Latest Post

VLCĐ: Bắt đầu từ tháng 6/2010, sau khi nắm được những thông tin ban đầu, chúng tôi đã thực hiện nhiều cuộc điền dã tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn. Với mục đích tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của Đạo Phật trong phạm vi toàn tỉnh Đắk Lắk, vì vậy nội dung nghiên cứu chính là tìm hiểu dấu ấn Đạo Phật trên Tây nguyên nói chung, Buôn Đôn - Đăk Lăk nói riêng.

 

1. Đặt vấn đề

Đạo Phật du nhập vào nước ta khá rất sớm, từ thời vua Hùng Vương thứ 3. Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận và Lê Mạnh Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam và các giới nghiên cứu hầu hết đều đồng ý rằng Phật giáo du nhập vào nước ta qua hai con đường Hồ Tiêu theo đường biển và Đồng Cỏ theo đường bộ.

Thời Khương Tăng Hội, (thế kỷ II STL), Phật giáo đã phát triển mạnh đến các làng xã. Văn hóa Phật giáo ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của nhiều dân tộc trên đất nước ta. Nhiều ngôi chùa đã trở thành di tích lịch sử, công trình kiến trúc nghệ thuật, góp phần không nhỏ vào việc hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam.

Tây Nguyên là vùng đất có vai trò và vị trí kinh tế, xã hội, chính trị hết sức quan trọng, có những nét đặc thù về địa lý, lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, con người. Theo Henri Maitre viết trong tác phẩm Les Jungles Moi (Viện Viễn đông Bác cổ Pháp (Hà Nội), NXB Tri thức, 2008), thì thời kỳ từ thế kỷ XVIII – XIX Tây Nguyên đã xảy ra nhiều biến động chính trị lớn làm đảo lộn nhiều quốc gia, những cuộc chiến tranh lớn đã nổ ra làm thay đổi xã hội của các dân tộc vùng này. Nhiều nhà thám hiểm người Pháp, trong những ghi chép của mình đã gọi “vùng đất này là nơi không ai cai quản”

Tại bản đồ Ban Mé Thuột 1905 và 1918 của Henri Maitre có giới thiệu một Pagode (ngôi chùa) ở ngay trung tâm lỵ sở của tỉnh Đắk Lắk, có lẽ sớm nhất ở khu vực Đông Dương phải kể tới tộc người Lào – Thái và người Khmer đã tiếp nhận Đạo Phật từ Ấn Độ truyền qua. Điều này được tác giả Trương Bi, viết về Văn hóa Lào và dấu tích tín ngưỡng Phật giáo ở Buôn Đôn đưng trên website http://baodaklak.vn ngoài ra có một số tác giả viết về Phật giáo từ năm 1951 đến nay. Nghiên cứu về Phật giáo ở Đắk Lắk trước 1951 chưa có ai đề cập đến.


Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
Với mục đích tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của Đạo Phật trong phạm vi toàn tỉnh Đắk Lắk, vì vậy nội dung nghiên cứu chính là tìm hiểu dấu ấn Đạo Phật trên Tây nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng.

Để thực hiện nội dung này, các vấn đề cần giải quyết là:

Điền dã tại nơi cư trú của người Lào, phỏng vấn, thu thập thông tin về sự di cư của người Lào từ Pắc Xế đến vùng đất Buôn Đôn và sự có mặt của ngôi thảo am và nhà sư trụ trì, ghi nhận về đời sống Phật giáo của người Lào nơi đây,…

Giám định cây Bồ đề, một loại cây luôn gắn bó với các ngôi chùa thờ Phật để xác định tuổi của cây, trên cơ sở đó đoán định năm Phật giáo du nhập vào cao nguyên.

Tiến hành giám định niên đại tượng Phật được thờ tại ngôi thảo am trước đây.

Song song với việc nghiên cứu các dấu tích của Đạo Phật trong cộng đồng người Lào tại khu vực Buôn Đôn, chúng tôi cũng bước đầu tìm hiểu qua các tư liệu lịch sử về cội nguồn và hành trình lịch sử của tộc người này trên vùng đất tỉnh Đắk Lắk ngày nay. Tiến hành tìm kiếm và thu thập các tư liệu có liên quan về địa lý, lịch sử, con người và văn hóa trên vùng đất Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng, nhằm bổ sung tư liệu và làm phong phú thêm cho đề tài nghiên cứu của mình. Những tư liệu này có thể đóng góp thêm nhận thức mới về quá trình hình thành và phát triển đầy biến động của lịch sử vùng đất này.

+ Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận chính là dựa vào cộng đồng để thu thập tư liệu điều tra.
- Ngoài ra, để nghiên cứu đặc điểm văn hóa, xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, cách tiếp cận xã hội học và dân tộc học cũng sẽ được sử dụng.
- Sử dụng các phương pháp điền dã, thu thập các tư liệu có liên quan thông qua các nhân chứng, vật chứng, sử dụng kết quả giám định khoa học của cơ quan chức năng.
- Tìm kiếm các tài liệu lịch sử, các công trình khảo cứu, địa chí cả trong và ngoài nước có liên quan, sau đó chọn lọc phân tích, tổng hợp những thông tin cần thiết cho đề tài.

3. Kết quả và thảo luận
Bắt đầu từ tháng 6/2010, sau khi nắm được những thông tin ban đầu, chúng tôi đã thực hiện nhiều cuộc điền dã tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn. Chúng tôi đã gặp được một số người Lào theo đạo Phật và đồng bào dân tộc tại đây, qua tiếp xúc chúng tôi được họ chỉ cho thấy dấu tích của một ngôi chùa cổ. Ngôi chùa nay không còn, nhưng vẫn còn lại một số dấu tích rất đáng lưu ý; nhất là trong khuôn viên của ngôi chùa xưa kia hiện nay còn lại một cây bồ đề cổ thụ rất lớn. Cây bồ đề cổ thụ này hiện nằm trong sân của nhà Văn hóa Cộng Đồng buôn Yang Lành, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk (bên cạnh dòng sông Sêrêpôk), và một tượng Phật đang thờ tại nhà dân tại Buôn Trí, xã Krông Na. Chúng tôi xin được tóm lược một số nội dung chính của đề tài như sau:

Dấu tích của ngôi chùa cổ: 
Vào những thập niên cuối của thế kỷ thứ 19, có một người đàn ông người Lào tên là Luông Sỹ đã từ miền Nam nước Lào đến đây buôn bán và định cư ở đây; sau đó theo chân ông có rất nhiều người Lào đã từ Pắc Xế, xuôi theo dòng sông Mê Kông đến đây định cư lập nghiệp. Ông Luông Sĩ đã thành lập nên Buôn Jang Lành này và là chủ làng đầu tiên. Một thời gian sau có một tu sĩ người Lào đến đây truyền đạo, ông đã lập một am nhỏ và sinh sống tại đây. Am thờ Phật được làm bằng gỗ, kiến trúc theo kiểu nhà sàn, dài 3m, rộng 2 m, cao 3 m, sàn cao 1,5 m, do bà con buôn Yang Lành đóng góp công sức dựng lên, dân trong buôn lui tới hương khói, cầu nguyện, trong am thờ rất nhiều tượng Phật.

Dấu tích cây Bồ đề: Hằng năm nhà sư thường trở về Lào vài tháng rồi trở lại;  Trong một dịp từ Lào sang, ông có mang theo một cây bồ đề và trồng tại đây. Cây Bồ đề hiện nay đã cao lớn, đường kính gốc 2,7 m, cao 29 m, tán lá rộng 17 m.


Dấu tích tượng Phật:
 
Một người dân trong Buôn tên là Di Tài, ông là người Lào gốc Tàu, bố người Tàu, mẹ người Lào. Chét Tài là thương nhân có tín ngưỡng Phật giáo nên thường chăm sóc hương khói cho ngôi thảo am khi các nhà sư trở về nước Lào. Vào những năm 60 thế kỷ trước, am bị hư đổ, một số tượng Phật bị mất cắp, một tượng được ông Nay Ly Lào là một người dân trong buôn đặt thờ ở hốc cây Bồ Đề, lâu ngày cây phát triển đã chôn trọn tượng Phật trong ấy. Hiện nay còn một tượng được người con rể của ông Di Tài là Bun My mang về thờ tại nhà riêng ở Buôn Trí; hiện nay bức tượng vẫn còn giữ được nguyên vẹn.

