một thanh gỗ hình khối chữ nhật, kích thước vừa nằm dưới ba ngón tay giữa của lòng bàn tay. Trên lưng Thủ Xích có khắc 3 chữ “Án, Dạ, Hồng” theo tự dạng Pali, dùng để vỗ xuống bàn kinh, thành một hiệu lệnh cho đạo tràng.

2/ THỦ LƯ: Là một cái lư hương có cán để cầm tay, tiếng đời nhà Ðường gọi là Thủ Lô. Thích Thị Yếu Lâm quyển trung ghi: “sách Pháp Uyển: Thiên Nhân Hoàng  Quỳnh nói về lư hương của Ðức Phật Ca Diếp đại để như sau: Phía trước có 16 con sư tử và voi trắng, trên đầu hai loại thú đó nổi lên hai đài sen làm lư. Phía sau có sư tử ngồi, trên đỉnh có 9 con rồng quấn nâng hoa vàng, hoa đó để làm lư. Trong có Kim Ðài Bảo Tử để đựng hương lúc Phật thuyết pháp thường cầm lư này.So sánh xem xét cách chế tác Thủ Lư đời nay cũng có phần mô phỏng theo  phép đó. Trong nghi lễ Phật Giáo Việt Nam, Thủ Lư thường thấy xử dụng trong trai đàn chẩn tế.

3/ TÍCH TRƯỢNG: Tích Trượng là một trong 18 món đồ vật của Nhà Sư, còn được mang nhiều tên khác nhau như: Thanh Trượng, Minh Trượng, Trí Trượng, Ðức Trượng…là một cây gậy, ở đầu gậy có những vòng thiếc, khi rung phát ra tiếng. Hiển Giáo dùng gậy khi khất thực và đuổi trùng thú. Tì Nại Da Tạp Sự quyển 34 noí: “Bật Sô đi khất thực vào nhà ai, bèn lên tiếng gọi báo cho biết và nắm tay gõ vào cửa, người nhà lấy làm lạ hỏi: “Tại sao lại gõ cửa nhà tôi?” Nhà Sư im lặng chẳng nói. Ðức Phật bảo: “Ðừng gõ cửa, mà nên làm cây gậy Tích Trượng”; Nhà Sư không hiểu, Ðức Phật nói: “Ở đầu cây gậy có gắn những vòng nhỏ bằng cái chén, khi rung gậy thì phát ra âm thanh để báo cho biết”. Khi đến nhà nào không có lòng tin, rung mãi cây Tích Trượng đến phát mệt, mà nhà ấy không ai ra hỏi, thì Ðức Phật bảo: “Không nên rung lâu cây Tích Trượng, chỉ nên rung 2 hay 3 lần mà thôi, nếu không có người ra hỏi, thì nên đi nơi khác”.Cách làm gậy thì y theo Tích Trượng Kinh. Tích Trượng của Ðức Phật Ca Diếp có 2 gọng và 12 vòng tượng trưng cho 2 đế thứ nhất và thứ hai là Thế Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên.Tích Trượng của Ðức Phật Thích Ca có 4 gọng và 12 vòng tượng trưng cho Tứ Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên. Mật Giáo thì cho đó là cây Thập Pháp Giới do 5 Ðại tạo thành, là Tam Muội Da của Ðức Ðịa Tạng, Quan Âm, nên có 6 vòng tượng trưng cho 6 Ðại. Trên đầu gậy có 5 bánh xe hình tròn tượng trưng cho Bảo Tháp. Phật Giáo Việt Nam thấy xử dụng Tích Trượng trong các lễ: Giải Oan Bạt Ðộ, Tang  Lễ theo ý nghĩa của Mật Giáo.

4/ MŨ TỲ LƯ: Ngày rằm tháng 7, mở hội Vu Lan Bồn, Vị Tăng Thủ Tọa đứng làm Ðức Phật Tỳ Lư, tụng kinh Thí Thực, trên đầu đội mũ có tượng Phật Tỳ Lư nên gọi là mũ Tỳ Lư. Tỳ Lư là tên gọi tắt của Tỳ Lư Giá Na, tên chung của Pháp Thân Phật, tức là Ðức Ðại Nhật Như Lai của Mật Giáo. Phật Giáo Việt Nam, Mũ này các vị Gia Trì Sư thường đội trong Tang lễ hoặc Trai Ðàn Chẩn Tế.

5/ MŨ HIỆP CHƯỞNG: Mũ này giống như hai bàn tay úp lại nên gọi là Hiệp Chưởng, chỉ riêng Phật Giáo Việt Nam mới có, do các vua triều Nguyễn chế ra để tặng cho các vị Tăng cang đội khi vào triều. Sau được dùng phổ cập, các vị Chủ Sám thường đội trong các pháp hội trai đàn.

6/ MŨ QUAN ÂM: Mũ này may theo hình chóp, phủ xuống vai, ngang qua giữa lưng, thường các Ngài Chứng Minh đội trong các lễ đàn .
 

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 10 - voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 11 - voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 12 - voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 13 - voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 14 - voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 15 - voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 16 - voluongcongduc.com

Phap-khi-xu-dung-trong-nghi-le-Phat-giao 17 - voluongcongduc.com



Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.