Dấu tích thác Phật (Peo Phă): Thác Phật cách Trụ sở Ban quản lý Vườn Quốc gia Yok Đôn khoảng 8 km về phía Tây. Thác Phật được hình thành từ một nhánh của dòng sông Sêrêpôk, các nhà Sư người Lào thường ngược dòng sông Sêrêpôk qua lại khu vực này để truyền Đạo. Khi đến đây vào mùa mưa nước lớn, gặp ghềnh thác nước chảy xiếc, thuyền khó đi qua được, họ dừng chân lại nghỉ, làm lán trại bên bờ sông cạnh thác nước trong một thời gian để làm bè vượt thác. Các nhà Sư trong lúc chờ đợi thường ngồi tham thiền, tụng niệm và tiếp xúc với một số cư dân người Lào trong vùng.
(Phóng sự theo chân người đi tìm dấu ấn Phật giáo …)

Đặc biệt là lễ hội Lễ hội Bunpimay:
Là tết cổ truyền của người Lào (mừng năm mới), hay còn gọi là Tết té nước. Trong dịp này, người dân té nước để cầu may, bình yên cho cả năm. Theo truyền thống, đây là Tết theo Phật lịch vì ở Lào đạo Phật từ lâu đã trở thành quốc đạo. Lễ hội Bunpimay mang ý nghĩa đem lại sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc thanh khiết hóa cuộc sống của con người. Hằng năm, tại đảo Sê nô nằm trên địa bàn buôn Trí A, xã Krông Na (Buôn Đôn), nơi có đông người Lào đang sinh sống, Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Ủy ban MTTQ huyện Buôn Đôn, Đảng ủy, UBND, Ủy ban MTTQ xã Krông Na và Trung tâm Du lịch Buôn Đôn đã tổ chức Lễ hội Bunpimay, Hội té nước mừng năm mới cho cộng đồng các dân tộc đang sinh sống tại đây. Lễ hội Bunpimay của người Lào tại xã Krông Ana huyện Buôn Đôn là sự giao thoa văn hóa tạo nên nét đặc sắc cho bức tranh văn hóa đa sắc tộc trên mảnh đất cao nguyên Đắk Lắk, là dịp để nuôi dưỡng và hun đúc nghệ thuật dân tộc Lào có từ ngàn năm nay, thể hiện truyền thống hữu nghị, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.Đêr bảo đảm tính chính xác thời gian đạo Phật có mặt tại Buôn Đôn, khi vết tích ngôi chùa cổ không còn thì việc giám định tuổi của cây Bồ đề là cần thiết. Vì thời điểm trồng cây Bồ đề cũng chính là khoảng thời gian tồn tại của ngôi chùa và các sinh hoạt Phật giáo. Đồng thời cũng được kiểm chứng và so sánh với các tài liệu khoa học lịch sử về vùng đất Tây Nguyên mà người Pháp để lại. Chúng tôi cũng tham khảo các tư liệu của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn có liên quan đến vùng đất này.

Vào trung tuần tháng 11 năm 2013, được sự giúp đỡ của các nhà khoa học bộ môn Quản lý rừng và Môi trường - Trường Đại học Tây Nguyên, chúng tôi đã mời các chuyên viên giám định do Phó giáo sư Tiến sĩ Bảo Huy – trưởng bộ Môn Quản lý rừng và Môi trường của Trường Đại học Tây Nguyên làm trưởng đoàn, với đầy đủ các phương tiện khoa học để xác định tuổi của cây Bồ đề bằng phương pháp khoan xác định tuổi cây: Khoan sinh trưởng của Pressler.

Kết quả như sau: Cây Bồ đề này có tên khoa học là Ficus religiosa L, thuộc họ thực vật Dâu Tằm – Moraceae, bộ thực vật Gai – Urticales, lớp Ngọc Lan – Magnoliopsida, ngành thực vật Ngọc Lan – Magnoliophyta. Cây có đường kính 271,9 cm, chiều cao 28,8 m, bán kính tán lá trung bình 13,5 m, có 9 thân, rễ phụ ít, tán lá rộng tròn đều theo các hướng. Cây có độ tuổi trung bình là 115 năm, cao nhất là 131 năm, thấp nhất là 99 năm. Cây bồ đề này thuộc giống đa bồ đề được mang từ Ấn Độ vào trồng ở Việt Nam, hoặc có thể là qua một nước trung gian nào đó (ở đây là Lào), tuổi của cây được khẳng định là khoảng 115 năm.

Như vậy theo kết quả thì cây bồ đề được trồng vào khoảng năm 1885 – 1915, thời gian này cũng tương ứng với các sự kiện trong lời kể của các nhân chứng là dân bản địa như trình bày trên đây. Đồng thời cũng trùng khớp với các dấu tích còn sót lại của ngôi chùa cổ (thảo am), cũng như một số tư liệu cổ mà chúng tôi có được, trong đó quan trọng nhất là các bản đồ do người Pháp lập trong khi xâm chiếm Bản Đôn năm 1898, trong các bản đồ Buôn Ma Thuột năm 1904 và 1918, có đánh dấu một vài khu vực có tên là Pagode – mà trong tiếng Pháp Pagode là chỉ ngôi chùa tháp


Chúng tôi thấy rằng: Tuy Đạo Phật có tại vùng Buôn Đôn từ rất sớm, nhưng Đạo Phật lúc này vẫn còn rất sơ khai và chỉ tồn tại giới hạn trong một cộng đồng tộc người Lào với niềm tin Phật một cách thuần hậu, tự phát chứ chưa có tổ chức. Phật giáo lúc này cũng chỉ là những tín đồ theo đạo với sự hướng dẫn của các vị Sư sãi trong mỗi buôn làng. Vì thiết chế xã hội của người Lào nói riêng và các tộc người tại chỗ khác ở khu vực Tây Nguyên nói chung lúc này tương đối giống nhau,là mỗi tộc người chỉ sống quần cư biệt lập trong từng buôn làng, mỗi buôn làng như là một xã hội thu nhỏ - chưa có thiết chế xã hội cấp lớn hơn: như xã, huyện, tỉnh. Chỉ đến khi những người Kinh đầu tiên đến cao nguyên này lập nghiệp, trong số họ có nhiều tín đồ Phật giáo và họ đã thành lập nên những tổ chức Phật giáo. Sau đó với sự cho phép và công nhận của nhà nước từng thời kỳ, lần lượt quy mô tổ chức Phật Giáo ngày càng phát triển và có hệ thống như ngày nay. 

Qua nghiên cứu và phân tích các dấu tích liên quan đến Phật giáo, chúng ta thấy đạo Phật là tôn giáo có mặt đầu tiên tại Đắk Lắk. Từ trước thế kỷ XIX, văn hóa Phật giáo đã đến vùng đất này.

Từ những chứng cứ đó chúng tôi có thể khẳng định rằng: Đạo Phật đã có mặt tại vùng đất Cao Nguyên Đắk Lắk từ rất lâu, theo những gì chúng tôi xác định được thì ít nhất là vào những thập niên cuối của thể kỷ XIX, tại khu vực là Bản Đôn trước đây – nay là các buôn Yang Lành, buôn Trí, buôn D’rang Phôk xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Đạo Phật đã có trong cộng đồng tộc người Lào Lùm (Lào vùng thấp), theo hệ phái Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), do các nhà Sư từ vương quốc Lào truyền sang.

Thích Hải Định

VLCĐ: Sự cảm ứng và thành tựu khi chuyên trì niệm Phật: Phật dạy ngài Xá Lợi Phất: “Này Xá Lợi Phất, ý ông thế nào? Sao gọi kinh này là Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm? Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam hay thiện nữ, nghe kinh này rồi mà chịu nhớ lấy, cả những danh hiệu, chư Phật sáu phương nghe rồi nhớ lấy, thì thiện nam ấy, thiện nữ ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm và được tới cõi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề thối chuyển”

(Tựa đề của chúng tôi - Ảnh minh họa trích từ tập ảnh Vương Thu Phương Quy y cửa Phật)

Pháp môn Niệm Phật, câu niệm "Nam mô A Di Đà Phật" hoặc ngắn gọn hơn "A Di Đà Phật" đã hiện hữu với dân tộc Việt Nam hơn ngàn năm nay. Lúc tôi lên tám tuổi (1950), sống ở Hải Phòng, bà nội thường kể cho nghe Hội Chảy chùa Hương lúc bà nội còn trẻ (thập niên 1920 & 1930). Lúc này đường đi còn khó khăn, đường lên chùa núi dốc quanh co.

Thế nhưng các cụ cứ chống gậy trúc mà miệng thì niệm "Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát". Theo lời bà kể lại thì chẳng mấy chốc mà leo tới nơi, chẳng mệt nhọc gì cả. Đoàn người lên núi gặp đoàn người xuống núi, đoàn người đi ra gặp đoàn người đi vào. Khi gặp nhau ai nấy đều cất tiếng chào "A Di Đà Phật!". Câu niệm, câu chào âm vang cả một vùng núi non hùng vĩ, biến cuộc hành hương thành một hành trình vừa linh thiêng vừa nên thơ có lẽ độc đáo nhất trên thế giới. Hình ảnh này đã được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi lại trong bài thơ Chùa Hương:

Mẹ bảo "Đường còn lâu,

Cứ đi ta vừa cầu.

Quan Thế Âm Bồ tát.

Là tha hồ đi mau" .

Trong đoàn người đi như nước chảy đó, giữa khói hương trầm nghi ngút, "Hương như là sao lạc" cô gái 15 tuổi - nhân vật chính của bài thơ Chùa Hương, theo cha mẹ đi trẩy hội, vì còn e thẹn cho nên:

Thẹn thùng em không nói.

Nam mô A Di Đà.

Lúc còn nhỏ thì không để ý. Nay lúc tuổi già, hồi tưởng lại tâm linh dân tộc, suy nghĩ lại câu niệm "Nam mô A Di Đà Phật" hoặc "A Di Đà Phật" của dân mình mới thấy nó có một ý nghĩa linh thiêng và đẹp tuyệt vời. Nó không phải chỉ nằm trong phạm vi tôn giáo mà còn hòa nhập thành truyền thống văn hóa dân tộc. Nó trở thành phong cách sống hài hòa giữa đạo và đời. Khi đi chùa gặp nhau, hoặc trong các lễ hội Phật, chúng ta cất tiếng "A Di Đà Phật!" thì "A Di Đà Phật" trở thành một câu chào hỏi, một lời thân thiện, một lời mừng rỡ rằng ta còn có nhau, một lời chúc tụng, một sự kính trọng, một ước vọng sau này (khi vãng sinh) sẽ lại gặp nhau trên quốc độ thanh tịnh của Phật A Di Đà.

Đó là hình ảnh đẹp ngoài đời. Còn trong gia đình, mỗi tối chúng ta thấy bà nội, bà ngoại, mẹ ta ngồi lâm râm lần chuỗi hạt niệm Phật. Các cụ niệm Phật để làm gì vậy? Đối với chư Tăng Ni, hoặc Phật tử tu tại gia chắc chắn ai cũng đã hiểu rõ mục đích của niệm Phật. Thế nhưng đối với thế hệ trẻ, người khác đạo có thể họ không hiểu ông/bà/cha mẹ hoặc chúng ta niệm Phật để làm gì? Hoặc giả nếu có hiểu thì cũng có thể hiểu sai cho nên chúng ta cần nói ra cho rõ. Chúng ta cần phân biệt đi chùa lễ Phật và niệm Phật là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Đi lễ chùa có khi chỉ là hành vi hoàn toàn tín ngưỡng, nhưng niệm Phật lại là hành vi huân tập, tu dưỡng bản thân. Ngoài ra chúng ta cần phải làm sáng tỏ cái Có và Không có trong niệm Phật để cho thấy đạo Phật không phải là thần giáo, chuyên cầu nguyện van vái để xin xỏ cái này cái kia, rồi trở thành tôi tớ cho thần linh.

Những cái Không có trong niệm Phật

1. Niệm Phật không phải để cầu xin Phật ban cho một điều ước nào đó.

2. Niệm Phật không phải để tăng thêm sức mạnh, thêm can đảm để đối phó với kẻ thù. Cho nên trong Phật giáo trải qua hơn 2.500 năm, không hề có chuyện một đoàn quân lâm trận giương cao biểu tượng hay hình Đức Phật để hăng máu, can đảm xông lên chém giết kẻ thù.

3. Niệm Phật không phải là để van xin Phật ban cho một giải pháp để giải quyết một tình thế khó khăn.

4. Niệm Phật không phải để xin Phật ban bố phép mầu, vặn cổ kẻ thù giúp chúng ta.

5. Niệm Phật không phải là quỵ lụy khóc than, trở nên hèn kém đối với Phật.

6. Niệm Phật không phải xin Phật chỉ lối, đưa đường cho chúng ta buôn may, bán đắt.

7. Niệm Phật không phải để dông dài kể lể, tâm sự chuyện kín, chuyện riêng tư với Phật.

8. Niệm Phật không giống như cầu nguyện, van vái thần linh.

9. Niệm Phật không phải để trở nên đời đời kiếp kiếp làm tôi đòi cho Phật.

10. Niệm Phật nhất thiết không phải để quên đời.

 Những cái Có trong niệm Phật

1. Niệm Phật để tâm hồn thanh thản.

2. Niệm Phật để an trụ tâm. Đang nóng nảy, niệm Phật lòng dịu hẳn xuống. Đang thù hận, niệm Phật hận thù hóa giải. Đang tham lam, niệm Phật bớt tham…

3. Niệm Phật để không cho niệm ác nảy sinh. Nếu niệm ác đã nảy sinh thì không cho nó phát triển.

4. Niệm Phật để giữ gìn thân-khẩu-ý.

5. Niệm Phật là phương thuật giữ gìn Chánh niệm.

6. Niệm Phật tới vô niệm chính là Thiền.

7. Niệm Phật để nuôi dưỡng lòng Từ bi.

8. Niệm Phật để trở thành Phật chứ không phải trở thành nô lệ hay tôi tớ cho Phật.

9. Niệm Phật cũng là phép trị liệu, bảo vệ sức khỏe.

10. Niệm Phật để giải trừ bớt ác nghiệp gây tạo trong quá khứ.

11. Niệm Phật để lúc lâm chung chẳng còn lo sợ, chẳng cần phải nhờ ai cứu rỗi, một mình thẳng tiến lên Cực lạc của Phật A Di Đà.

12. Càng niệm Phật đầu óc càng sáng suốt, lòng dạ thảo ngay, tâm tính hiền từ.

13. Kẻ ác khẩu, nói năng hung dữ chuyên niệm Phật sẽ giải trừ được khẩu nghiệp.

14. Niệm Phật khiến lời nói dịu dàng, khiếm tốn do đó không gây thù chuốc oán, không bị "vạ miệng".

15. Mặt mày hung dữ, niệm Phật trở nên hiền từ, dễ coi. Niệm Phật để chuyển nghiệp.

16. Niệm Phật khiến đi đứng dịu dàng, cử chỉ khoan thai.

17. Niệm Phật có thể ngăn chặn được cám dỗ điên cuồng.

18. Chán nản, thất vọng não nề, cùng đường không lối thoát muốn tự tử chết cho rồi, niệm Phật khiến tâm địa bình ổn từ đó mà tìm ra giải đáp hợp lý.

19. Lâm vào vòng lao lý, tù tội, mỗi tối nên ngồi ở tư thế "bán già", xoay mặt vào tường niệm Phật khoảng nửa tiếng đồng hồ, sẽ thấy tâm hồn thanh thản, thời gian ở tù qua nhanh, không phạm thêm tội lỗi, may mắn ân xá, giảm án sẽ tới. Nhờ niệm Phật mà sau khi ở tù ra lấy lại tự tin để xây dựng cuộc đời mới.

20. Niệm Phật khiến ta bình tĩnh, không lao vào chuyện thị phi, khiến sau này hối không kịp.

21. Niệm Phật có thể trở thành Thánh tăng, đạt tới trạng thái bất động, nhập đại định. Ngọn lửa và trái tim của Bồ tát Thích Quảng Đức là minh chứng hùng hồn nhất. Đó là công năng của niệm Phật chứ Ngài chẳng có phép mầu nhiệm của thần linh nào hết.

Sự cảm ứng và thành tựu khi chuyên trì niệm Phật:

Tại sao niệm Phật lại có oai lực nhiệm mầu như vậy?

Niệm Phật phát xuất từ pháp môn Tịnh độ, theo kinh A Di Đà. Người niệm Phật luôn được chư Phật gia hộ. Chúng ta hãy nghe lời Phật dạy ngài Xá Lợi Phất:

"Này Xá Lợi Phất, ý ông thế nào? Sao gọi kinh này là Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm? Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam hay thiện nữ, nghe kinh này rồi mà chịu nhớ lấy, cả những danh hiệu, chư Phật sáu phương nghe rồi nhớ lấy, thì thiện nam ấy, thiện nữ ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm và được tới cõi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề thối chuyển"(1).

Chính vì thế mà khi chúng ta cất tiếng niệm "Nam mô A Di Đà Phật" hoặc "A Di Đà Phật" thì chư Phật sáu phương cùng hoan hỷ và hết lòng trợ lực. Hơn thế nữa, vì hào quang của A Di Đà Phật chiếu xuyên suốt không chướng ngại, cho nên dù ở đâu, khi chúng ta niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì Ngài cũng sẽ hộ trì cho chúng ta đạt mục đích và không thoái chuyển.

Còn trong pháp hội ở núi Kỳ Xà Quật, ông trưởng giả Diệu Nguyệt từ trong đại chúng đứng lên khẩn thiết thưa thỉnh Phật như sau:

"Như Đức Thế Tôn từng chỉ dạy, đời mạt pháp các chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề cang cường, ngỗ nghịch, tâm tạp, nghiệp nặng, mê đắm ngũ dục, không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết cung kính sư trưởng, không thực lòng quy y Tam bảo, thiếu năng lực thọ trì năm giới cấm, làm đủ mọi chuyện tệ ác, phỉ báng Thánh nhân v.v… Cho nên con suy gẫm như thế này, phải có một môn tu thật đơn giản, thật tiện lợi nhất, dễ dàng nhất để tất cả những chúng sanh kia khỏi đọa vào các đường ác, chấm dứt luân chuyển sanh tử trong ba cõi, được thọ dụng pháp lạc, sớm bước lên địa vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác". Đức Phật đã dạy như sau:

"Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát-na tâm sanh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn pháp niệm Phật. Này Diệu Nguyệt cư sĩ, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, đủ lòng tin, thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được y báo và chánh báo của Phật A Di Đà ở cõi Cưc lạc". Và Đức Phật nhấn mạnh thêm "Đây là môn tu Đại Oai lực, Đại Phước đức"(2).

Ngay các bậc thượng thủ như Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền cũng đều niệm Phật, Thiền sư Bách Trượng (720-814) cũng phải nhận định rằng "Tu hành, dùng pháp môn Niệm Phật là vững vàng nhất"(3).

Những oai lực nhiệm mầu và phước đức của phép niệm Phật nói ở trên thuộc về mặt kinh điển và tín niệm. Còn về phương diện lý giải khoa học thì khi chúng ta chí tâm, chí thành niệm Phật thì chúng ta sẽ phát huy hết năng lực của trí tuệ, tâm đại bi, sự dũng mãnh của chính mình. Đạt tới trạng thái này rồi thì ung dung tự tại, không còn lo sợ gì nữa.

Thực hành niệm Phật

- Buổi tối nên niệm Phật.

- Trước khi đi ngủ nên niệm Phật cho đến khi nào đầu óc thanh thản để từ từ đi vào giấc ngủ.

- Sáng thức dậy nên niệm Phật, dù vài câu, bởi vì sau giấc ngủ dài đầu óc con người thường hôn trầm. Niệm Phật vào đầu sớm mai cũng là dấu hiệu bắt đầu một ngày mới tốt lành.

- Khi nào thấy buồn chán nên niệm Phật.

- Thấy mất tự tin nên niệm Phật.

- Thấy lòng xao xuyến nên niệm Phật.

- Thấy có thể bị cám dỗ nên niệm Phật.

- Thấy thời gian kéo dài, vô vị nên niệm Phật.

- Gặp rắc rối về pháp lý nên niệm Phật để bình tĩnh ứng phó.

- Bị ai chọc giận, công kích nên niệm Phật.

- Tại đám đông tụ họp, ăn uống, vui chơi, thấy người ta nói chuyện "vô duyên", tào lao, nhảm nhí mất thì giờ, nên niệm Phật để không dây dưa vào chuyện vô ích.

- Các em khi vào thi, nên niệm Phật để đầu óc thanh thản, bình tĩnh. Thiếu bình tĩnh, quá lo âu, xao xuyến đưa đến việc không đọc kỹ câu hỏi, đề tài, tính toán sai, lạc đề v.v…

- Đêm khuya thanh vắng một mình trên tàu, xe, trên sông nước nên niệm Phật.

- Khi bệnh tật, đau ốm nằm nhà thương nên niệm Phật để không mất tinh thần, không sợ chết. Càng rên la, càng mất tinh thần, càng chết sớm, càng làm khổ gia đình.

- Nếu niệm Phật kết hợp với theo dõi hơi thở thì công năng rất lớn chẳng khác gì thiền định vậy.

An vui và tự tại: Niệm Phật miễn phí, không phải trả tiền mà cũng không bị đóng thuế, đem lại tốt lành cho đời tại sao chúng ta không thử xem? Xin quý vị mạnh dạn thực hành. Nếu thấy chẳng công hiệu gì cả thì bỏ đi cũng chẳng mất mát gì. Đức Phật cũng chẳng phiền trách hay trừng phạt bạn. Cuối cùng, xin thưa rằng như chúng ta đây - những con người gọi là trần tục, hưởng tất cả những lạc thú của kiếp người mà vẫn cảm thấy lo âu, xao xuyến, bất an và lo sợ ngày mai. Trong khi đó, hàng ngàn Tăng/Ni trên khắp thế giới, sống đời âm thầm, đơn sơ, đạm bạc, không gia đình, không của cải, không danh vọng, không quyền thế, không lạc thú trần gian như chúng ta…thế mà các vị lúc nào tâm hồn cũng thanh thản, cử chỉ dịu dàng, giới hạnh trang nghiêm, miệt mài đi tới mục đích cuối cùng: Giải thoát cho chính mình và cứu độ chúng sinh.

Tại sao những vị này có thể "hy sinh" và sống đời cao thượng đến như thế? Các ngài có gì bí mật chăng? Xin thưa, quý ngài chẳng có gì bí mật nào cả. Các ngài cũng chẳng có phép màu hoặc sự che chở của bất cứ thần linh mầu nhiệm nào cả. Hành trang duy nhất mà các ngài mang theo là giáo lý của Đức Phật và phương tiện tiến tu là thiền định hoặc tụng kinh, niệm Phật.

Để nghiên cứu thấu đáo hơn về pháp môn Niệm Phật, quý bạn có thể tham khảo Tông chỉ pháp môn Tịnh độ của HT.Thích Trí Tịnh soạn, Niệm Phật thập yếu và Kinh Niệm Phật Ba-la-mật do HT.Thích Thiền Tâm dịch, Một đời vãng sanh, chấm dứt luân hồi của HT.Tịnh Không. Kính chúc quý bạn thành công. Thành công ở đây có nghĩa là an vui và tự tại - một giá trị to lớn không gì đối sánh được trên thế gian này.

TG: Đào Văn Bình
Ảnh Minh họa: Tập ảnh Vương Thu Phương Quy y cửa Phật
(1) A Di Đà kinh yếu giải, HT.Tuệ Nhuận (2) Kinh Niệm Phật Ba-la-mật (3) Một đời vãng sanh, chấm dứt luân hồi

VLCĐ: Từng bước chân an lạc, Chùm ảnh về các nhà sư đi khất thực ở Huế: Khất thực là một trong những hình thức sinh hoạt truyền thống của Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam Tông nói riêng. Từ truyền thống khất thực này, những giá trị văn hóa Phật giáo được tiếp tục được giữ gìn và là nét đẹp của Phật giáo Nam Tông.

Đây là một hình thức sinh hoạt truyền thống của Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam Tông nói riêng, góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của Phật giáo. Như thường lệ, đúng vào ngày Chủ nhật hàng tuần, chư tôn đức Phật giáo Nam Tông tỉnh Thừa Thiên Huế đều có pháp khất thực trên những con đường êm ả của xứ Huế thơ mộng. Những bước chân nhẹ nhàng, thong thả với chánh niệm, pháp khất thực đã thể hiện nét đẹp văn hóa của Phật giáo xứ Huế và dần trở thành thân thuộc với người dân.

Ngày 14/9/2014, chư Tăng khất thực tại đây với điểm xuất phát ban đầu là đường Đặng Thái Thân, theo hướng về cửa Đông Ba, đường Đoàn Thị Điểm, đường Nhật Lệ và điểm dừng cuối cùng là ngã ba Nhật Lệ - Xuân 68. Thực hiện pháp khất thực lần này gồm 15 sư với sự dẫn đầu của sư Giới Đức – trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng tại Huế làm Trưởng đoàn. Quý Phật tử khi thấy đoàn hành khất đi qua thì tận tay cúng dường những thực phẩm cho các chư tôn đức như các loại bánh, sữa, trái cây, thức uống... những đồ dùng cần thiết cho đời sống tu tập của các sư.

Sư Giới Đức - trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng dẫn đầu đoàn đi thực hiện pháp khất thực


Đoàn khất thực gồm 15 nhà sư của phái Nam Tông liên tục đi dọc theo các con phố tại Huế

Phật Tử cúng dường ven đường tới đoàn sư khất thực






Những bước chân thiền trên đường phố Huế 


Pháp khất thực trong Phật giáo là một hình thức gieo duyên, tạo điều kiện cho Phật tử tại gia có cơ hội tạo phước, được kết duyên với giáo lý Phật đà.




Đối với người dân Huế, truyền thống khất thực giúp lưu lại những nét đẹp và giá trị văn hóa Phật giáo Nam Tông trong lòng người dân nơi đây.
CTV Hoàng Hải


Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.